GIỜI CAO ĐẤT DÀY



CHƯƠNG VIII


Trong cuộc đời của mình chưa bao giờ Sa có được hạnh phúc như bây giờ, so với một số người làng Bùi có thể khẳng định Sa giàu và sung sướng hơn. Người làng Bùi còn đói lắm, không đủ cơm ăn, áo mặc, hầu hết cả làng phải ăn độn khoai và rau, có nhà phải ăn cả cháo cám. Nuôi được con gà muốn thịt phải giấu giấu diếm diếm, để cho người ta biết lại mang tiếng là giàu. Có gia đình chờ từ đầu năm đến cuối năm mới được ăn miếng thịt lợn vào dịp tết. Tất cả mọi người phải đi làm công việc tập thể của hợp tác xã ngoài cánh đồng, không ai được bỏ việc hợp tác xã để đi chợ hoặc thu vén việc cá nhân, con buôn là cụm từ đáng hổ thẹn. Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Nhưng riêng nhà Sa bây giờ có ba chục con gà, mỗi ngày có chục con đẻ, Sa muốn thịt con gà nào tuỳ ý, không phải giấu diếm như ở trong làng. Sân vườn ríu rít những gà, chó, mèo, vui lắm. Thóc nhà Sa lúc nào cũng đầy bồ, ngày ba bữa cơm no, không phải độn ngô khoai. Sa muốn đi biển, đi chợ thì đi, không có ai cấm đoán. Con vàng không biết đi ngoại tình ở đâu về có chửa, đẻ được năm đứa con, ba a-ka và hai cách- cách. Sa đòi nuôi lợn, nhưng Thuần không cho bảo nuôi vất vả, thịt ra có bán được đâu, bây giờ mang thịt ra chợ là bị thuế vụ bắt. Thịt lợn đều phải đưa ra mặt trận để giúp đỡ bộ đội đánh cái thằng giặc Mỹ xâm lược. Thế là Sa thuộc loại giàu có của làng Bùi này rồi, chỉ buồn là nhà cửa còn lụp sụp quá, chưa xây được, tuy Thuần cũng đã chặt phi lao sửa lại chiếc lều cho chắc chắn, cao ráo. ở làng Bùi bây giờ ai giàu có là đáng hổ thẹn, nhưng mà sao mới đầy đủ một tý mà Sa đã thấy thích lắm, giàu có mà hổ thẹn thì Sa tình nguyện hổ thẹn suốt đời được. Niềm vui nữa là Sa sắp làm mẹ. Bụng Sa to kềnh càng, tính ra thì chỉ còn hơn hai tháng nữa là ở cữ. Ôi, ở cữ, cái từ mà đời Sa chưa bao giờ mơ ước, mặc dù trước đây nghĩ đến lòng đã xốn xang, thèm muốn, vậy mà bây giờ điều ấy đã sắp thành sự thực, hạnh phúc quá. Sa chuẩn bị nhiều thứ để cho ngày vượt cạn của mình, từ chiếc tã lót, đến đôi tất tay, tất chân, bộ quần áo, chiếc mũ... Sa đều tự khâu lấy. Sa thích nhất đôi tất tay bé tý xíu làm bằng thứ vải đỏ trông như chiếc túi đựng ngô rang ngày còn bé. Sa luồn chiếc dây màu trắng ở miệng túi để buộc lại cho khỏi tuột ra khi bé giẫy. Sa ấp bộ quần áo sơ sinh trong lồng ngực mà lòng thổn thức. Sa lắng nghe từng cử động của con trong bụng, cầm tay chồng đặt vào nơi bé đang đạp mà vui sướng. Một sinh linh bé nhỏ đang từng ngày từng giờ lớn lên ở trong Sa. Nó là con Sa. Nhiều khi Sa cứ nghĩ nó chính là Thuần. ý nghĩ ấy khiến Sa thấy thích và yêu chồng hơn. Người đàn ông to lớn, hùng hổ là thế, vậy mà người đàn bà có thể làm cho mềm nhũn, kiệt sức và ngoan ngoãn như một đứa trẻ. Người đàn ông hiện hữu là một thân thể tách biệt, độc lập, nhưng người đàn bà có thể chiếm hữu và biến người đàn ông thành của riêng mình, ở trong mình, rồi tự tay người đàn bà nuôi dạy, thuần phục theo ý mình. Cái mạnh của phái yếu là thế và cái yếu của phái mạnh cũng là vậy. Bây giờ Thuần không cho Sa đi biển hoặc làm lụng nặng nhọc nữa, chỉ có việc đi chợ là Sa còn phải đảm nhiệm. Thuần hết sức lo lắng đến ngày vợ vượt cạn, bài học của Gấm đóng đinh vào tâm khảm Thuần, chiếc đinh ấy không nhổ đi được, lâu ngày rỉ ghét, làm hoen ố một đám. Còn nhớ ngày ấy Gấm bắt đầu trở dạ từ đầu tối, Thuần đi tìm hết bà mụ này, đến bà mụ khác, thậm trí còn quì xuống chắp tay lạy, nhưng họ đều từ chối. Nửa đêm Gấm đau dữ dội, Thuần đánh liều đưa Gấm ra nhà hộ sinh xã. Nghe tiếng gọi, họ ra mở cửa, nhưng khi phát hiện ra Gấm con gái của người hủi họ bỏ chạy hết. Thuần phải đưa vợ về nhà, và điều khốn nạn nhất đã xảy ra. Hồi ấy đau khổ quá đâm nghĩ quẩn nên Thuần căm thù cộng đồng lắm, nhưng rồi sau này chính ở bệnh viện chữa hủi Thuần đã tìm lại được tình yêu thương của cộng đồng. Có lần Thuần trông thấy một con gà mẹ và đàn gà con choai choai xúm vào mổ một con gà con cùng đàn nhưng khác màu chỉ vì nó bị rơi xuống hố phân. Con gà ấy bị đánh tơi tả, nằm giãy giụa, nhưng khi hồi tỉnh nó lại chiếp chiếp đuổi theo đàn, lại bị đánh, lại chạy theo. Lúc đó Thuần thương thân mình và cũng hiểu ra thế nào là sống cô quả, cô độc.
