II- ĐẤT HỨA



Nhà tôi là một sản phẩm... bán ngoại hóa. Đời sống chúng ta nhiều khi được tạo bởi những tình cờ: khi gặp nàng và yêu nàng, tôi không hề để ý gì đến tính chất "bán ngoại hóa" ấy cả. Chúng tôi đã trải qua bảy tám nǎm đời sống lứa đôi và gần như quên bǎ̉ng nét đặc biệt ấy. Lúc ấu thơ, nàng đã từng là cái bia cho người chọc ghẹo dèm xiểm; bọn trẻ con chạy theo nàng trên đường đến trường, giật tóc, ném đá, gọi nàng là... Tây lai mười hai lỗ đít (!) ; sau này, khi đã trưởng thành, nàng không còn bị trêu ghẹo như thuở xưa nữa. Nhờ được giáo dục, nhờ ở sự hiểu biết, chúng ta không bày tỏ thái độ một cách lộ liễu mặc dù trong thâm tâm ta vẫn khó chấp nhận sự khác biệt. Nhưng trên quả đất càng lúc càng chật chội này, việc chấp nhận sự có mặt của kẻ bên cạnh đã trở thành điều kiện thiết yếu cho chính sự sống còn của bản thân ta. Sống là tranh đấu nhưng tranh đấu không có nghĩa nhất định là phải có thái độ hận thù tranh cướp đàn áp mà còn có nghĩa là chinh phục trong hòa đồng. Cái nhìn độ lượng là chìa khóa của hòa đồng, không biết đến bao giờ chúng ta mới học được bài học đó.
Dù sao hạt cát nhỏ nǎ̀m mãi trong chiếc giày của nhà tôi, mỗi bước đi vẫn nhǎ́c cho nàng sự khó chịu ấy. Khi ta không có cơ hội cởi chiếc giày ta gǎ́ng chịu đựng nổi đau của bàn chân xây xát, nhưng khi cơ hội ló mặt tại sao lại chối từ?

Từ nǎm nǎm qua, gia đình chúng tôi kéo nhau vào một làng quê sinh sống, một bên là núi cao một bên là bãi bể, thật lý tưởng cho cuộc sống xuất thế. Nhưng ở cuối thế kỷ hai mươi loài người không cho phép đồng loại chúng khước từ dễ dàng tập thể một cách vô kỹ luật như vậy. Trong bất cứ một cộng đồng nào, ngoài đại đa số tuân phục vẫn còn một số ít bị đẩy ra ngoài rìa bởi nhiều nguyên do nhưng nguyên do chính thường là thái độ không hoàn toàn chịu chấp nhận quy luật của đám đông. Để trừng trị thái độ cứng đầu này, những kẻ chǎn dǎ́t sẽ không áp dụng phương pháp Khổng Khâu, Mạnh Tử mà có xu thế chọn Machiavel làm quân sư; cộng với những áp dụng của những phát kiến khoa học mới, người ta sẽ biến đám đông thành đàn cừu Panurge một cách dễ dàng. Thành thử, trong ý muốn tách lìa đám đông, chúng tôi vẫn cứ phải hành động như những con cừu không tên trong bầy. Cho đến ngày...

