III- BUỔI RA ĐI



Ba ngày cuối trước buổi ra đi, tôi không thấy mặt trời. Tôi chạy từ hãng hàng không sang Intershop (để mua hàng. Đây là một câu chuyện khá buồn cười: nhà nước ban cho người sǎ́p ra nước ngoài một ân huệ kỳ cục là được mua hàng ngoại nhập tại cửa hàng dành riêng cho khách ngoại quốc và trả bǎ̀ng đô-la! Nếu cứ ngang ngay sổ thǎ̉ng mà nói thì việc đó không thể nào thực hiện được. Luật nước cấm việc lưu hành ngoại tệ thế đô-la Mỹ từ đâu thòi ra vậy? Riêng chúng tôi, còn một điều nan giải khác nữa: tiền Việt không có thì lấy đâu mà đổi ra tiềền Mỹ? Nói đùa đấy vì thực ra chúng tôi không cần phải có tiền -và cũng không cần phải mua hàng: chở củi về rừng để làm gì. Ngay trước cửa Intershop có vô số quý vị xem ra như có vẻ vô công rồi nghề, họ tà tà hút thuốc đấu láo nhàn nhã nhưng hể có ai đi về phía cửa hàng -mà bạn ạ, họ tinh lǎ́m, họ biết trúng phóc bạn là ai và sǎ́p làm gì- là họ ùa tới vồn vã rút nǎ́m đô-la dúi vào tay bạn cứ như đàn anh hào hoa phong nhã phát tiền cho thǎ̀ng đàn em đi du hí. Kết quả là bạn hành động như tên mộng du, bạn tiến vào nhà hàng, bạn chọn những thức mà đàn anh dặn dò, bạn chất ầy xǎ́c, bạn đến quầy hàng trả tiền và bước ra cửa trao cả cho đàn anh; đàn anh kiểm soát hàng, nhẩm tính giá cả rồi dúi vào tay bạn lần nữa một nǎ́m tiền thưởng nhưng lần này là tiền Việt. Khỏe re không? Ngon ơ không? Bạn đã cảm thấy cái ưu-quyền-không-làm-người-dân-Việt chưa?) từ Phan đình Phùng lên Tân sơn nhất để cân và gửi hành lý (mấy bộ quần áo rách) rồi về Ngân Hàng (để đǎng ký...hai chiếc nhẫn cưới mà chúng tôi đã mang trên ngón tay áp út từ ngày lấy nhau). Không phải chỉ đến những nơi ấy có một lần mà đi đi lại lại nhiều lần nên ba ngày trôi mÃấ, mệt nhoài, khi về nhà mặt mày còn ngẩn ngơ không hiểu chuyện gì đã xảy ra, chuyện thật hay chuyện đùa. Tôi không cần béo vào thịt mình một phát bởi hôm nhận được giấy gọi của phòng Công Tác về Người Nước Ngoài, nhà tôi còn lê lết ngoài chợ, phải sai đứa cháu ra gọi về rồi lập tức xếp dọn hành trang bồng bế nhau kiếm xe đò đi ngay; khi lên được xe không có chỗ ngồi, lầy quầy chưa kịp yên chỗ anh phụ xe đã vội đóng ập cửa đóng luôn cả ngón tay tôi vào khiến nó sưng vù, tôi còn mang theo bên cạnh đây như một bǎ̀ng chứng hiển nhiên.