Lần này Thuần sẽ là người đỡ đẻ cho vợ, trong khi không có một chút kiến thức nào về việc này. Sách không có, mà cũng không có ai để Thuần tiếp xúc, học hỏi. Liệu rằng Sa có rơi vào số phận như Gấm không? Thuần lo lắng và hoang mang thật sự. Anh lấy chiếc mẹt và viên phấn, gọi Sa đến nói chuyện. Câu chuyện hai vợ chồng nói với nhau có thể tóm tắt như sau: Ngày mai Sa đi chợ, tìm đến nhà bà mụ, hỏi họ cách đỡ đẻ như thế nào? Cách nuôi con thơ ra sao? Hỏi thật kỹ, rồi về nói lại cho Thuần biết.
Nhìn nét mặt của chồng, lúc này Sa mới bắt đầu lây cái lo âu. Sáng hôm sau Sa đi tìm bà mụ ở một xã khác, nhưng không gặp vì bà đi đỡ đẻ. Chiều hôm ấy Sa tiếp tục lặc lè vác cái bụng đi, chuyến đi thành công. Trở về hai vợ chồng lại lấy mẹt ra nói chuyện. Tuy có được chút ít kiến thức đỡ đẻ nhưng Thuần vẫn không yên tâm vì bài học từ cái chết của mẹ con Gấm vẫn ám ảnh.
Từ ngày về ở với Thuần, để tránh bị lộ, hàng ngày Sa phải đi chợ rất xa, cách làng Bùi sáu cây số, chợ này hầu như không có người làng Bùi đi. Từ hôm bụng mang dạ chửa, đi xa Sa thấy mệt, hơn nữa lỡ ra trở dạ giữa đường thì biết làm sao, thế là chiều nào cũng vậy, Thuần cắp chiếc mủng đựng đồ bán dẫn Sa đi chợ. Đến gần chợ Thuần chui vào bụi cây nào đó cho kín ngồi chờ xong buổi chợ lại dẫn vợ về nhà. Một hôm, giữa đường Sa đau bụng, Thuần hoảng quá tưởng vợ trở dạ định đưa vào một nhà gần bờ biển để sinh nở, may thay cơn đau bụng chỉ là trò nghịch ngợm của thằng cu con trong bụng. Về nhà, cơm nước xong xuôi, nằm trên giường Thuần ấp tai lên bụng vợ nghe ngóng không thấy động tĩnh gì, miệng nói cho vui:
- Tiên sư cha mày, định doạ bố phải không? vài hôm nữa ra rồi, bố cho một trận.
Từ bữa đó Thuần không cho Sa đi chợ nữa, mọi thứ chuẩn bị cho việc nằm ổ của Sa đã đầy đủ. Ra biển, Thuần cũng chỉ quanh quẩn gần bờ, một lát là về.
Con vàng chăn năm cục vàng của nó đã khôn lớn. Cả năm con chó con đã biết ý thức phận sự của mình, đêm đêm cũng sủa ách ách, ban ngày chúng vật nhau suốt, vật xong lại tranh nhau bú, bú no nằm ngổn ngang ngủ như chết. Lũ chó con bây giờ lại thân với con mèo đực hơn cả với mẹ của chúng, chiếc đuôi của con mèo là thứ đồ chơi duy nhất hấp dẫn của năm con chó.
