I- VIẾT CHO CÁC CON TÔI



Ngày 27 tháng 7 nǎm 1981

Ba viết cho các con mà rất ít hy vọng là các con sẽ đọc được. Liệu sau này các con có còn nhớ tiếng Việt, yêu tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ của mình? Khi ra đi, Khanh chỉ học lớp hai, Phùng Khánh lên nǎm tuổi và Vân Khánh chỉ mới có mười bốn, mười lǎm tháng góp mặt với đời. Đến hôm nay gia đình mình đã ǎn nhờ ở đậu trên đất người vừa đúng một nǎm. Ba me còn mang mộng trở về cùng với các con, dù sớm hay muộn, cho nên ba đã cố gǎ́ng dành chút thì giờ dạy cho Phùng Khánh học vần và dự định trong tháng hè sǎ́p tới chỉ cho Khanh thêm chút đỉnh Việt vǎn. Còn Vân Khánh, con Bê con (tên gọi thân yêu trong gia đình) thì sau ba tháng ở nhà trẻ đã trộn lẫn tiếng Việt với tiếng Pháp: "Me, regarde con ruồi"; khi cáu kỉnh nó thét lên: "Pour toi, voilà." Tại sao ? Nó muốn nói gì vậy? Ba me đặt câu hỏi và me đã đề xướng một giải đáp mà ba cho là có thể đúng (các con xem, me thông minh hơn ba trong cách suy đoán): có lẽ khi ở nhà trẻ, trẻ con tranh giành nhau đồ chơi nên các cô giữ trẻ phải can thiệp, dàn xếp việc gấu ó của chúng bǎ̀ng cách tìm vài món đồ chơi khác, ném cho đứa nào bǎ́t nạt và bảo rǎ̀ng "Đấy, của mày đấy!" (đừng giành của người ta!)

Vốn liếng hiểu biết về tiếng mẹ đẻ của các con chỉ có chừng ấy, không biết các con có chịu phát triển không hay chỉ bǎ̀ng lòng dùng ngoại ngữ như hàng vạn đứa trẻ Việt-Nam khác hiện đang sống ở nước ngoài, nơi họ được cưu mang với tư cách tị nạn chính trị và trên thẻ tùy thân của họ khoản trống dành để ghi quốc tịch được chú là "vô tổ quốc" (apatride) trong thời gian chờ đợi được cứu xét để trở thành công dân Pháp, công dân Đức, công dân Mỹ, công dân Gia nã đại ... gốc Việt. Chỉ nǎm mười nǎm sau, trên các xứ sở ấy, người ta sẽ gặp vô số khuôn mặt Á đông nói chuyện với nhau bǎ̀ng một thứ tiếng nước ngoài, điệu bộ hệt như người Tây phương và xử sự cũng vô tình(1) như người Âu Mỹ; cho nên ba me có những trông chờ hết sức mâu thuẫn: vừa mong cho các con thành thạo ngôn ngữ xứ người lại vừa ...sợ các con giỏi tiếng người mà bỏ quên tiếng mẹ! Không mong cho các con giỏi tiếng người sao được khi Phùng Khánh mỗi ngày về thỏ thẻ với ba rǎ̀ng mấy đứa bạn ǎn hiếp nó mà nó chǎ̉ng biết làm sao mách cô; một hôm bạn làm bẩn áo nó, nó ngồi khóc và bị cô giáo mǎ́ng cũng chỉ đực mặt không biết giải thích sao cho xuôi; khi Bê con mỗi chiều về nhà đòi uống nước như mới đi cày về -việc này có mối liên hệ rất có ý nghĩa với việc các cô giữ trẻ cứ mãi mách ba rǎ̀ng mỗi ngày nó đái ướt bao nhiêu là quần!(2)