Cho đến ngày nàng từ Sài gòn trở về sau một chuyến buôn..hàng lậu (công việc tảng gia sän xuất bǎ̀ng đường lối trồng trọt hoa mầu không giúp thoát nạn đói nên chúng tôi phải tìm con đường sống bất hợp pháp) với nét tươi tỉnh khác thường, không vì kết quả tốt của việc buôn bán nhưng nhờ một nguồn tin mới lạ. Tôi đang nǎ̀m đong đưa trên võng, nàng cưỡi ngang trên thân xác, giọng hồ hỡi: "Chính quyền Pháp cho hồi hương công dân của họ". Chuyện chǎ̉ng có gì đáng ngạc nhiên. Khi không khí chính trị có điều bất ổn nhiệm vụ của nhà ngoại giao tùng sự tại nước ngoài là có trọng trách đảm bảo an ninh tài sản cùng tính mệnh cho nhóm kiều dân của họ; việc cho hồi hương là biện pháp cuối cùng trong trường hợp tình thế không hứa hẹn một giải pháp thỏa đáng nào khác hơn; nhưng việc đó chǎ̉ng dính dáng gì đến chúng tôi, nhất là đối với những lo âu thấp bé và gần gũi trong lúc này, -làm sao để có nồi cơm đầy không trộn sǎ́n cho ba đứa trẻ chǎ̉ng hạn- chứ vấn đề chính trị xa vời kia thì có đáng để tâm chǎng? Hǎ̉n là nhà tôi sǎ́p phát cáu với lối suy nghĩ tầm thường, thiển cận của tôi, nàng cãi: " Nhưng trên nguyên tǎ́c em phải được coi là công dân Pháp... " Tất nhiên tôi phải có thái độ dè dặt hơn trong cuộc tranh luận này vì nghe ra như đàng sau những lời nàng có bóng dáng một thực tế nào đang thành hình từ một Sài gòn giờ đã trở thành xa xôi và lạ mặt đối với tôi. "Chỉ cần chứng minh rǎ̀ng em có liên hệ máu mủ với ...ba em". A, thực tế thì ràng ràng ra đó nhưng chứng minh qua thủ tục hành chánh thì là một đìều khác. Hơn nữa, ngay khi ta thành công trong sự minh chứng đó thì có chǎ́c con đường nối tiếp sẽ được mở ra không? Cái quan trọng là phải có thông lộ và nhất là hợp pháp. Tôi dò dẫm: "Hãng thông tấn nào tung tin?" Nàng phát cáu thực sự: "Chǎ̉ng có hãng nào tung tin cả nhưng mọi người chen lấn nhau trước tòa đại sứ đường Hai Bà Trưng chờ nộp đơn đó. Em cũng có mặt nhưng là để nghe ngóng. (nàng dịu giọng) Bây giờ thì chǎ́c chǎ́n rồi: phải làm những thủ tục như sau..."

Ông bác sĩ Trương Ngọc Hơn ở đường Cống Quỳnh thảo mấy chữ trên trang giấy (bǎ̀ng Pháp ngữ) có đóng triện chứng minh rǎ̀ng đương sự mang giòng máu pha, hình thành bởi đường nét của khuôn mặt, dáng mũi, màu tóc và màu mǎ́t nâu... En foi de quoi, ce certificat lui est délivré pour servir et valoir ce que de droit! Tờ giấy gọi là chứng từ y khoa chỉ gói gǎ́m đơn giản có chừng đó, nó chǎ̉ng mang tính chất khoa học nào cả nhưng nhà tôi quí lǎ́m, nàng giữ khư khư trong hồ sơ như một trong những bǎ̀ng chứng mở cho nàng cánh cửa về miền đất hứa. Bǎ́t đầu từ phút ấy nhà tôi...xa tôi. Nàng gia nhập vào cộng đồng mǎ́t xanh, mǎ́t vàng, mǎ́t nâu xếp hàng trước cǎn biệt thự đường Hai Bà Trưng. Đột nhiên, một phần nhân loại có chút liên hệ về dáng hình ấy bổng trở nên gần gũi- đoàn kết- tương trợ- thân thương nhau và quy luật có tính chất tâm lý được nghiệm đúng: càng gần kẻ này, ta càng xa kẻ kia! Tôi với màu da vàng xỉn, với mái tóc đen dày, không có chỗ đứng ở đấy. Tôi đơn lẻ, ngoài lề, thụ động. Và trở thành một phần trong cái đuôi (hai đứa trẻ là thành phần chưa trọn của cái đuôi) với nàng là đầu tàu, bị kéo đi xềnh xệch qua không biết bao nhiêu cửa quan, cùng rất nhiều ngày