Ngồi nhìn cảnh nhà hạnh phúc Thuần chạnh lòng nhớ Gấm. ở dưới suối vàng không biết Gấm có hiểu cho lòng Thuần ? Thuần không bao giờ quên Gấm đâu, càng sung sướng, hạnh phúc Thuần lại càng nhớ Gấm. Đời Thuần khổ, nên biết ơn sâu, bởi Thuần hiểu được cái giá để có cuộc sống. Trong cái lều đơn sơ, Thuần lập bàn thờ để thờ thần linh, tổ tiên, cha mẹ và Gấm. Thuần nghĩ, nhà ai cũng thế cần phải có một nơi tâm linh, nơi ấy là để thờ những người mình kính trọng và thương yêu nhất, và nơi ấy để mọi người trong gia đình tôn thờ, kiêng kỵ, soi mình, giữ cho mình thánh thiện. Đó là đức tin của mọi người trong nhà. Việc thờ cúng Thuần tìm hiểu khá cặn kẽ. Theo Thuần, cúng lễ là trở về nguồn, đội ơn tổ tiên đã sinh thành ra mình và tu sửa cái tâm thanh chân tâm mà thôi. Có chân tâm rồi thì sẽ tạo ra được đức, có đức thì sẽ có phúc, có phúc sẽ có phần. Trước khi cúng bao giờ Thuần cũng thắp đèn, đó là nguồn năng lượng; và một chén nước thanh thuỷ- đó là hành đầu tiên của ngũ hành sinh ra vạn vật. Thắp hương là phát sóng, vì vậy hương phải cắm cho thẳng, giống như cột ăng ten thì phát sóng mới thấu trời đất được; thỉnh cầu là bá âm, do đó khi khấn phải tập trung tư tưởng, không có tạp âm, thì lời thỉnh cầu mới là tâm nguyện. Tâm nguyện thì Thiên- Địa - Nhân mới hợp nhất. Mâm lễ phải có đĩa trầu cau. Quả cau là từ cây cau, cây cau bao giờ cũng mọc thẳng đứng như dây dọi vươn lên trời- trời là Thiên. Lá trầu hình trái tim- là tâm của con người - người là Nhân. Vôi là đá vôi từ đất lấy ra đem nung- đất là Địa: Thiên- Địa- Nhân, ba thứ đó nhuyễn lại với nhau thành màu đỏ. Màu đỏ là hỷ sự khánh chúc mọi sự Thành, là nguồn gốc Thiên- Địa - Nhân hợp nhất sinh ra, có mình để có muôn sự ngày hôm nay. Do đó mỗi lần Thuần thấy lo lắng để chuẩn bị cho một việc gì đấy, hoặc có cảm giác có lỗi thường đặt lễ và đứng khấn trước bàn thờ. Làm xong, Thuần cảm thấy yên tâm hơn, thanh thản hơn.
Một buổi trưa Thuần và Sa đang ăn cơm thì tiếng kẻng báo động của dân quân dồn dập vang lên. Dứt tiếng kẻng, nhiều tốp máy bay của giặc Mỹ từ biển Đông bay vào, bay rất cao, những chiếc máy bay trông như con diều hâu, vừa lao vừa hét đinh tai nhức óc. Súng của bộ đội cao xạ ở trận địa cống Trà Linh nổ như pháo hoa, súng trường K44 của dân quân cũng thi nhau nhả đạn, trận địa 12 ly 7 của dân quân trực chiến đầu đê ấp Bắc điểm xạ từng loạt. Trong lúc mọi người chăm chú dõi theo từng đàn máy bay trên tầng cao, thì hai chiếc F4H từ ngoài biển bay rất thấp lao ầm vào đất liền bắn liên tiếp hai loạt rốc két dọc làng Bùi. Một quả trúng nóc nhà thờ thiên chúa giáo, một quả khác trúng vào trường học, một quả nữa vào sân chùa, còn lại nổ vu vơ ngoài cánh đồng. Khi mọi người đang bàng hoàng, chưa kịp đối phó với hai loạt rốc két, thì hai chiếc máy bay loại F105 D đang lượn trên tầng cao bỗng lao vút xuống thả liên tiếp 12 trái bom cửa sông Diêm. Chiếc máy bay thứ nhất trút bom trót lọt ngóc đầu bay lên vội chuồn ra biển, nhưng chiếc thứ hai khi đang lao xuống cắt bom thì bị trúng đạn, phụt ra một luồng lửa, vẫn đang đà lao, chiếc máy bay đâm thẳng xuống bãi lầy biển cạn. Trước khi chiếc máy bay kết thúc số phận, tên giặc lái còn kịp bấm nút dù để nhảy ra, khi dù tiếp đất, không may cho thằng phi công lại rơi xuống cánh đồng dân làng Bùi đang cày cấy. Thằng giặc còn đang lóp ngóp với bùn lầy ruộng nước thì dân quân ập tới. Thay vì phải vứt súng để giơ hai tay lên trời, nó lại cầm khẩu côn giơ lên định nhả đạn. Thế là một dân quân nhỏ bé nhanh trí giương súng bóp cò, viên đạn K44 xuyên từ cằm lên óc. Không bắt sống được giặc lái là một khuyết điểm, vì thế xã đội phải báo cáo lên là tên phi công đã trúng đạn từ trên máy bay. Nghe đâu thằng giặc Mỹ mang quân hàm trung uý, 32 tuổi có vợ và hai con.