Ngôn ngữ là trang bị thiết yếu của kẻ lưu vong. Viện Nghiên cứu Quốc gia về Nhân khẩu học(3)có làm một thống kê nhỏ liên quan đến vấn đề hội nhập vào đời sống Pháp của các kiều dân. Bản thống kê cho thấy rǎ̀ng về phương diện ngôn từ, dân di cư trong cố gǎ́ng thích ứng với đời sống nơi đất mới, sau một thế hệ sống trên xứ người, bọn ngoại nhân đó đã mất đi một ít khả nǎng sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ; sự mất mát được cụ thể hóa bǎ̀ng những tỷ số sau đây:

- Đối với dân Tây Ban Nha, mất ................... 80%
- Dân Phi châu da đen, mất .......................... 75%
- Dân Bồ đào nha và dân Việt Nam, mất ...... 55%
- Dân các nước Bǎ́c Phi, mất ......................... 50%

Trong tài liệu này, chúng ta không tìm thấy phần giải thích tại sao giữa hai anh chàng láng giềng của Pháp mà anh Bồ Đào Nha lại ít đánh mất tiếng mẹ hơn anh Tây Ban Nha, mặc dù cả ba anh đều có cùng một gốc ngôn ngữ. Nhưng lý do chính cho sự mất mát tương đối nhẹ của người dân Bǎ́c Phi (Algérie, Tunisie và Maroc), theo ý ba có lẽ là nhờ ý thức chống trả và bảo vệ ngôn ngữ gốc của những giống người này đã bǎ́t nguồn từ lâu, khi họ còn là thuộc địa của Pháp, thời kỳ mà ngôn ngữ hành chánh là Pháp vǎn nhưng ngôn ngữ trao đổi hàng ngày giữa mọi tầng lớp dân chúng vẫn là tiếng Ả -rập. Tỷ số 55% dành cho nhóm người Việt di cư, nếu chính xác thì là một điều đáng hãnh diện. Người Việt Nam học tiếng Pháp chǎ̉ng khác hoàn cảnh của anh thợ máy một buổi phải làm công việc của anh nông dân vác cày ra ruộng, chǎ̉ng có chút gì dính líu nhau. Giữa hai ngôn ngữ, từ cấu trúc đến vǎn phạm hoàn toàn khác biệt, đó là chưa kể đến phương diện phát âm giữa một ngôn ngữ đơn âm và một đa âm, khoảng xa cách thật là ngàn dặm. May thay, ở một xã hội tiên tiến về kỹ thuật, người ta đã tổ chức việc giải quyết các nhu cầu tiêu thụ một cách thuận lợi, thuận lợi đến độ con người gần như không cần mở miệng mà cũng có thể mua bán trao đổi thụ hưởng mọi tiện nghi của thị trường tự do. Vì vậy, đối với một số người, nhất là những kẻ đã lớn tuổi và kém khả nǎng học vấn, vấn đề hội nhập qua cố gǎ́ng thích nghi ngôn ngữ sẽ không được coi trọng. Đối với các con, ngược lại, sự khó khǎn không phải là hội nhập nhưng là hội nhập mà vẫn duy trì những tinh hoa của vǎn hóa và vǎn minh mang theo từ đất mẹ. Cũng nên nhận rǎ̀ng hoàn cảnh của người Việt không thuận lợi như người Trung Hoa hay các dân tộc Bǎ́c Phi. Cộng đồng của người Trung Hoa ở đâu cũng lớn, đến nơi nào họ cũng tập họp lại với nhau, giúp đỡ đùm bọc nhau, do vậy tập tục truyền thống dễ được vun xới giữ gìn. Người Bǎ́c Phi chǎ̉ng những đông, lại không xa quê hương lǎ́m, chỉ cần vượt Địa trung hải là họ tìm thấy đất tổ; phút giây đầu tiên bǎ́t gặp lại quen thuộc đủ cho họ những xúc cảm mạnh mẽ, đó là lý do xui khiến họ ôm ấp chặt chẽ hơn. Nhưng người Việt-Nam chúng ta thì bơ vơ(4)hơn nhiều lǎ́m, và thêm vào đó (điều này ba không dám cả quyết mặc dù đã từng nhận ra đôi khi) tâm lý vọng ngoại do mặc cảm tự ty, hậu quả của đời đời kiếp kiếp nô lệ cho người khiến ta vứt bỏ không thương tiếc những gì thuộc về ta và mở tay chào đón những gì thuộc về người mà chǎ̉ng hề đǎ́n đo hơn thiệt.

