(thương tặng những học viên ngày cũ của tôi. Những người hãy còn sống)

Sau vụ vượt biên đổ bể ở Hòn Hèo, Nha Trang, tôi sống trong cảnh lẩn trốn, chui nhủi. Lúc nào cũng nơm nớp lo sợ…Tôi di chuyển nhiều nơi, cư ngụ lắm chỗ với tâm hồn luôn thảng thốt, bất an. Mỗi ngày qua, tôi chờ đợi một điều gì đó hết sức vô vọng sẽ đến. Rồi tôi bị bắt khi lén trở về với gia đình.

Bị tạm giam ở Công An thành phố một thời gian, tôi được đưa lên trại cưỡng bức lao động sông Côn, với án lịnh hai mươi bốn tháng. Mùa hè năm đó mới dữ dội và khắc nghiệt làm sao! Đứng khom người và mắt quáng quàng trong cái nắng gắt gao, cháy bỏng để phát rẫy, cuốc cỏ mới thấm thía hết ý nghĩa của hai từ: “lao động”. Cũng may là tôi đã xác định và rất sẵn sàng để chấp nhận tất cả nên những cái khổ - cái khó, ở đó, tôi chịu được và lần hồi dần quen, thấy cũng vui. Bởi cuộc sống mới với thiên nhiên, khung cảnh…và những con người được gần gũi trên đó, không ngờ đã nảy sinh trong lòng mình bao mến thương và gắn bó. Để rồi thật bất ngờ, khi nhận ra: ngay cả những ngày ở tù, những ngày bị làm người mất tự do, cuộc sống vẫn muôn sắc màu và tràn đầy những điều mới mẻ, hay ho…Vẫn rất thú vị!

Phòng nữ của tôi có khoảng sáu, bảy chục người và trong số ấy có gần đến một nửa là không biết chữ. Đó là chưa kể hai phòng nam kế bên với quân số gấp ba lần như vậy. Họ, từ rất nhiều cuộc đời và cảnh sống khác nhau, khi còn ở bên kia sông và cũng như nhau khi đặt chân qua bên này, để gia nhập vào đội quân cưỡng bức lao động. Có sống chung, tôi mới nhận ra không phải tất cả là xấu và họ rất khó để thay đổi, nếu như sau khi ra trại vẫn…mù chữ. Lương tâm và máu nghề nghiệp trổi dậy, tôi mạnh dạn đến gặp ban quản lý trại xin mở lớp và được chấp nhận. Tôi hiểu cùng với quyết định này mình đã đánh đổi một cuộc sống ổn định và dễ chịu để lấy về những bất trắc, cực nhọc.

Tôi hồi hộp suốt thời gian chuẩn bị. Đêm, thường xuyên mất ngủ. Trăn trở bởi bao điều và nhớ - tiếc rất nhiều chuyện. Có những cảm xúc chưa hề bị mất đi. Những bồi hồi lo lắng quyện lẫn nỗi hân hoan chờ đợi. Những ngập ngừng… khi đứng cạnh bảng đen trong những giờ học đầu tiên. Giữa lúc thời tiết hãy còn thấm đẫm hơi hướng của mùa thu. Và bên ngoài cửa lớp: một chút gió se, một chút mưa nhẹ…thoang thoảng trở về, khiến không gian bỗng dưng hiền hòa và râm mát. Vào những ngày ấy, có khi nào ngờ, sẽ có lúc tôi rời xa tất cả. Tàn nhẫn quay lưng lại những tấm lòng tin tưởng yêu thương của đồng nghiệp, học trò…Tự cắt rời đời mình ra khỏi phấn trắng, bảng đen, sân trường, khuôn viên lớp… Tôi nào dám tin sẽ có lúc mình được trở lại thế đứng của một cô giáo như thủa nào. Vậy mà điều kỳ diệu ấy đã xảy ra.