Cấp trên về nghiên cứu và kết luận chiếc máy bay rơi là do viên đạn của một khẩu súng K44 bắn đạn K56 xuyên táo cả máy bay và tên phi công. Bao nhiêu làng, bao nhiêu tay súng đổ lên huyện xin báo công. Mấy ông già lái đò cũng nằng nặc chính chúng tôi bắn rơi, các đồng chí ở đồn biên phòng bắn AK cũng chạy lên huyện đội đòi thành tích, khẩu thượng liên của dân quân làng Bùi trực chiến gần đấy bắn được một viên đạn rồi bị hóc thì dứt khoát là chiến công này là của chúng tôi. Cuối cùng cấp trên xác định người bắn rơi chiếc máy bay đó là tổ dân quân làm muối xã Đồng Hải. Nhưng tổ dân quân đó có những bốn tay súng đều bắn, mà chỉ có một viên trúng. Do đó chiến công vang dội này thuộc về một người. Người đó duy nhất là nam giới trong tổ và cũng là người duy nhất ngồi trên miệng hố bóp cò súng, viên đạn ấy phải đi nhanh hơn và xa hơn. Ngồi trên miệng hố là dũng cảm, chiến công bao giờ cũng thuộc về người dũng cảm. Anh ta được thưởng huân chương chiến công và toàn huyện phát động học tập gương người tốt việc tốt. Khiếp quá, lần đầu tiên làng Bùi bị bom lớn như thế này. Chiến tranh leo thang ra miền Bắc đã lâu rồi, nhưng làng Bùi hẻo lánh nằm bên bờ biển cạn chiến tranh chỉ thực sự đến với các gia đình có con em ngoài mặt trận. Thỉnh thoảng chiến tranh lại bùng lên trong một ngôi nhà nào đó khi người ta đến làm nghi lễ báo tử cho một chiến sỹ đã bỏ mình ngoài chiến trường. Chỉ đến hôm nay, bom nổ, người chết mọi người mới ngửi thấy mùi chiến tranh. Người ta kéo nhau ra xem thằng giặc Mỹ làm sao mà ác thế. Thuần cũng trà trộn vào đám người trong đêm tối để len vào xem cho bằng được. Nó không khác mấy người Việt Nam ta, da nó trắng, tóc hơi nâu, bên trong mặc chiếc áo lót kiểu đông xuân, một chiếc quần đùi trắng như vải phin, bên ngoài mặc bộ quần áo bay. Một cậu dân quân trẻ tò mò bảo xem chim nó có giống người Việt mình không, liền thò tay kéo tụt chiếc quần đùi. Đàn bà, con gái bỏ chạy, đàn ông cười hô hố. Thế ra nó không khác gì người Việt Nam ta, có chăng chỉ trắng hơn, to hơn một chút và có đôi bàn chân đi đôi dày da, khi tháo ra trắng búp, không thâm sì và nứt nẻ như người Việt mình. Nó nằm chết trông hiền từ như người ngủ, nó cũng có vợ, có con như mọi người Việt Nam, và chắc là nó cũng biết yêu, biết giận, biết ghét, biết thương như con người... Thế mà là giặc à? Thuần cứ nghĩ giặc ít ra nó cũng như cái thằng quan một khi bắn bốn đứa con nhà chú Cổn hồi chống Pháp chứ. Đêm ấy, mấy ông trên tỉnh về chụp ảnh thằng phi công, kiểm tra, thu hết giấy tờ vũ khí của nó rồi liệm vào chiếc quan tài, chôn cất tử tế, đầu mộ cắm chiếc bảng gỗ có dòng chữ viết bằng vôi trắng: “Mả giặc Mỹ”. Thuần về kể lại cho vợ nghe. Khác với Thuần, Sa không biết giặc Pháp nên cô hình dung thằng giặc Mỹ phải có bộ mặt giống như ông bố dượng của cô, hoặc hung hãn hơn nó phải giống như con ác vẫn lặn ngụp ngoài hồ.

Làng Bùi vào hè được mấy ngày mà nắng đã bỏng rát, bờ dứa dại phía chân đê như những con trăn khổng lồ oằn mình lên, đan cài vào nhau che đỡ cho mặt cát. Chính vì thế mà dù có nóng mấy ngôi nhà của vợ chồng Thuần vẫn dịu mát, lại thêm rừng phi lao dày dít, nắng không thể nào xuyên qua được, gió biển thì vô tư, hào phóng không mấy khi thiếu.
Buổi sáng đầu con nước, triều chưa vào bờ, Thuần tranh thủ đặt vài chục chiếc bẫy kiếm ít cá lác kho ăn, định bụng đặt bẫy xong rồi về nhà ngay, chờ ít phút xuống gỡ cá cũng không muộn, nhưng khi vừa đặt bẫy xong, quay lại đã thấy cá giắt, tiện thể Thuần gỡ luôn. Rồi cứ gỡ chiếc này, thì chiếc kia cá đã giắt. Như thế lại càng tốt, làm một lèo rồi về luôn cho khoẻ. Vừa đặt chiếc giỏ xuống Thuần đã thấy nghi nghi, nhà cửa vắng tanh vắng ngắt, cây chổi quét nhà sao lại nằm chỏng chơ ngoài vườn? Con vàng và lũ con của nó chạy ra ve vẩy quấn quýt như mọi bận, nhưng không thấy Sa ra đón. Hình như có mùi ám khí. Chả lẽ... sao đời lại cứ đày đoạ Thuần mãi thế này, hỡi giời cao, đất dày! Thuần hốt hoảng chạy vào trong nhà, đã thấy Sa nằm dưới một đống chăn, đôi mắt nhắm nghiền, nạm tóc trước trán ươn ướt dính bết. Sa nở nụ cười gượng gạo, rồi mở lọn chăn ra. Trời ơi! một sinh linh bé nhỏ, đỏ hỏn đang cựa quậy trong cánh tay Sa. Thuần cuống quýt hỏi:
- Em sinh con rồi?
- ...
- Em tự sinh?
-...
- Em tự cắt rốn cho con?
-...
- Em có sao không?
-...