tháng. Phải nhấn mạnh một điều: chúng tôi đã tự ý rời xa thành phố nên bây giờ vì những thủ tục về giấy tờ lôi thôi chỉcó thể thực hiện ở thành phố, chúng tôi phải liên tục tổ chức những chuyến đi thật nhiêu khê, nhiêu khê vì nhiều lẽ: tiền bạc, nơi ǎn chốn ở, phương tiện chuyển dịch. Hai đứa trẻ, đứa lớn có thể nhờ bà ngoại chǎm lo, còn đứa bé thì phải lếch thếch mang theo, đầu đường xó chợ. Không phải tôi dùng thành ngữ đầu đường xó chợ theo thói quen mà thực sự như vậy. Cái hôm đến chầu chực ở phòng mạch ông bác sĩ Hơn, khi nhận được giấy tờ xong là đã xâm xẩm tối; trong thời gian chờ chuyến tàu đêm trở về, nhà tôi mang con bé ra chợ Thái Bình, lợi dụng chỗ nước máy gần hàng cá, bóc trần nó ra đấy mà tǎ́m giặt. Xong xuôi mới kéo nhau về nhà ga. Ga Sài Gòn lúc ấy vẫn còn nǎ̀m cạnh chợ Bến Thành, đã trở nên nhỏ bé chật chội vì tàu hỏa là phương tiện chuyên chở chính cho kẻ nghèo; đi xe đò nhanh hơn nhưng đǎ́t lǎ́m. Người chờ tàu nǎ̀m la liệt chen không lọt chân thế mà chúng tôi lại may mǎ́n tìm ra một chỗ trống. Không đủ thông minh đặt câu hỏi rǎ̀ng tại sao người ta tự dưng nhường chỗ cho mình một cách đẹp đẽ cao thượng ưu ái làm vậy, chúng tôi ung dung hạ gói hành trang, thấy có tờ báo lại cho là may mǎ́n có thể dùng nó để lót, nào ngờ lúc nhặt lên mới vỡ lẽ rǎ̀ng dưới trang báo là một kho tàng chôn dấu: chǎ́c chǎ́n là giai phẩm của một hành khách gặp lúc trái gió trở trời, trong phút ngặt nghèo đã không tự chủ nổi đành phóng đại ra đấy giữa chốn ba quân! Một điểm đặc biệt nữa là tàu không chạy theo giờ nhất định mà theo cơn hứng. Đáng lẽ giờ khởi hành là tám giờ tối, tàu chúng tôi hôm ấy phải đến nửa đêm mới chịu mở máy. Thời gian chờ đồi dài lâu, ngồi mãi không thấu, ai nấy dần dần nghiêng ngã. Lạ thay, không gian có hạn, thế mà kẻ này lấn một tị, kẻ kia lùi một tị, rồi đâu cũng vào đấy, tay chân mình mẩy chúng ta vẫn cứ có chỗ sǎ́p xếp yên ổn. Riêng tôi, bị đẩy dần vào gần nơi có tờ báo, định bụng là không chịu lùi thêm bước nào nữa, nhưng sau vẫn thiếp đi vì mệt mỏi; khi còi tàu thét lên báo hiệu giờ chuyển bánh, giật mình nhỏm dậy, mới hay rǎ̀ng mình đã ...gối đầu êm ái lên trang báo tự bao giờ!
Hướng về viễn tượng của chuyến đi dài, chúng tôi đã phải thực hiện bao nhiêu là chuyến đi ngǎ́n như vậy; nhiều khi chỉ vì những lý do nhỏ bé: thiếu một tấm ảnh, một giòng thị thực của nhà chức trách địa phương, để phải vượt tám trǎm cây số đường đất bǎ̀ng tốc độ hỏa xa bốn mươi cây số mỗi giờ, bất kể ngày hay đêm, lúc đến nơi nếu không nhǎ̀m giờ hành chánh thì đành chờ đợi. Gặp trường hợp phải qua đêm thì nhà ga Sài Gòn còn đấy chỉ cần gia nhập vào đám hành khách, ngủ gà ngủ gật để chờ đêm qua ngày rạng.Tập hồ sơ trên tay càng lúc càng dày thêm, có khi vì cần minh chứng một điều gì đó đã phải cạy cục khó khǎn mà rốt cuộc chǎ̉ng để làm gì cả, tờ giấy đến tay kẻ có trách nhiệm bị vất ngay vào sọt rác bởi thủ tục không được xác định rõ ràng. Con đường đi thật dài và thật mù mờ nên khi đến trạm chót, kẻ lữ hành không cảm thấy nhẹ thở mà chỉ đối mặt với ngỡ ngàng: bạn cǎ́m cúi bước, đàng trước là sương mù, dưới chân trơn trợt, vượt được chặn nào hay chặn ấy, rồi một hôm đầu va vào vào cánh cửa, bạn ngẩng lên: "Ơ hơ, ta đến rồi ư?"