Ta có những tốt đẹp của ta, người có cái hay ho của người. Nếu ta biết thu nhận bǎ̀ng chọn lựa ta sẽ sở đǎ́c được vô số lợi điểm. Trước nhất, hãy giang xa một chút tinh thần trọng vật chất (matérialisme). Chịu ảnh hưởng truyền thống triết học Trung Hoa, thế hệ cha anh chúng ta áp dụng sát nút quan điểm coi thường vật chất (hình ảnh lý tưởng của người quân tử theo Nho giáo: "Quân tử thực vô cầu bảo, cư vô cầu an"; quan niệm diệt khổ đau bǎ̀ng cách diệt dục vọng trong Phật giáo), qua bao nhiêu đời lời dạy xưa có lẽ nhạt phai nhiều nhưng vẫn có giá trị của cái thǎ́ng để những bạn trẻ hôm nay trên xứ người sẽ không xả hết tốc lực chạy theo những mời gọi của đời sống tiện nghi.

Ta sống "tình cảm" hơn người: lời khǎ̉ng định này có hơi hồ đồ. Thứ nhất, cái gọi là tinh thần "cartésien" của người (đối lập với lối sống "tình cảm" của ta) có rất nhiều ưu điểm, chính nhờ tinh thần ấy mà Tây phương đã cải tiến được xã hội, qua những tiến bộ vượt bực về khoa học kỹ thuật cũng như nhân sinh. Hơn nữa, một xã hội tình chưa chǎ́c là một xã hội lý tưởng. Thôi thì hãy thu nhỏ vòng tình cảm lại trong phạm vi cǎn bản là gia đình. Hơn nữa, theo nhận định của các nhà xã hội học Tây phương thì sở dĩ tình gia đình được duy trì bền chặc trong một vài quốc gia thường là nhở ở tình trạng kinh tế ...lạc hậu. Vì nghèo túng, các thành viên trong gia đình phải dựa vào nhau mà sống, lòng ích kỷ không có đất phát triển và do đó mối liên hệ gia đình trở nên mật thiết. Ngược lại, trong điều kiện thuận lợi, con cái vội vàng thoát ly gia đình, xây dựng riêng tổ ấm, và phát triển tư tưởng sống chết mặc bay. Để chứng minh cho lập luận đề xướng, họ mang xã hội Nhật Bản ra minh chứng: chưa có một xã hội nào nghiêm minh và luân thường cho bǎ̀ng xã hội Nhật trước chiến tranh thứ hai, nhưng vì hai quả bom nguyên tử ném xuống đất Phù Tang và chính sách viện trợ phát triển kinh tế biến thù thành bạn của Hoa Kÿ, chỉ trong vài thập niên xã hội Nhật đã hoàn toàn biến dạng, y hệt như bất cứ một quốc gia Tây phương nào. Tư tưởng Phật, Lão, Khổng bây giờ đi đâu? Vấn đề cấp thiết của ta hiện nay không phải là tìm xem những luận cứ trên đây đúng hay sai, nhưng là tìm một giải pháp hợp lý cho cuộc sống mới và đầy cam go này. Hãy giả thiết rǎ̀ng những lập luận ấy đúng, vậy tại sao ta không chịu duy trì chút đỉnh tình cảm êm ấm của những kẻ thân thuộc khi ta đã biết là vì lý do nào chúng có thể phôi phai?

* Viết những giòng này cho các con, ba nhǎ̀m mục đích nào?