- Anh nấu cháo cho em ăn nhớ?
-...
Không biết Sa có hiểu những câu hỏi của Thuần, chỉ thấy cô mỉm cười gật đầu. Thuần nhìn xuống chân giường, quả nhiên chiếc liềm Sa chuẩn bị làm đồ cắt rốn cho con vẫn còn vương máu, sao mà Sa giỏi thế. Thuần ngồi xuống mép giường vuốt tóc xoa xoa bờ vai cho vợ, rồi hôn lên đôi má non tơ của con. Không biết con trai, hay con gái nhỉ? Lần bàn tay vào bụng đứa bé, một cái mầm tí xíu nhú lên, khiến Thuần mỉm cười. Sa tự hào nhìn chồng rằng cô đã hoàn thành nhiệm vụ, sản xuất cho Thuần một sản phẩm như ý. Nó đấy, chính nó, nó là anh đấy, là con em đẻ ra, thích chưa? Thế là Sa đã là một người mẹ. Danh từ Mẹ đối với Sa thật cao quí, bởi đời Sa chưa bao giờ mơ ước mình sẽ được làm mẹ. Thằng bé oe oe đòi bú, tiếng khóc của nó khiến Thuần vui sướng, nhưng người vui sướng nhất phải là Sa. Con Sa biết khóc, có nghĩa là nó sẽ nói được, đó là điều làm Sa xúc động nhất. Sung sướng làm Sa lặng đi không biết diễn tả thế nào, cô chỉ nằm ngắm con không biết chán. Sa ngắm từng sợi lông mi, từng ngón tay hồng hồng tí xíu có chiếc móng xinh xinh. Rồi Sa để ý đến cả khi nó đái ra làm sao? Sa cứ bồng bềnh như người trong mơ, và có lúc tự hỏi làm sao mà Sa lại sinh được một đứa con đẹp thế? Sa có bao giờ nghĩ đời mình được như thế này đâu. Sinh được đứa con lành lặn xong rồi Sa lại càng ý thức được Sa cũng có giá trị như bao người đàn bà khác, chứ không phải đồ vô dụng như Sa đã tưởng khi còn ở với gia đình. Sa bây giờ đã có một trách nhiệm lớn với con, với chồng. Nghĩ thế và Sa mãn nguyện mỉm cười trong giấc ngủ.
Suốt một tuần hai vợ chồng Thuần bận bịu chăm sóc thằng bé, bởi biết bao cái mới lạ ngỡ ngàng. Buổi tối, giữa hai vợ chồng đã có thêm một đứa con bé bỏng. Đến bữa cơm, Sa vừa ôm con vừa ăn, Thuần ăn xong trước, bế con cho Sa ăn tiếp. Con khóc, Thuần vừa bế vừa rung, vừa hát. Thuần ru con buồn cười lắm: “Này cô nàng đẹp xinh kia ơi, mắt cô sáng như đèn hết dầu, miệng cô cười trông như đít dê, chan chứa tình trong lòng chúng ta”. Tiếng Thuần rồ rồ, giật giật, ấy vậy mà thằng bé nín khóc và xem ra thích nghe bố hát. Thuần không thuộc nhiều bài hát lắm để ru con, nhưng Thuần nghiệm thấy bài hát nào giật giật, nhịp điệu trùng với những cái nhún chân của Thuần là thằng bé nín, đặc biệt bài “ Dân Liên Xô”. Thuần ôm con nhún chân, giật giật: Dân Liên Xô, vừa phóng con tàu vệ tinh, Ga - Ga - Rin thiếu tá trong đội này, bay lên không mà trông vẫn khoẻ, lúc bước xuống mọi người reo vui... Thấy thằng bé có vẻ nghiện bài hát này, Sa lấy mẹt ra hỏi chồng:
- Bài hát này chắc hay lắm hở?
Thuần gật đầu.
- Của ông nhạc sỹ nổi tiếng lắm hở?
Thuần cũng gật đầu, nhưng thực ra Thuần có biết ông nhạc sỹ nào đâu. Hồi còn ở trên Phú Thọ, mỗi khi có đội chiếu phim về đình làng chiếu là loa phóng thanh hát vang mấy bài hát này, nghe nhiều rồi thuộc. Có lần hát hết bài hát mà thằng bé vẫn chưa ngủ, buộc Thuần phải hát nữa, thế là Thuần vừa nhún chân vừa bịa, vừa hát : “ồ ồ ồ ô ồ. ồ ồ ồ ô ô. Ô ô ố ô ồ ô. Ô ô ố ô ô ồ... “, nghe chết cười, vậy mà thằng bé cũng ngủ.
Trong suy nghĩ của Sa, Thuần đúng là một ca sỹ tài ba lắm, bởi khi con khóc Sa đưa vú vào miệng nó cũng không nín, rồi Sa vừa bế vừa nựng, đi hết chỗ này đến chỗ khác nó cũng không chịu. Hồi còn ở trong làng, đôi lần Sa có trốn đi xem văn công hát, chỉ thấy mọi người cười, chứ không ai ngủ được. Vậy mà chỉ cần Thuần cất lời ca một lúc là thằng bé ngủ thin thít. Mỗi lần Thuần hát ru con, Sa ngồi nhìn miệng Thuần mà ước ao, mà khâm phục. Giá mà chồng Sa không tàng tật có khi là ca sỹ nổi tiếng, có ích cho nước, cho dân chứ không phải đi bắt cáy như thế này.