Đối với đám nhân loại xếp hàng ngày ngày trước sân tòa lãnh sự Pháp (sau ngày 30 tháng tư, tòa đại sứ ở Sài Gòn bị xuống cấp nhường vai trò lớn cho Hà Nội) việc vượt qua cửa cổng canh giữ bởi hai lớp an ninh -công an nhân dân của nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân viên lãnh sự quán- được coi như có giá trị ngang với lúc trèo lên máy bay "hồi hương". (Nhà tôi hồi hương vì là công dân Pháp; chúng tôi -tôi và mấy đứa trẻ- tháp tùng nàng vì lý do nhân đạo, bởi người ta không thể tách chia những thành viên của cùng một gia đình). Điều đó tôi nhận ra qua cái nhìn thèm muốn của những kẻ còn đứng bên ngoài khi thấy chúng tôi được gọi tên vào trình diện bên trong. Nhân viên tiếp chúng tôi sau khi xét qua loa tập hồ sơ, cho chúng tôi cái hẹn cứu xét từ hai đến ba tháng. Nếu cho rǎ̀ng giai đoạn này là một dấu mốc quan trọng thì chúng tôi đã tiêu tốn đi bốn nǎm và ba tháng trong đời để đạt tới. Vấn đề được đặt ra vào lúc này là một địa chÌ nhất định để dễ liên lạc với tòa lãnh sự. Từ lâu nay mối liên hệ chỉ có một chiều: từ chúng tôi đến các cơ quan công quyền; bǎ́t đầu từ giờ này mới có mối liên hệ song phương. Chúng tôi quyết định nhỗ neo, trở về thành phố nhưng Sài Gòn bị loại bỏ khỏi danh sách vì ngay chính dân Sài Gòn cũng đang lo phải đi kinh tế mới; vả lại việc tìm cái ǎn cùng việc định cư hợp pháp để có hộ khẩu là hai vấn đề quan yếu nên chúng tôi đành quay về với đại gia đình gốc. Người mình thường có thành kiến với các cô gái lai nhưng nhà tôi là một kẻ rất đảm đang. Không chịu nuôi sống bǎ̀ng viễn tượng sǎ́p sửa đi Tây, hàng ngày nàng cặm cụi nh̀ồi bột mì bǎ́t bánh nướng lên mang ra chợ bán để nuôi sống gia đình. Cùng một lúc với sự chờ đợi đi Tây, chúng tôi cũng chờ đợi một đứa trẻ sǎ́p chào đời. Ba đứa trẻ tuy không cách nhau nhiều về tuổi tác, đã là chứng nhân của từng giai đoạn sống với rất nhiều đổi thay lịch sử và những đổi thay ấy có ảnh hưởng khá lớn ít ra là về mặt vật chất. Thǎ̀ng con trai đầu của chúng tôi không bú mẹ vì mẹ bận đi làm, chúng tôi cho nó bú Guigoz (tôi chǎ́c trong ký ức của mọi chúng ta đều ghi nhận hình ảnh những lon nhôm với mấy nếp nhǎn giữa thân hình lǎng trụ vứt ngổn ngang ở những sọt rác thời ấy) nhưng cứ sau mỗi bận uống xong nó vãi ra đầy khǎn đầy tả nên chúng tôi phải thỉnh ý thày thuốc; ông bác sĩ của chúng tôi đề nghị cho nó thử Pélargon , nó chịu quá, bài tiết đều đặn trơn tru và lớn lên như thổi. Chúng tôi mua cho nó từng két lớn, phòng khi khan hiếm bất thình lình vì cuộc chiến đang hồi sôi động. Ngày đứa con gái thứ hai ra mǎ́t, chúng tôi vụt trở thành nông dân, cuốc đất trồng khoai sǎ́n, nhưng vẫn còn đủ hai bữa. Đứa con thứ ba sǎ́p ra đời sẽ là đứa chịu đựng trong đợi chờ, tùy thuộc vào khoảng thời gian dài hay ngǎ́n trước chuyến đi. Người đàn bà mang thai cần một dung lượng thực phẩm đủ để nuôi thai nhi và nuôi chính bản thân nàng, nhà tôi vì vậy đói liên hồi, đói muôn lúc. Và càng không đủ ǎn, nàng càng đói thêm, cái đói tâm lý. Nhưng nói như vậy hóa ra rǎ̀ng chúng tôi mong đi Tây vì sợ đói hoặc vì đang đói? Không, hoàn toàn không phải như vậy. Quả thực là trong lịch sử có những cuộc di cư vì đói, chǎ̉ng hạn nạn đói xảy ra trong nǎm 1945, khi hàng vạn đồng bào từ ngoài mạn bǎ́c xuôi nam tìm đường sống, nạn đói khống chế cả một vùng rộng lớn vì hạn hán, vì mất mùa, vì nhà cầm quyền Nhật bǎ́t dân phá hoa màu để trồng đay và mặt khác chúng thu tóm hết lúa gạo... Hoàn cảnh của chúng tôi lúc này khác hǎ̉n: khó khǎn trong sinh kế bǎ́t nguồn từ những lý do có tính chất chính trị và xã hội (chỉ vì chúng tôi không biết thích nghi với những đổi thay!) hơn là vì lý do kinh tế. Vả lại, người ta không cần phải vượt mười nghìn dặm đất để tìm cái ǎn, chứng cớ là ông cán bộ bên hàng xóm không hề đói, ngược lại nữa là khác. Hơn nữa, tiêm nhiễm rất nhiều lối giáo dục của vǎn hóa Á đông, chúng tôi không cho rǎ̀ng sự thiếu thốn vật chất là quan trọng, vậy tại sao phải ra đi? Có lẽ tôi không trả lời tức khǎ́c câu hỏi vừa tự đặt ra nhưng lời giải đáp sẽ được trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau trải dài trong nhiều trang sách, trong từng ý nghĩ, trong mọi hành động hướng về mai sau, một mai sau cho các con chúng tôi chứ không phải cho chính mình.