Các con ơi, người ta không thể sống mà không suy nghĩ, nhưng đa số chỉ suy nghĩ rồi thôi; ba các con không dừng lại ở đó. Ba không muốn chỉ nói cho mình nghe mà cho cả người khác nghe. Đó là cái nghiệp, cái nợ. Vì cái nghiệp, cái nợ đó đã khiến ba , khi tuổi còn trẻ, tưởng rǎ̀ng mình sẽ trở thành nhà vǎn. Điều đó ba đã không có duyên may làm được. Trong đời có những kẻ say mê nghệ thuật đến độ sǎ̃n sàng hy sinh mọi sở hữu, ngay cả sở hữu xác thân, để có thể hoàn toàn quên mình cho nghệ thuật. Ở phương đông ta, có kẻ tự tay chọc mù mǎ́t để tiếng đàn đạt đến tuyệt đỉnh của âm và điệu; ở phương tây cũng vậy. Sau này, các con sẽ có dịp biết đến Paul Gauguin chǎ̉ng hạn, người họa sĩ dám lìa bỏ gia đình, dám quên đi đứa con gái mà ông thương yêu, sang miền Tahiti vẽ những bức tranh bǎ̀ng cả sức sống đời mình và cuối cùng tuyệt vọng (vì cái gì ai biết được, ngoài ông?) đành tự tử. Phần ba, chí ba không lớn. Ba không dám hy sinh một thứ gì cả nên ba đã không làm được gì cả. Không phải chỉ có nǎng khiếu là làm nên mọi sự; thành công đòi hỏi nhiều yếu tố khác nữa: ý chí, nghị lực và cơ may. Ba không có nghị lực lại thiếu may mǎ́n. Cuối cùng ba bǎ̀ng lòng làm một công nhân thấp kém trong một xưởng kỹ nghệ vì trách nhiệm gia đình trĩu nặng vai ba buộc ba phải lo miếng ǎn, manh áo, giấc ngủ, viên thuốc cho các con. Tuy nhiên, nghĩ cho cùng thì cũng hay: sống một đời sống khiêm tốn nhưng ba đã làm đẹp được nó. Ba đã sống đề huề giữa trái tim và lý trí, đã lùi xa những đua chen vật chất để tình người còn có chỗ chen chân; tay ba quệt mồ hôi trên trán nhưng tư tưởng ba vẫn thanh cao trong sáng. Ba nhất định không thể lẫn vào bùn được. Trong cuộc sống tha phương cầu thực, ba muốn cho các con tìm thấy chút ấm cúng, chút màu mè, các con nhận ra dần ý nghĩa của đời sống, các con biết thưởng thức những thú vui tinh thần và nhờ vậy bớt bị lôi cuốn theo vật dục, như những cơn lũ hung dữ có sức nhận chìm lương tri con người.
Các con đang sống trên đất Pháp. Có thể khi đọc những giòng chữ này các con đã quen coi nước Pháp như tổ quốc các con; điều đó không phải là một lỗi lầm: kẻ trung chính là kẻ biết tri ân. Tuy vậy các con cũng nên biết rǎ̀ng các con là người nước ngoài, gia đình chúng ta đến đây bơ vơ, xa lạ. Dù sống trong một thành phố có hàng vạn dân nhưng ta như đang ở trên hoang đảo. Chung quanh ta nhung nhúc là người nhưng họ không cùng chung một ngôn ngữ, một nếp sống, một cội nguôn như ta; họ sống khác, họ suy nghĩ khác, họ hành động khác; ta gặp họ trong hội vui, ta gặp họ trong hàng ǎn, ta gặp họ cùng mua sǎ́m ở siêu thị..., họ cũng sinh hoạt đấy nhưng nếp sinh hoạt của họ có gì giống ta đâu? Hãy tưởng tượng một ngày nào ba me nǎ̀m xuống vĩnh viễn. Nhờ ơn Trời, mọi con người sinh ra trên thế gian này đều có phần bánh của hǎ́n. Nhưng thật ra không phải chỉ có chừng ấy. Một khi mọi sự yên ổn hǎ́n sẽ tự đặt những câu hỏi xa hơn việc bǎn khoǎn về cái ǎn cái mặc hàng ngày, chǎ̉ng hạn hǎ́n từ đâu tới và sẽ về đâu. Tập giấy này sẽ giúp các con, an ủi các con phần nào khi bên cạnh các con chǎ̉ng còn hai khuôn mặt sinh thành. Ba hy vọng ít ra có một trong các con đọc được và hiểu được chút ít mọi điều ba viết ra. Các con nên coi đây là lời ba me mặc dù chỉ có mình ba viết. Ba chǎ́c rǎ̀ng me sẽ đồng ý từng lời ba viết ra vì trong đời chúng tôi nếu bỏ ngoài những dị biệt nhỏ nhặt, chúng tôi đã có được một hòa đồng rất lớn về tinh thần. Các con nên tự hào về điều này: gia đình mình tuy nghèo khó, gặp nhiều trǎ́c trở gian nan, không thiếu những phút gay go đe dọa tan nát mà ba me nhờ chút lương tri được nuôi dưỡng qua suy nghiệm, qua những thực tế dập vùi, đã có thể "bỏ chín làm mười"... nên rốt cuộc chúng ta vẫn sống hòa hợp đầm ấm.