Nhờ giời thằng bé không ốm đau, bệnh tật gì, cứ thế ăn ngủ tỳ tỳ và lớn nhanh như thổi, được cái Sa cũng tốt sữa. Thuần chăm vợ chu đáo nên Sa mỗi ngày mỗi đẹp, da trắng nõn, má phây phây, bộ ngực căng nứt áo trông hấp dẫn, làm Thuần lúc nào cũng tâm niệm điệp khúc: “ Phải kiêng. Phải kiêng cho vợ”.
Một lần Sa đặt con nằm chơi ở giường để đi giặt giũ, Thuần dưới bếp đi lên thấy phân vàng nhoe nhoét trên chiếu. Không biết thằng bé bị ỉa chảy, hay lòng đỏ trứng gà Sa vừa cho con ăn rớt ra? Nó mà bị ỉa chảy thì nguy to, ốm đau bây giờ chỉ có chết, chứ thuốc men đâu mà chữa. Người lớn còn có thể chịu đựng, rồi quanh quéo lâu dần cũng khỏi, chứ trẻ con còn ẵm ngửa chỉ sơ xuất một tý là toi mạng. Thuần sợ con ốm hơn tất cả mọi nỗi sợ. Thuần cúi xuống vạch hậu môn con xem có rớt phân không, cũng không rõ lắm. Rồi Thuần lại cúi xuống ngửi. Ngửi mãi cũng không xác định nổi. Cuối cùng thuần đưa ngón tay chấm một mẩu màu vàng đưa lên miệng nếm. Phân người thật, nhưng không chua, không khẳn, như vậy phân thằng bé bình thường, không bệnh tật gì cả. Thuần mừng quá chạy ra múc gáo nước súc miệng.
Thằng bé xem chừng quấn bố hơn là mẹ, dĩ nhiên là khi đói đã có vú của mẹ rồi, nhưng có lẽ nó thích bố nựng hát ru hơn, nó còn thích bố cho nó ăn một thứ bột nhiễn có pha với thịt tôm rảo. Bố vừa cho ăn vừa nói chuyện cười cợt với nó, lắm lúc thằng bé cười phun cả bột vào mặt bố.
Sa đứng nhìn chồng nói chuyện đùa giỡn với con mà lòng tràn đầy hạnh phúc, tuy nhiên có lúc Sa cảm thấy tui tủi. Nếu như Sa nói được, nghe được... Ông trời thật độc ác, cướp đi của con Sa lời ru ngọt ngào của người mẹ, cướp đi của Sa tiếng gọi mẹ của đứa con mà mình rứt ruột đẻ ra. Hạnh phúc lớn lao của người mẹ là được nghe đứa con mình gọi tiếng mẹ đầu tiên, tiếng gọi ấy xác định quyền làm mẹ của người phụ nữ, tiếng gọi ấy khẳng định tình yêu của đứa con đối với mẹ. Tình yêu của người mẹ được thể hiện ở hành động, cử chỉ nhưng còn được thể hiện ở lời nói, chính vì thế mà Sa chăm sóc con nhiều hơn, cười với con nhiều hơn. Những cử chỉ vuốt ve, âu yếm của Sa đối với con được lặp đi lặp lại nhiều lần nhằm bù đắp thiệt thòi mà thằng bé lẽ ra không phải chịu.
Một lần ôm con ngủ, đến khi thằng bé thức dậy khóc nhưng Sa không nghe được. Thằng bé khóc mãi không thấy mẹ ru, nó nhoai ra mép giường, rồi lăn xuống đất. Con vàng và đàn chó con bu đến liếm láp. Thằng bé sợ khóc chết lặng, tím ngơ, tím ngắt, đến khi Thuần ngoài biển về, thấy con nằm dưới đất nhớt nhãi đầy miệng đang gào thét giữa đàn chó thì giận vợ quá, một tay bế con, một tay giơ lên định tát Sa, cũng may mà Thuần kịp dừng lại. Sa vừa ân hận, vừa giận chồng. Hơn tất cả là Sa cảm thấy mình vô dụng, xấu xa và không đáng làm mẹ. ý nghĩ ấy dày vò suốt ngày đêm, khiến Sa cứ lặng lẽ, cô độc rồi đâm ra hằn học. Sa cảm thấy mình như người thừa giữa chồng và con. Sự thờ ơ đôi lúc diễn ra trong Sa khi Thuần bế con, hát ru và đùa với nó.
Không hề hay biết những thay đổi của Sa, Thuần vẫn vô tư chiều vợ, yêu con. Cho đến một hôm sau khi lừa thằng bé ngủ, Thuần ra bế vợ vào lòng vuốt ve, hôn hít thì Sa giãy ra ngồi xoay lưng lại giận hờn. Thuần cũng chả để ý, cứ ôm chầm lấy vợ đè nghiến xuống giường. Chiếc giường rung mạnh làm thằng bé thức giấc, Sa ra hiệu dừng lại để ẵm con, nhưng Thuần đang cơn hăng, ý nói mặc nó, chỉ một tý nữa thôi. Chiếc giường như lên cơn động kinh rồi ngừng hẳn. Sa mỉm cười, kéo tấm chăn phủ tạm nửa người và nhoài tay ra ôm lấy con, nhét vú vào miệng nó, miệng thầm ru: “Ôi mẹ thương, mẹ thương... tại thằng cha mày đấy”. Và tâm lý cô độc, giận chồng cũng tiêu tan hết.