Ngày còn ngồi ở ghế trung học, tôi ôm cuốn Thi nhân hiện đại của hai ông Hoài Thanh và Hoài Chân như cuốn sách gối đầu giường. Trong bài giới thiệu về một nhà thơ nào đó, các ông ấy viết như sau: "Ngày xưa trời đất còn mông mênh hơn bây giờ". ..Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai phương tiện liên lạc hàng không còn trong thời kÿ sơ khởi, cho đến nǎm 1927 Charles Lindberg mới là kẻ đầu tiên làm chuyến bay liên lục địa gần ngót ba mươi lǎm tiếng đồng hồ nối New York với phi trường Bourget , mà hai nhà vǎn ta đã nhìn thấy đất trời chật lại, trong khi ông Nhất Linh đi Tây phải mất cả tháng trời lênh đênh trên biển cả! Kẻ thức giả bao giờ cũng nhìn xa! Nhưng điều tôi định nói không phải ở chỗ đất trời chật lại mà là ý tưởng tiếp sau. Các ông kể: "mỗi lần có kẻ đi xa về là hàng xóm trèo tường xem mặt và đốt đuốc nói chuyện thâu đêm" không biết hình ảnh ấy có trong thực tế hay chǎng nhưng nó thơ mộng quá chừng. Hành động trèo tường xem mặt không có chút gì là bất lịch sự cũng chǎ̉ng mang tính tò mò tọc mạch, trái lại nó hồn nhiên và thǎ̉ng thǎ́n, ngay thật mà nồng nàn, bởi người ta không nhón gót nhìn mặt rồi rút lui ra ngoài làm kẻ bàng quan nhưng người ta sẽ tích cực tham gia vào cuộc đốt đuốc nói chuyện thâu đêm. Buổi đàm đạo hǎ̉n sẽ đậm đà ý vị vì không ai là chủ không ai là khách, mà một khi đã kéo dài suốt đêm thâu thì tâm tình nào mà không bộc bạch hết được! Ngày xưa những kẻ đi xa là những kẻ có óc mạo hiểm, như những Christophe Colomb , những Marco Polo , những Vasco de Gama... nhưng ngày nay làm lữ khách không đòi hỏi ta phải có máu liều, ngoại trừ mấy ông nội ấm ớ phiêu lưu vào trong mấy cái ghetto rủi gặp nhǎ̀m đứa đang rệu nước miếng vì thiếu xì-ke dí dao gǎm vào bụng mà đòi mãi lộ. ..Tuy nhiên, tính hiếu kỳ thường có hơi thở ngǎ́n, đa số con người vẫn ngay ngáy sợ mất khung cảnh thân quen. Cho dù là mỗi đêm về nǎ̀m vǎ́t chân chữ ngũ trong cái miếu hoang như anh chàng A.Q. của Lỗ Tấn chúng ta vẫn thấy an lành dễ chịu hơn là ngủ trong cái suite thênh thang thuê tạm một đêm ở Las Vegas . Cái quan trọng không phải là việc ra đi mà là sự được phép quay về. Để làm gì vậy? Để nhìn lại mặt kẻ thân yêu, để hít được hơi hướm cũ, để vỗ vai thǎ̀ng bạn quen nhau từ lúc còn mặc quần đùi, để nhìn thấy cái gáo dừa bên vại nước, chiếc võng không người mǎ́c dưới tàn cây, lá thư tình viết cho người con gái đầu tiên ngại không gửi đi còn vướng lại nơi đáy tủ. Nhà họ Tống bên Tàu là một danh gia vọng tộc: Tống Khánh Linh là khuôn mặt phụ nữ số một trong chính quyền nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đầu tiên vừa là phu nhân của nhà cách mạng quá cố Tôn Dật Tiên đã có công mang lý tưởng dân chủ về cho nước Tàu khi đất nước này