Một khoảng sân trại, cái bảng đen mượn tạm bên ban quản lý, mấy bộ bàn ghế rồi những cái đèn hột vịt là tất cả những gì mà chúng tôi đã có trong những đêm học đầu tiên. Sự sơ sài, giản đơn không làm mất đi những cảm xúc dấy lên từ tâm hồn mỗi người. Vì nhiều lẽ, lớp học đã phải khai giảng muộn màng, khi mà tất cả những ngôi trường trên quê hương đang bắt đầu nghỉ hè. Tôi chùng lòng một chút để nhớ đến những tiết học đã đi qua đời mình, khi đứng trước mười lăm anh chị em học viên nơi đó. Khuôn mặt thơ ngây và hồn nhiên của các em tôi, ngày ấy, được thay bằng những khuôn mặt dạn dày, u xám hôm nay. Những khuôn mặt còn hằn in bao vết tích buồn thảm của một thời rong chơi hoang đàng. Tôi đọc được những nỗi niềm, tâm trạng… ở trên đó và vui biết bao, bởi đã thấy được những dấu hiệu của hy vọng. Của những vươn tới và nhiệt tình. Cũng phải khác chứ! Những cặp mắt ngước lên chăm chú hôm nay. Những cặp mắt tôi biết đã có lúc cuồng nộ, ươn hèn… Đã có lúc giương to, dữ dằn và đã có lúc khép lại, buông xuôi. Đã qua đi tất cả những hình tượng ấy để chỉ còn đọng lại ở đây những đôi mắt thiết tha nồng ấm. Những ánh nhìn chan chứa thương yêu. Các anh chị ngước lên nhìn chăm chú và tôi trông xuống ân cần. Chúng ta cùng bắt gặp trong mắt nhau những rung động. Cùng chia với nhau những xao xuyến, bâng khuâng của những tiết học. Học để biết chữ. Để có thể viết và đọc chứ không phải học để móc túi, cướp giật, đảo lừa, gian manh…

Tôi như run lên theo giọng đánh vần vấp váp của các chị, bàn tay cầm viết lóng ngóng của các anh. Bao tuổi đời u uẩn đã trôi qua cho những phút giây ban sơ ngượng ngập hôm nay thêm ý nghĩa. Dưới kia dòng sông Côn vẫn êm chảy. Cái êm chảy của sông đâu hẳn tự nhiên mà có được bởi có bao ghềnh thác trên dòng nước đi qua. Nước đã có khi biến hình, đổi dạng. Sông cũng đã từng quay cuồng, vật vã một đời sông. Ai đó đã nói đời người như một dòng sông. Mùa mưa bão lũ lụt của dòng sông đời tôi, của dòng sông đời các anh chị, phải chăng đã không còn, từ những tiết học đầu của chúng ta ở ngay giữa sân một cái trại cưỡng bức…Đó là những ý nghĩ, cảm xúc đã ùa đến với tôi vào đêm khai giảng lớp xóa mù đầu tiên ở trại. Một lớp học lạ nhất với những con người lạ nhất mà tôi đã được biết. Không lạ sao được khi mà mỗi học viên của tôi đều gắn liền với một tội danh bên cạnh một tính cách, một lối cư xử…chẳng giống ai. Rồi một cách nghe giảng, tiếp thu bài…cũng hết sức khác thường.

Trong số đó, ma mãnh nhất vẫn là thằng Hữu “điếc”. Thằng này hồi ở nhà nghe nói quậy phá dữ lắm nên được gia đình gửi lên trại. Chuyện điếc lác của nó kể có mấy ngày cũng chưa hết. Ai đời!!!. Cán bộ giao việc dễ như bóc đậu, phơi lúa là không có điếc mà giao việc khó như cuốc cỏ, làm phân…là điếc ngay. Nhìn cái cách nó đứng ì ra rồi cái mặt ngơ ngơ và tay thì sờ sờ lên vành tai ra kiểu: “không nghe” thì nghĩ là điếc, chứ thiệt giả làm sao hay? Cả phòng đau đầu với chuyện điếc của nó. Giả dụ: thấy mấy người mới có thăm nuôi là lo đi xin đồ. Mà hay chứ! Người ta “ừ” nhỏ xíu nó cũng nghe và lật đật cầm chén lại. Và nói “không” to đùng vẫn không nghe. Vẫn lật đật cầm chén lại. Còn Hữu có thăm nuôi thì dù bắc loa phóng thanh ngay tai: “Hữu có mắm ruốc không? Hữu có đường không? Hữu có bánh tráng không?…” nó đều điếc tuốt luốt. Hữu cũng điếc y hệt vậy, khi tôi kiểm tra để xếp lớp đi học. Thấy không xong, tôi phải cầu cứu đến cán bộ và rất chật vật chúng tôi mới bẽ gãy được tất cả các bùa phép của thằng này.

Nhưng hết thảy mới chỉ là khởi đầu. Vì sau khi đã chịu tới lớp, Hữu y hình như còn điếc nhiều hơn nữa thì phải với cái kiểu không viết, không đọc, không nhìn lên bảng. Điếc, khi phì phèo điếu thuốc rê to tổ bố. Điếc, khi thích bỏ cả hai cái chân dơ òm lên bàn. Điếc, khi xúi mấy học viên khác cùng…điếc như mình. Mỗi một đêm học, Hữu điếc một kiểu và tôi, quả thật: bất lực. Báo cáo cán bộ để Hữu bị phạt rồi nhốt vô tổ kỹ luật là điều tôi không muốn mà dạy biểu, nhắc nhở gì, Hữu cũng điếc hết vầy, tôi còn có thể làm được gì? Bởi đó, không ít lần chịu hết nổi tôi đã bật khóc, trước bao ánh nhìn cảm thông và xót xa của các học viên. Họ đã làm cho tôi vui mừng biết bao bởi sự tiến bộ rõ rệt và bởi, con số mười lăm học viên lúc ban đầu cứ tăng dần, tăng dần. Họ là vậy. Còn Hữu?