* Ba sẽ viết cho các con những gì?

Tuổi trẻ của ba, ba quên gần hết. Có vài điều ba nhớ nhưng không chính xác và không có cách gì để kiểm chứng được. Ông bà rất xa ba: ông quá nghiêm khǎ́c nên ba không thể gần gũi; bà thì mất sớm nên ba không kịp làm nũng bǎ́t bà kể lại "thuở xưa" của ba (phải già lǎ́m người ta mới biết làm nũng; lúc bé ta chỉ vòi vỉnh, mè nheo thôi); còn các cô (những bà chị của ba) thì cũng chǎ̉ng có bao nhiêu điều để kể cho ba nghe vì phải yêu thương âu yếm lǎ́m mới có thể nâng niu quá khứ kẻ khác được. Cho nên ba lạc lõng ghê lǎ́m trong cố gǎ́ng tìm lại quá khứ mình. Rất nhiều lần trong đời, ta bổng thèm quay về quá khứ, lục tìm những kỷ niệm cũ để tìm chút cảm giác lâng lâng vì vui hay buồn bởi chuyện đã qua bao giờ cũng rất nhẹ nhàng. Trong một lúc nào đó giữa những phiền trọc của xã hội vật chất, những mè nheo trong nổi sống nhiêu khê và giữa lúc những sợi tóc đen cứ rụng dần từng nǎ́m, thì vì cớ chi mà hình ảnh của cây súng gỗ, của vài cái hộp diêm quẹt rỗng mà ba mân mê trong bàn tay tuổi nhỏ bổng hiện lên trong trí ba rõ môn một tưởng như vừa xảy ra mới hôm qua.. Đang khi ta hục hặc với một hiện tại rối rǎ́m, loại cảm giác hiu hǎ́t vô hại ấy là liều thuốc hóa giải, cho ta chút can đảm tiếp nối thêm một đoạn đời vô nghĩa nữa. Thay vì mua một máy quay phim thu các sinh hoạt của các con, ba chọn lôi thu hình khác: ba sẽ kể cho các con nghe về tuổi nhỏ các con, về ông bà cha mẹ các con, về gốc gác về đất nước chúng ta. Tuổi trẻ của các con đã trôi qua như thế nào, chịu những dập vùi nào, đón nhận những bất ngờ nào, ba sẽ cố gǎ́ng ghi nhận những gì xảy ra trong gia đình chúng ta, được chừng nào hay chừng ấy. Ba không có nhiều thì giờ, sức khoẻ kém, tinh thần giao động (Ôi cái giao động nào to hơn cái giao động này, cái giao động của một gốc cây già đã đơm hoa kết trái bao nhiêu mùa trên mảnh đất quen thuộc bổng chốc bị bứng lên mang trồng nơi khác! Các con là những chồi non, có bị bứng đi thì rồi qua vài hôm héo úa, rể lại hút nhựa mới và chồi sẽ lại bén cành sẽ lại tươi, nhưng thế hệ của bọn ba thì biết đến bao giờ?)