còn ngủ mê trong chế độ phong kiến cổ hũ và thối nát, Tống Mỹ Linh là bà Tưởng Giới Thạch, người em trai nhỏ Tống Tử Vǎn là một kinh tế gia lỗi lạc, gia đình họ nói tiếng Anh như tiếng mẹ, ra nước ngoài như mình đi chợ cá Thái bình, thế mà khi về già ở Mỹ, Tử Vǎn bổng cám cảnh nhớ hình ảnh chiếc áo sường sám xẻ ngang đùi bèn biên thư xin chính quyền Trung quốc để được trở về gửi nǎ́m xương nơi đất Tổ. Tôi chǎ́c là cô Trang, người chịu trách nhiệm ở phòng Công Tác Về Ngươi Nước Ngoài, lần đầu phải đối phó với một câu hỏi kỳ cục đặt ra bởi kẻ sǎ́p ra đi: “Liệu chúng tôi sau này có được phép quay về thǎm quê hương không?”  ; đúng ra mọi câu hỏi thầm của đám người đang làm thủ tục ra đi sẽ là “liệu chúng tôi có được đi một cách xuôi chèo mát mái không” chứ chǎ̉ng ai lo xa như tôi. Họ có lý, phải biết lo gần hơn là lo xa: tôi khám phá ra rǎ̀ng trong khi hoàn thành các thủ tục chót để kịp ra đi vào chuyến bay ngày thứ nǎm sǎ́p tới, hồ sơ chúng tôi thiếu mấy tấm ảnh cǎn cước của nǎm con người. Thế là trên danh sách đám người ra đi lần tới không có tên chúng tôi; việc chụp mấy tấm ảnh không mất thì giờ nhưng việc " lên danh sách" cho chuyến bay do cơ quan hữu trách thì mất nhiều thì giờ, chúng tôi đành quay về chỗ trọ. Tưởng chỉ hoãn nhiều lǎ́m là một tuần lễ nhưng đùng một cái cô út mới lên mấy tháng ngã bệnh. Chúng tôi đưa cháu vào bệnh viện đa khoa Thủ đức, cháu được chuyền nửa chai sérum, được một ống thuốc nhỏ mǎ́t, một lon sữa hộp và được chích mấy ống streptomycine vì lên sởi và bị biến chứng. Mỗi ngày từ chỗ trọ tôi đi nǎm mười xu tiền xe lam lên ngả tư Thủ đức từ đó cuốc bộ vào bệnh viện mang cơm cho vợ và thǎm chừng bệnh tình của con. Cô út vừa đỡ thì cô lớn có mủ trong tai; cũng là do bệnh sởi. Một buổi sáng, tôi dǎ́t Phùng Khánh đi ô tô buýt Thủ đức-Bình triệu. Từ Bình triệu chúng tôi đón tǎ́c xi về Sài gòn cho kịp giờ thǎm của bác sĩ tư vì 7 giờ sáng họ đã phải đến cơ quan rồi (chỉ những ông bác sĩ có làm việc cho nhà nước mới được phép mở phòng mạch tư kiếm tiền sau giờ hành chánh). Chúng tôi đến kịp giờ nhưng rủi thay, vị y sĩ không làm việc sáng hôm ấy. Tôi dǎ́t con đi loanh quanh nghĩ kế. Con bé khóc thút thít vì phải đi bộ quá nhiều. Tôi nǎn nỉ con, dǎ́t nó đến một bà hàng rong ở góc đường mua cho nó một chiếc bánh cam và một quả chuối. Nó bỏ giở cái bánh vì nhai mạnh thì đau tai. Nơi đó là góc nhà thờ Đức Bà, tôi chợt nhớ đến cái dispensaire trong tòa lãnh sự Pháp. Sǎ̃n có giấy phép vào cửa trong túi, tôi dǎ́t con đến nộp giấy xin vào. Hơn 9 giờ sáng chúng tôi mới bước được vào cổng tòa lãnh sự. Trong khi ngồi chờ đến phiên mình, tôi khám phá ra rǎ̀ng chỉ những người có quốc tịch Pháp mới được tiếp. Cha con tôi lại lủi thủi trở ra đường Hai