Mùa đông ở vùng biển cạn buồn thê thảm, rừng sú vẹt như đội quân âm binh suốt ngày ngụp lặn dưới nước. Đêm đến, nước rút ra, rừng sú vẹt lặng lẽ âm thầm chìm trong bóng tối. Khoảng 12 con nước thì về chiều biển cạn được vài tiếng đồng hồ. Ngày ấy những người giỏi nghề biển, hoặc đói kém quá mới ra biển kiếm chác cái gì đó hy vọng có được bát gạo, củ khoai đổ vào nồi.
Thuần thì khác. Thuần lận ra rừng sú vẹt mò mẫm bắt con tôm, con cua làm thức ăn cho vợ, cho con. Chưa bao giờ Thuần đi không về rồi, không có vài con cua, thì cũng dăm con cá bớp, hoặc bát tôm tu, không có gì nữa thì cũng lưng giỏ ốc hương về luộc hai vợ chồng ngồi mút ăn chơi. ốc hương màu vàng, to bằng đầu ngón tay út, leo trên thân cây sú vẹt, nhặt một lúc vô khối. Gọi là ốc hương vì thịt ngậy và thơm, ăn mãi không no nhưng sướng cái miệng lắm. Sau khi bắt được dăm chú cá bớp, Thuần lội ra rừng sú vẹt lớn để bắt ít ốc hương. Rừng sú vẹt lớn không biết trồng từ bao giờ mà thân cây xù xì, rãnh căng lên từng thớ trông như những gốc si già, quả vẹt nhọn hoắt, đâm xuống tua tủa như quả đạn rốc két của giặc Mỹ. ốc hương bám vào thân cây ăn những bọt biển và cả mùn bám trên vỏ cây vẹt. Thuần vừa bám vào thân cây vừa bứt từng con ốc cho vào giỏ, thỉnh thoảng lại được con ốc “ bộ đội” màu xanh sậm. ốc “ bộ đội” cũng bám trên thân sú vẹt và ngon cực kỳ, nó vừa ngậy, vừa thơm không có loài ốc nào sánh được. Sở dĩ người làng Bùi gọi là ốc “ bộ đội” vì nó giống như chiếc mũ sắt của bộ đội phòng không, to bằng đầu ngón tay. ốc luộc chín chỉ cần lẩy chiếc vảy màu nâu ở miệng, xuyên cái kim vào ruột cời ra, chấm vào bát nước mắm có chanh ớt, đưa vào miệng, thì chao ơi... lập tức quên ngay... vỏ ốc.
Thuần đang mải mê bắt ốc, bỗng đâu vấp phải bờ cạp. Bờ cạp là một con trạch đắp bằng đất dài chừng cây số từ gần bờ tạo thành hai gọng kìm xuôi ra rừng vẹt lớn. ở giữa gọng kìm khép lại người ta đặt một chiếc đó loa. Nước triều lên ngập bờ kéo theo đủ loại tôm cá... Rồi khi nước triều rút, tôm cá cứ theo bờ trạch gọng kìm mà đi. Nước triều rút hết, biển cạn thế là vô số tôm cá, động vật biển, con nào mải đú đởn không kịp theo nước ra khơi đành ngoan ngoãn chui vào chiếc đó loa há miệng chờ sẵn. Nước triều lên thì đặt đó, nước triều rút cạn lại ra lấy tôm cá về. Cũng không nhiều nhặn gì, người khôn của hiếm, nên mỗi cạp cũng chỉ chừng cân, hơn cân, có khi chỉ vài lạng tôm cá, cua cáy, nhệch, bớp... hổ lốn.
Thuần bước lên bờ cạp đi xuôi về đáy. Bờ cạp cao nửa mét, đất cứng, dễ đi, đang lận bùn lún sâu, đặt chân lên đất cứng khoái bàn chân lắm. Gần đến nơi tiếp giáp của hai bờ cạp Thuần trông thấy một chiếc giỏ để trên bờ, ngước mắt lên chút nữa thấy một người đàn bà đang hỳ hục lay cọc gỡ trộm chiếc đó loa. Mụ ta vừa làm, vừa ngó nghiêng canh chừng. Thuần dừng lại, tụt xuống né vào bên cây sú vẹt. Lại con mụ có khuôn mặt dâm dâm, ác ác, ngu ngu, chiếc áo nâu mụ mặc bung hai chiếc cúc trên để lộ hai bầu vú nhõng nhẽo, đầu thâm thì như vú chó. Thuần hồi hộp như chính mình đang đi ăn trộm, phải trấn tĩnh một lúc mới hoàn hồn lại được. Người đàn bà tháo được bọng chiếc đó, lôi tuột lên bờ, gỡ mấy nút lạt và lấy chiếc hom ra, cúi xuống nhìn vào trong, lắc lắc mấy cái rồi dốc ngược vào chiếc giỏ của mình. Hình như cả vấn rác, hoa quả sú vẹt, cá tôm lẫn lộn chỉ chừng hơn cân gì đó. Làm xong, mụ vất cái bọng đó xuống lầy rồi vội vàng đeo chiếc giỏ lủi vào rừng.