Sáng hôm ấy có ba chuyến bay: một chuyến đi Vienne do Cao ủy LHQ về người tị nạn bảo trợ, một chuyến cho các Hoa kiều đi Đài Loan, và chuyến chúng tôi đi Pháp. 16g30 chiếc Boeing 747 của Air France cất cánh. Nhất định phải có những tiếng thở phào (của chính tôi chǎng?). Một giờ sau, một khoảnh khǎ́c thời gian yên lặng lǎ́ng nghe (tôi, và những kẻ cùng hoàn cảnh ; mấy hôm nay chúng tôi đã hành động như trong cơn mê, không còn biết thế nào là phải trái nữa. Nếu bạn từng nhảy dù bạn sẽ hiểu tâm trạng chúng tôi: bạn xếp hàng, bạn di chuyển dần đến cửa, có do dự bạn cũng chǎ̉ng khựng lại được dù ngoài kia gió phần phật, đàng sau bạn mọi người theo nhịp dồn tới buộc bạn phải nhǎ́m mǎ́t nhảy vào khoảng không trước mặt), máy bay đến Bangkok. Khi cánh phi cơ nghiêng vòng trên bầu trời thủ đô Thái Lan, tôi nhìn thấy những đám ruộng thǎ̉ng hàng và những mái tranh bé tí; có kẻ đùa: Tới Thủ đức rồi! Lời đùa cố ý làm vui nhưng không vui mà chỉ để thoát đi một bức rức như tiếng thở phào trước đó. Vì sao? Cái quyết định không đòi những tính toán, cái chọn lựa có vẻ như tất nhiên và những cố gǎ́ng những kiên trì rất dài hơi lại dẫn đến tâm trạng hoang mang chần chờ này khi mục tiêu đã đạt tới? Bây giờ thì còn nói gì nữa: dây cung đã buông, viên đạn đã vọt khỏi nòng nòng, thuyền đã đốt sau khi sang sông. Cánh cửa sau lưng đã đóng chặt, bây giờ chỉ còn biết đi tới; nhưng tại sao lại dùng dǎ̀ng muốn ngoái lại đàng sau? Không phải là thứ dùng dǎ̀ng e dè thường tình của đứa trẻ quê lần đầu xa bờ tre. Tôi đang bị đẩy vào thế phải quyết định, phải chọn lựa chứ trong tôi, tôi luôn luôn tha thiết muốn ở lại chốn kia. Tôi không nuôi hình ảnh của phố phường xa lạ quyến rủ (nơi tôi sǎ́p đến) trong trí tưởng; tôi cũng không có những củ khoai lùi ǎn vội giờ bổng thấy ngọt ngào qua kỷ niệm sǎ́p vuột mất (nơi tôi đang rời xa). Không, tôi là một kẻ trưởng thành, đã bình tĩnh sǎ́p mọi dữ kiện lên trang giấy của trí óc để làm con tính cân nhǎ́c như tay chơi sành sõi nặn những con bài trong tay sǎ̃n sàng ném lên mặt chiếu: tôi biết tôi được gì và mất gì. Tôi được chút tự do của cá nhân tôi, nhưng tôi sẽ mất tôi (như thành phần nhỏ của một toàn thể Việt-Nam), tôi đánh mất tôi rồi. Vậy chút tự do (như mồi lửa) sẽ cháy lên ở đâu khi tất cả tôi (là thanh củi nhạy cháy) không còn nữa? Tôi đã chọn lựa sai!

Máy bay hạ cánh. Qua cửa kính thấp thoáng những chiếc C-130 và vài loại phi cơ quân sự khác quen mặt của Sài Gòn trước 75. Chặng dừng đầu tiên kéo dài hai tiếng đồng hồ nhưng chúng tôi không được bước xuống phi trường mà chỉ quanh quẩn trong lòng phi cơ nhìn mấy lao công của hãng máy bay làm vệ sinh. Khoảng hơn 7 giờ đêm máy bay bay về hướng New Delhi. Cô tiếp viên loan báo buổi ǎn tối đang được sǎ́p sửa và chương trình giải trí. Trước mặt là tập báo: những Paris Match, những Jours de France. Hơn nǎm nǎm qua, những Johnny Halliday, những Cathérine Deneuve vẫn còn chiếm trang đầu. Anh chàng Sacha Distel mặt xếp li vì tuổi tác vẫn đứng trước micro với một đám con gái vòng quanh. Và gì nữa? Hội nghị các nhà lãnh đạo khối Varsovie ở đảo San Giorgio, gặp gỡ của mấy tay trùm Tây phương ở Venise có chèo thuyền leo núi... Bữa ǎn tối dọn rồi đúng với thực đơn in trên thiệp. Dân Mít không quen ǎn cơm tây bỏ lại quá nhiều. Đến New Delhi trời tối om nên không nhìn thấy gì ngoài mấy ông khách Ấn độ lên phi cơ, quần áo bảnh bao nhưng không quên quấn vành khǎn sù sụ trên đầu. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, máy bay cất cánh hướng về Dubaï, thành phố dầu lửa Trung đông. Ngoài cơ ngơi phi trường kiến trúc ngộ nghỉnh như một đền thờ Hồi giáo, chúng tôi chǎ̉ng nhìn thấy gì hơn. Máy bay cất cánh bày qua cửa sổ những dãy đèn màu rực rỡ và những giòng sữa néon phung phí, tôi chạnh nhớ đến quê hương thiếu hơi điện tội nghiệp và thân yêu của mình. Rời Dubaï, chúng tôi bay chặn chót dài hơi, lướt qua Istanbul, Belgrade (và gì gì nữa, cô tiếp viên nói một thôi một hồi, tôi nghe xong đã quên mất) để về Trung Âu. Cô tiếp viên loan báo buổi ǎn tối sǎ́p sửa và chương trình giải trí gồm nhạc và phim. Người ta chiếu một cuốn phim xã hội mô tả đời sống lớp thanh niên thành phố phóng đãng, bất mãn và tuyệt vọng. Được báo là sẽ đến phi trường Charles de Gaulle lúc 6g45 sáng, trước khi rời phi cơ còn được đãi một buổì điểm tâm nữa đã.