bà Trưng để về lại Thủ đức nhưng gặp một bà cụ già bày cách cho để xin đến khám tại bệnh viện Nhi đồng 2 tức Grall cũ. Lại cuốc bộ, lại nǎn nỉ van xin con để nó gǎ́ng đi (bế nó mệt quá!). Vào Nhi đồng 2 trổ tài xin xỏ, khi người phụ trách bǎ̀ng lòng và hỏi khám gì, tôi bảo "tai" thì anh ta buông hai tay: "Hết phiếu rồi!" . Bốn mươi cái phiếu khám tai đã phát hết cho buổi sáng: Sài gòn đang bị dịch sởi và biến chứng vì sởi. Giá cứ mỗi lần gặp khó khǎn không giải quyết được ta lại có một an ủi cuối cùng, đấy là trường hợp chúng tôi hôm nay, ra khỏi cổng Grall dù thÃt vọng tôi vẫn tự nhủ: không sao, ráng vài ngày rồi mình sang Pháp, tha hồ mà chữa bệnh cho con. Ngày thứ nǎm sau vẫn chưa phải là ngày đi mặc dù tên chúng tôi đã có trong danh sách chuyến bay. Quyết định tối hậu thuộc về tòa lãnh sự Pháp. Đành phải chờ. Đất Hứa ngó vậy mà xa!

Trên đầu trang tôi có một ý tưởng chưa kịp phát triển: khi nói về nhà tôi, tôi đã nói bóng gió về hạt cát trong chiếc giày. Nhà tôi có một may mǎ́n mà nàng không ý thức được, Đó là nhan sǎ́c. Sự pha trộn hai chủng tộc, hai giòng máu khác nhau thường cho những kết quả tốt đẹp như vậy. Ngày nay các nhà nghiên cứu về các môn khoa học nhân vǎn còn khám phá ra nhiều ưu điểm khác vượt ngoài phạm vi hình dáng qua sự pha trộn chủng loại, và nhờ vậy những thành kiến đã giảm đi khá nhiều. Riêng đối với người Việt, tôi không tin rǎ̀ng chúng ta có tinh thần kỳ thị; người mình bản chất hiền lành, tình trạng kỳ thị nếu có chỉ bởi sự giật dây của kẻ có mưu đồ chính trị. Giới bình dân tuy có lối nhìn hơi sỗ sàng nhưng hoàn toàn không có hậu ý xấu xa gì; có thể chúng ta đã có những diễn dịch lầm lẫn về lối nhìn đó, thay vì hiểu như sự biểu lộ một chút ngạc nhiên hoặc hâm mộ, chúng ta lại nghĩ rǎ̀ng đấy là lối nhìn hạ giá, miệt thị. Cùng với những kỷ niệm không đẹp phải chịu đựng lúc tuổi nhỏ, nhà tôi đã có cảm tưởng mang mãi một hạt cát trong chiếc giày, nhưng lúc này khi có thể sǎ̃n sàng rủ bỏ hạt cát ấy nàng nhận ra rǎ̀ng nó chǎ̉ng làm xây xát nàng bao nhiêu mà ngược lại, nàng yêu quê hương quá đỗi, đủ để quên đi những xây xát ấy. Nàng cũng yêu quê hương như tôi yêu, bồi hồi với mùi rơm rạ mới cǎ́t, xót xa nhớ vị con cá bống con cá cơm kho khô, giòng nước dưới chân cầu, cây cau bụi chuối, mái tranh, con đường sỏi, chiếc miếu hoang, khuôn mặt cô giáo đâu tiên...tất cả những cái ấy là quê hương, tất cả những cái ấy có sức mạnh làm chùn chân tôi, làm chùn chân nàng.

Đất Hứa vì vậy càng có lý do để thêm xa xôi!


... CÒN TIẾP ...











© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải trên Newvietart.com theo nguyên bản của tác giả gởi từ miền Nam Pháp ngày 31.05.2009. . Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.