Trước khi rời quê hương, ba cũng đã có viết cho các con ít nhiều nhưng ba đã bỏ lại nhà vì tưởng rǎ̀ng người ta sẽ không cho phép ba mang theo (cái tâm lý hãi hùng của một thí sinh hán học sợ phạm trường qui!). Tập đó ba bǎ́t đầu viết trong những ngày ba đi công tác thủy lợi ở một nơi xa thành phố. Những đêm mǎ́c võng ngủ nhờ trong chuồng bò nhà người, ba nhớ các con và mong chờ em bé sǎ́p ra đời, em Vân Khánh. Me các con đang nǎ̀m ở nhà một mình với cái bụng quá chín tháng, ngày ngày vẫn phải thức khuya dậy sớm, nhồi bột làm bánh mì bán kiếm sống. Cái đêm mà gió nam thổi dữ dội, thổi lung lay chuồng bò nhà người, thổi lật bật những tấm tranh đǎ́p vội trên mái lá nhà nghèo, thổi khô chiếc áo cánh và chiếc quần cộc ba mới giặt lúc xẩm tối sau một ngày dài đào mương đǎ́p bờ, nǎ̀m nghe tiếng một con chim đêm kêu, chờ giấc ngủ, ba bổng thấy cần phải viết cho các con. Cũng chính đêm ấy ở nhà, me một mình trở dậy lúc bốn giờ sáng, dặn dò Khanh giỗ em ngủ và cho em ǎn mấy khoanh sǎ́n mì luộc sǎ̃n, rồi lặng lẽ xách sac áo quần đi đến một nhà hộ sinh tư còn sót lại sau những đợt "cải tạo công thương nghiệp tư sản tư doanh" của nhà nước xã hội chủ nghĩa, để chờ giờ sinh em bé. Trong những ngày chạy loạn chúng tôi đã đánh mất mọi ghi chép cũ bao gồm những giai đoạn trước đó, nhất là giai đoạn mà ba me gặp nhau, yêu nhau rồi đến lúc các con ra đời, nhưng ba sẽ cố nhớ và ghi lại, kể cả những chi tiết vụn vặt lẩm cẩm, vì theo ba nghĩ, khi khả nǎng của ký ức ta không với tới được thì những chi tiết vụn vặt lẩm cẩm kia hóa ra quí giá. Chiếc bánh bông lan chấm vào ly cà phê đã giúp nhà vǎn sống lại quá khứ, những trang giấy sau đây chǎ̉ng lẽ không gợi chút gì cho các con? Chúng sẽ giúp các con hiểu ba hơn, hiểu những hoài vọng, những mất mát mà ba me phải nhận chịu. Ba hy vọng đây cũng là hình thức giáo dục các con: muốn trở nên "người", trước nhất người ta phải biết yêu thương đã. Và, chǎ̉ng phải yêu thương phát xuất từ vòng tròn nhỏ bé nhất là chiếc nôi và những khuôn mặt bâu quanh chiếc nôi sao? Ba tin rǎ̀ng con người được gọi là tốt là con người biết yêu thương. Hãy yêu thương cho đủ cho đầy rồi mọi hành động của các con, bǎ́t nguồn từ tình cảm quan thiết đó sẽ đều đúng vì được hướng dẫn bǎ̀ng cây kim chỉ nam mầu nhiệm kia. Cho nên bài học đầu tiên và bài học cuối cùng ba truyền cho các con là bài học yêu thương.

* Ba me mong đợi gì ở các con ?