Theo học cả mấy tháng ròng, Hữu vẫn mù chữ. Hữu điếc nặng thêm dù không ít lần tôi tìm cách gặp riêng em, khuyên răn: “Cô muốn chuyện tốt cho em. Biết chữ rồi em sẽ khỏi cực mà sao em không chịu học. Không thương cô. Không nghe lời…”. Bút mực, đèn, dầu lửa được phát, Hữu đem đi đổi chác. Vở thì để xé hút thuốc rê dần dần. Hữu, khiến những nhiệt thành trong tôi giảm sút. Đâu phải chỉ có đương đầu với mỗi mình thằng này, tôi còn phải đối phó với bao nhiêu là bất mãn từ phía các học viên. Sự ngang ngược côn đồ của Hữu đã khiến cho tất cả như bị chạm nọc và nếu tôi không khéo xử, lớp học này sẽ ra sao? Ai mà biết được bên trong những con người đang rất chăm chỉ miệt mài ở đây, chứa đựng những điều gì? Hẳn là những quắt quay, điên cuồng… Hẳn lồng lộn sự trừng phạt xen lẫn những ơ thờ vô cảm. Tôi nhìn họ học hành nghiêm túc hằng đêm và tôi lo sợ…Có một cái gì đó khiến cho không khí lớp cứ bức bối thế nào và lạ, sự căng thẳng ấy chấm dứt ngay sau quả đấm của Phước “điên”. Hữu, không ngờ nên lãnh trọn. Cả lớp buông bút vỗ tay ầm ầm. Phước cúi đầu trước tôi xin nhận bất cứ hình thức kỹ luật nào và gầm lên, khi quay qua Hữu: “Tự vì ở đây tao ráng nín nhịn. Với lại tao nể cô chứ cỡ mày ngoài đời nghe Hữu. Tao bóp như bóp nhái nghe con!”.

Mùa mưa năm đó. Mùa mưa năm 1983 sao mà dữ dội và dai dẳng? Nếu không có những giờ bận rộn ở lớp chắc tôi buồn đến nhủn cả người, bởi không khí ướt nhẹp, lê thê… hằng đêm trên sông Côn. Mưa, tôi vẫn quyết lòng duy trì lớp dù các anh chị có vẻ trễ nãi. Lớp học nằm trong khuôn viên hội trường không gần chỗ ở nhưng cũng chẳng đến nổi xa xôi gì. Nhìn mọi người trùm áo tơi, tay xách đèn lết bết trong đất bùn nhão nhoẹt và dơ dáy, lặng lẽ ôm vở tới lớp lòng tôi dậy lên bao xót thương. Mưa thường khiến cho người ta trầm đi vậy mà Hữu nghe chừng như bộp chộp, nóng nảy hơn rất nhiều. Mưa, buồn buồn sao đó mà nó phá hung. Hữu lên tận chỗ tôi đứng để quét bùn lên bảng, làm hề…Chưa đủ nó còn chạy lung tung trong lớp. Vừa chạy vừa giả bộ tiếng vượn hú, chim kêu…Hữu tắt đèn của người này, giựt bút của người kia, liệng vở của người nọ…Sự bất bình của mọi người lên tới cực điểm. Minh “thẹo” xin tôi giải quyết. Anh ấy nghiến chặt răng nên tiếng nói thoát ra…gầm gừ: “Để nó tởn tới già…” Minh, hồi ngoài đời nghe nói đã lên tới vai vế đàn anh trong nghề cướp bóc. Tướng tá rất hung dữ nhưng lại thật hiền lành khi làm anh học trò…già. Tất nhiên là tôi không đồng ý dù sự giận dữ bùng lên khiến cho cái đầu cứ bắt sôi sùng sục. Rồi buổi học cũng kết thúc và mọi người lục đục ra về. Tôi giữ Hữu ở lại:

- Em muốn gì?

- Biết…

- Không được trả lời kiểu đó. Nghe chưa? Em muốn gì? Hữu.

- …

- Ngoài đó mưa. Có gì mà ngó. Dòm vô mặt tôi đây này và trả lời. Hả? Em muốn gì? Nói mau…

Hữu dợm chân đứng lên mấy lần nhưng đều bị tôi đẩy vai bắt ngồi xuống. Có lần Hữu đã đi được mấy bước nhưng tôi níu chặt áo bắt nó quay lại. Hữu tỏ vẻ ngạc nhiên. Chắc nó không ngờ tôi dữ dằn đến vậy? Thấy chơi bài điếc không xong, Hữu xoay qua chơi bài liều mạng. Lén lúc tôi không để ý, Hữu chạy thục mạng ra ngoài trời. Tôi cũng không vừa băng mưa chạy theo. Vừa chạy vừa té đùi đụi. Té, đứng dậy chạy tiếp. Sân trại bùn lầy, vắng và tối nên đâu thể thấy gì chỉ nghe quanh mình những tiếng huỳnh huỵch, huỳnh huỵch…rồi tiếng người té, tiếng chạy thì biết đó là Hữu. Tôi với nó lần quần quanh sân trại nhớp nháp như vậy cả đổi thì “bùm” và tiếp sau đó là tiếng la thất thanh: “Cô ơi!”.

Tôi bị rớt xuống cái hào mương rất sâu, sát bên doanh trại. Chân tôi bị trật khớp và cả người xây xát. Những vết thương nhiễm trùng khiến tôi bị sốt cao. Tôi báo với cán bộ là Hữu học yếu nên phải giữ lại để kèm thêm, ai dè chừng về sơ ý nên bị té. Cán bộ cũng có gặp mấy học viên để điều tra. Họ không nở làm tôi bị khó khăn và Hữu bị xử lý nên cũng khai đại khái như vậy. Rồi cán bộ cũng cho qua. Với tôi, những ngày điều trị bệnh lại là những ngày hạnh phúc. Mưa dầm dề vậy mà lúc nào quanh giường tôi cũng có người thăm. Nhiều nhất vẫn là những học viên của lớp xóa mù. Đúng ngày thứ năm sau tai nạn, vào buổi trưa, Hữu xuất hiện. Tôi đang trùm mềm kín đầu thì nghe tiếng của Mai “bối rối”: “Mày cũng biết đường qua đây thăm cô há Hữu?” vội tung mền ngồi bật dậy. Tôi không dấu được niềm vui: “Em đó há Hữu?”. Tôi nói nho nhỏ vậy mà nó nghe và “dạ’ ngon lành. Dạ xong thì đứng như trời trồng và khóc sao mà khóc. Nó nói em không dám…điếc nữa. Em chịu đi học rồi. Cô dạy cho em nghe. Và Hữu hết điếc thật. Hết, sau tiếng “dạ” ngoan ngoãn đổi đời. Rồi nó cũng đọc, viết được còn rắn mắc viết thư tán đứa này, tán đứa kia. Cà lắc hết biết là cái thằng này.

Tôi dạy thêm mấy lớp xóa mù nữa rồi hết án. Qua sông, trở về cuộc đời mới thấy chống chếnh, hoang mang làm sao! Mới thấy quãng thời gian ở trại với ngày đi lao động, tối về làm cô giáo sao mà bình yên. Hữu ra trại trước tôi mấy tháng và là người tôi gặp đầu tiên khi trở về. Cái thằng tưởng lết bết vậy mà thiệt hay. Đã mua được chiếc xích lô để chở khách và đôi hồi tới nhà chở tôi đi đây đó. Miệng Hữu dẻo quẹo và cái tai thiệt thính chứ! Thế nên mới nghe ra tiếng gọi của tình yêu rất nhanh và mau mắn cưới vợ. Ba năm liền vợ nó có bầu rồi con cái, cuộc sống, cửa nhà, công chuyện…Một mình Hữu chèo chống, xoay trở. Có lần nó nói dỡn với tôi là đôi hồi khổ quá cũng muốn… điếc lại cho khỏe nhưng không dám. Quá bận rộn, tất tả, những lần Hữu tới thăm tôi cứ vơi bớt dần. Những học viên khác cũng thế. Hồi đầu, ngày nào nhà tôi cũng rập rình những vị khách cứ bắt mình phải đề phòng. Mẹ tôi canh chừng bắt mệt, phải kêu lên: “Hoặc là bố mẹ đi để con kêu mấy người đó về ở cùng hoặc con dọn ra công viên sống với họ. Cho yên…”

Cũng như Hữu, họ thưa thớt đến thăm tôi nhưng khác Hữu, họ rất nhanh trở lại cuộc sống hoang đàng cũ. Phước “điên” bị aids chết, Minh “thẹo” tù tới – tù lui, Mai “bối rối” lại ra chợ, bến tàu, nhà ga. Lại tiện cái gì theo cái đấy: móc túi, làm điếm, xin đểu… Những mảnh đời, những vướng víu và bao hệ lụy. Ngẫm ra, chuyện hoàn lương mới khó làm sao! Thi thoảng được gặp lại họ, tôi thấy buồn nhiều hơn vui. Để rồi kỷ niệm về những tháng năm làm cô giáo xóa mù trên trại, thoắt lại quay về… ./.












© tác giả giữ bản quyền.
. Tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi từ Quy Nhơn ngày 18.05.2009.
. Xin ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.