Charles de Gaulle bề thế như bất cứ một phi trường quốc tế nào mà đa số dân nghèo vẫn thấy trong ...ciné. Mặc dù được loan báo nhiệt độ bên ngoài là 15 độ chúng tôi vẫn thấy ấm áp dù mọi người đều phong phanh với những bộ áo quần miền nhiệt đới, nhờ cầu thang xuống phi cơ được che kín. Đồng hồ ở phi trường chỉ sáu giờ ba mươi phút, tôi tự hỏi có phải giờ này bà con mình ở nhà đang ngã lưng mấy phút buổi trưa. Ôi cái tiếng "bà con" giờ này nghe ra trìu mến, ý nghĩa quá chừng. Ngồi chờ người đại diện trung tâm tiếp cư đến đón và sǎ́p xếp việc khám xét hành lý với mấy ông tây đoan lâu lǎ́m, phải đến quá mười một giờ mới xong. Mấy đứa trẻ con thấy quang cảnh sạch sẽ đẹp đẽ bèn tung tǎng chạy nhảy khǎ́p chốn khiến cô đại diện Trung tâm Tiếp cư gǎ́t các cháu quá chừng. Cô sợ "Tây nó khinh". Phải chứ, sự gǎ́t gao của cô chǎ̉ng qua cũng chỉ vì thiết tha quá đối với những gì còn lại từ chốn xa xôi ấy sau nǎm sáu nǎm rơi rớt phôi phai. Cảm ơn cô. Cảm ơn chút Việt-Nam còn lại nơi cô. Cảm ơn chút Việt-Nam còn lại nơi mỗi chúng ta (Ô hay, mới đó mà chính tôi cũng đã đánh mất ít nhiều ư?). Cũng lạ, ở Tân sơn nhất công việc phục vụ có lâu thì cũng chỉ bǎ̀ng chừng ấy thì giờ mà mọi người chép miệng bực bội, đôi khi còn dám tỏ ra công phẫn nữa, còn ở đây ai nấy ngoan ngoãn ngồi yên. Hóa ra con cái bao giờ cũng tệ bạc với bố mẹ cả mà!

Có một sự việc nhỏ đáng ghi: phút đầu đặt chân xuống đất người chúng tôi đã gặp ngay những đồng bào mình (nói gặp thì không đúng; chỉ nhìn thấy thôi) và nhận ngay những gáo nước lạnh tạt vào mặt trên phi trường phần phật gió: thấy chúng tôi xếp hàng lếch thếch tiến ra hành lang (có người xuýt ngã xoài trên thang cuốn vì chưa lần nào được bước lên đó) trên hai mươi mạng vừa lớn vừa bé vừa bầu vừa bì áo quần cũ kỹ lôi thôi, mặt mày hốc hác dại khờ, cử chỉ vụng về lúng túng, họ bảo nhau: "Đi đâu mà kéo nhau hàng đàn hàng lũ thế kia?" , mà thật vậy chúng tôi đi đâu hàng đàn hàng lũ thế này để làm mất mặt họ, những ông Tây da vàng ấy? Giá lúc ấy có tiếng loa gọi rǎ̀ng những tên Việt-Nam vừa ra khỏi phi trường kia có đứa nào đổi ý muốn quay lại Việt-Nam không thì tôi sẽ là kẻ đầu tiên đâm bổ đến đưa cả hai tay lên van vỉ rǎ̀ng "có tôi " .

Khoảng mười hai giờ trưa sau khi chạy qua rất nhiều đường phố mà ông tài xế phú lang sa cứ phải luôn miệng hỏi cô đại diện mít, chiếc xe ca ngừng lại trước gian chung cư có khung cửa hẹp, trạm tiếp cư đầu đời của chúng tôi trên xứ người. Gồm nhiều cao ốc, cái nọ cách cái kia khoảng mười lǎm hai chục thước, trung tâm chứa số người gọi là "hồi hương" gồm người Việt và nhiều sǎ́c dân Á Phi khác. Phòng ǎn tổ chức theo lối tự phục vụ. Ngạc nhiên nhận thấy có khá nhiều người già cả, sau chúng tôi rõ là chung cư kế bên là viện dưỡng lão, những cụ già Việt-Nam xa quê hương xứ sở giờ lại xa cả con cháu dù chúng chỉ quanh quẩn đâu đây.

Vì chỉ là nơi tạm cư nên mỗi gia đình chỉ chiếm một phòng, rộng hẹp tùy số giường. Nhiều gia đình dùng chung nhau một phòng tǎ́m và nhà vệ sinh. Chúng tôi được phát phiếu cho mỗi bữa ǎn hàng ngày và lãnh mấy trǎm quan tiền tiêu vặt. Phòng chúng tôi có ...7 chiếc giường. Anh chàng đưa chúng tôi lên phòng thò tay bật đèn thì nhận ra đèn không sáng, tôi ra rửa tay thấy nước đọng nửa bồn không chảy, vào bồn tǎ́m toan mở cho đầy lại nhận ra là không có nút chặn nước (có lẽ để ngǎn chận việc sử dụng bồn ngâm mình sợ tốn nước chǎng?). Cái bê bối này có khác chi cái bê bối ở xứ mình đâu, tại sao không ai nói tới? Như vậy là bất công bởi họ giàu có mà mình thì nghèo hèn; rốt lại những thiếu sót ở xứ mình, nghĩ cho cùng cũng đáng được tha thứ.

Cǎn phòng có cửa kính và màn che bǎ̀ng vải dày; ngoài bao lơn có thêm một lớp sáo. Trời bổng nǎ́ng rực rỡ trong giây lát. Tôi quay bức sáo lên nhìn xuống đường. Vùng Sarcelles này cách Paris không xa, nhưng yên tĩnh lạ lùng, yên hơn Thủ đức hoặc Gò vấp. Tôi nhìn sang bên kia đường, có mấy đứa trẻ đang chuyền bóng, tiếng reo cười của chúng vang lại khiến tôi chợt nhận ra rǎ̀ng tôi không còn sống trên đất nước mình nữa; tôi đã ở trên xứ người, bước chân tôi đặt trên một miền đất hoàn toàn xa lạ, tôi bàng hoàng tự nhủ như vậy mà vẫn không tin nổi đó là sự thật.

Không chǎ́c ngày mai đời sống có tốt đẹp không, tuy nhiên chỉ một đổi thay to lớn này đã là một diệu kỳ. Tôi không tin chỉ có ý muốn của mình (nhất là của nhà tôi, vì tôi là đứa dễ nản lòng và ưa đặt lại vấn đề, trong bốn nǎm dài vừa qua biết bao nhiêu lần tôi muốn bỏ cuộc) đủ làm nên tất cả. Phải có một sức mạnh nào, một can thiệp nào khác hơn...


... CÒN TIẾP ...











© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải trên Newvietart.com theo nguyên bản của tác giả gởi từ miền Nam Pháp ngày 15.06.2009.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.