Ba lập gia đình muộn; ba có con còn muộn hơn nhiều. Có lẽ vì vậy mà ba chǎm chút các con nhiều hơn các người cha khác (hoặc cũng có thể là do bản tính) và đặt nhiều hy vọng vào các con. Người Á đông coi trọng gia đình lǎ́m. Có thể lớn lên trong nếp sống Tây phương dần dần các con sẽ thấy bực mình vì sự ràng buộc này. Nhưng đến một độ tuổi nào đó, hoặc khi đã quá mệt mõi, trong một phút, các con sẽ thấy ra giá trị của tình gia đình. Ba xin nói rõ để các con hiểu là thứ tình của cha mẹ dành cho con cái theo quan niệm của ba là hoàn toàn vô vụ lợi, hoàn toàn dâng hiến.. Dù vậy, nó cũng còn tùy thuộc ở quan niệm sống, để tình ấy gây vướng víu hoặc mang lại êm ấm cho kẻ nhận . Vì quá thương yêu con cái, các bậc cha mẹ nhất là ở Á đông ta, muốn cho con mình đi đúng con đường mà mình đã vạch sǎ̃n để đạt mục tiêu mà mình cho là tốt nhất, hay nhất; nhưng họ quên rǎ̀ng có khi con đường do họ vạch chǎ̉ng quyến rủ các con họ chút nào: nếu đứa trẻ ngoan ngoản vâng lời chỉ vì muốn vui lòng cha mẹ, có thể nó chǎ̉ng thành công như sự mong chờ của cha mẹ nó -bởi vì chǎ́c gì nó có cùng một yêu thích, một quan điểm, một lý tưởng như cha mẹ nó; cũng có khi đứa trẻ sẽ cãi lại cha mẹ bǎ̀ng cách này hoặc bǎ̀ng cách khác, chống đối một cách dữ dội hoặc thầm lặng tự phá hoại đời nó... Cha mẹ khổ sở thất vọng, tình phụ tử mẫu tử không còn, gia đình tan nát. Vì hiểu như vậy, ba để các con tự do chọn lựa con đường mai sau. Ba me không muốn can thiệp vào sự chọn lựa của các con: tự các con sẽ làm việc ấy và các con sẽ chịu trách nhiệm về chính sự chọn lựa của mình. Nếu ba me có nhǎ́c nhủ các con hàng ngày, các con nên coi đấy như những đề nghị, như lời khuyến cáo đồ chừng vì các con còn non dại quá đấy thôi. Cũng đừng nên nghĩ là ba me dạy các con; đúng ra ba me chỉ đề nghị với các con những điều mà chúng tôi cho là đúng; nhưng trong khi xử sự với tư cách hướng dẫn đó ba me đã học nơi các con rất nhiều: học cách đối xử với các con, học cách giải quyết những khó khǎn mà các con phải đương đầu (những khó khǎn ấy không nhất thiết phải là những khó khǎn mà ba me đã gặp -thời thế đã khác, hoàn cảnh đã khác thì cách suy ngĩï cũng phải đổi khác)... Tóm lại ba me phải học làm người trong một xã hội mới, phong tục mới, vǎn hóa mới; chúng ta đều là những kẻ tập sự vào đời, ba me già và các con trẻ. Ngoài ra, khó mà định nghĩa thế nào là thành công trong cuộc sống. Thành công, theo ý ba, không phải là chiếm một địa vị tốt trong xã hội, kiếm được nhiều tiền, có cô vợ đẹp hoặc anh chồng nổi tiếng; thành công có lẽ là được quyền làm công việc mà mình thích, là mỗi phút giây có mặt trong đời được nuôi nấng bởi hơi thở của đam mê và nhận ra rǎ̀ng sự có mặt của mình không đến nổi vô ích, vô vị -không những không vô ích không vô vị cho chính mình, cho gia đình mình, cho những kẻ sống kề cận mình mà nếu có thể hãy nới rộng cái vòng tròn ấy ra xa hơn, rộng hơn...

Câu chuyện nghiêm trang đến đây đã chấm dứt. Bǎ́t đầu từ đây ba sẽ kể cho các con nghe về người về việc, về những gì xảy ra chung quanh ta trên đất nước xa lạ này. Tính chất xa lạ đó sẽ mất dần dần cùng với sự trưởng thành của các con. Xứ này là xứ của tự do, của dân chủ. Để dễ dàng hội nhập vào không khí tự do, ba nghĩ điều kiện đầu tiên nên có là thái độ cởi mở: ba sẽ ném bỏ giọng điệu nghiêm trang và tập cười cợt cùng người...

... CÒN TIẾP ...











© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải trên Newvietart.com theo nguyên bản của tác giả gởi từ miền Nam Pháp ngày 15.05.2009. . Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.