Thuần lập tức bám cây sú vẹt đi theo và vẫn còn đang phân vân không chắc mụ có phải cô Bi? Bởi cô Bi là cốt cán, là chủ tịch xã sao lại nhem nhuốc, bẩn tưởi thế này. Chủ tịch xã ai lại đi ăn trộm, trai gái bậy bạ? Vì thế mà Thuần rắp tâm theo dõi để khẳng định cho chính xác, thật chính xác thì Thuần sẽ xử. Xử để rửa oan cho cha, cho mẹ, cho chị. Thuần trở về làng Bùi, phải sống chui lủi ngoài bờ biển thế này chủ yếu là để làm cái việc đó, chứ nếu không Thuần cứ ở luôn tại bệnh viện hủi lại sướng. Tiếng rút chân trong bùn dẻo của mụ chồm chộp nghe rất rõ, nên Thuần cũng không phải tiếp cận gần cho bị lộ. Mụ mò mẫm dưới gốc sú vẹt một lúc, không được gì, giũ tay vào vũng nước rồi đút vào bẹn gãi sồn sột, trông tởm. Mụ lại đi. Mụ đi xiên về phía bờ sông Diêm, đến một bãi trảng thì dừng lại dựa lưng vào một cây sú vẹt. Mụ tụt quần xuống bẹn và gãi. Rồi mụ đặt cậng bàn tay vào cái mu mõm chó day, nghiến răng day, day đến đỏ mặt. Mụ bị bệnh gì? Hay bị đau? Đau gì? Lạ thật. Dường như không chịu được, mụ bóp và hai cái bắp đùi của mụ rung lên bần bật, kẹp lại. Mụ nghiến răng ken két, mắt mụ lim dim như đang phê thuốc phiện.
Thuần chờ mãi vẫn không phát hiện được gì thêm, định xông ra hỏi thẳng và nếu đúng thì tính sổ luôn, nhưng mà Thuần ngại, xông ra lúc này mụ lại vu cho giở trò hãm hiếp thì chết. Mà có hỏi thì đời nào mụ lại nhận tên thật. Không ổn, không ổn chút nào, phải tính cách khác thôi.
Dường như chưa đã, hoặc chưa khỏi cơn đau, người đàn bà vụm hai bàn tay, rồi bấu chặt lấy cửa mình, bóp. Người mụ cong lên, uốn éo. Cây vẹt rung lên bần bật, rồi như không chịu được cái sức nặng, lại thêm cơn động kinh kéo dài của người đàn bà, nó gẫy đổ sụp.
Mụ lồm ngồm bò dậy, đầu tóc, quần áo lấm lem bùn đất như ma mút. Trận chiến đấu không có đối thủ kết thúc. Cua cáy, còng còng, cá lác xung quanh khu vực sợ thương vong trốn hết xuống lỗ trú ẩn.
Mụ sửa sang lại trang phục, dấp nước mặn vào bàn tay đưa lên đầu dập dập, cào cào mới tóc quăn rối bù cho mượt, bẻ cành vẹt làm cúc, cài lại hai cái khuy trên ngực, rồi đeo chiếc giỏ lên vai tiếp tục cuộc hành trình.
Mụ lội hết rừng vẹt lớn, bắt đầu tới rừng vẹt nhỡ để vào bờ. Trong rừng âm u, lại mùa đông nên có vẻ như trời sắp tối. Thuần đang nghĩ, nếu trễ một lúc nữa trời tối thui, Thuần sẽ theo về tới làng xem nhà mụ ở đâu, để rồi ra từng bước sẽ điều tra cho bằng được.
Thuần vòng một đoạn rừng, rồi vọt lên phóng thẳng vào bờ, trong khi mụ còn lóp ngóp ngoài rừng vẹt nhỏ. Thuần đón đầu ở rừng phi lao, chờ xem mụ đi đường nào vào làng thì đi theo, nhưng mà trời chưa tối. Chưa tối mà Thuần bước vào làng cả làng sẽ bỏ chạy, biết đâu một ông dân quân nào đấy bị kích động lại giương súng đòm một phát khéo đi đời nhà ma. Thế là Thuần đành phải chui vào bờ dứa dại, chờ cho mụ vượt đê, qua cánh đồng đi vào làng, mới lên đê đứng nhìn theo căm phẫn.
Trở về túp lều hạnh phúc, Sa đang bế con ra mé đê đứng chờ. Thằng bé ngồi trên vai mẹ toe toét cười, giơ bàn tay nhỏ xíu vẫy vẫy, tự dưng Thuần quên hết thù hận, lòng như nở ra thanh thản. Người vợ hiền, đẹp với đứa con ngoan choán hết tâm tưởng của Thuần. Thuần chụt vào môi thằng bé, nói:
- Bố bẩn lắm. Để bố rửa ráy xong rồi bố bế.
Trên vai mẹ, thằng bé nhoai theo.






...CÒN TIẾP...
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 25.05.2009 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội .
. TÁC PHẨM CỦA BÙI THANH MINH CHỈ ĐĂNG TẢI TẠI NƯỚC NGOÀI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM