Au Dela Des Nuages - tranh của Julie Avignon










































Lời Tác Giả

       
Câu chuyện tình có thật, thánh thiện, chân thành và xúc động của công chúa Mai Hoa và cha cố Tây Ban Nha Cevallots diễn ra trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI, đã trao cho tôi cảm hứng sáng tạo tiểu thuyết Mây Trắng Tình Yêu với ý tưởng khám phá cuộc hành trình hướng thượng của con người: từ đời sống vật chất- đời sống xã hội… đến đời sống tinh thần cao siêu thần thánh… từ thể xác đến linh hồn…
        Những trang viết phảng phất hồn Kinh Thánh là chất liệu tinh hoa của tiểu thuyết, dựa trên câu chuyện thật và là sự giao thoa giữa hai nền văn hóa Á- Âu. Những chi tiết về cuộc sống của các nhân vật và không gian, thời gian trong tiểu thuyết hoàn toàn ước lệ, là bông hoa nghệ thuật… nở ra cuộc phiêu lưu tâm trí của con người hiện đại. Nghệ thuật của tiểu thuyết là những âm vang điệp trùng của những câu chuyện được kể với những giọng điệu khác nhau, hòa thành giai điệu tình yêu tỏa sáng…
        Tiểu thuyết dành cho những ai đã từng yêu, từng sống như một cá nhân độc lập, tự do trong hình khối của cây thông đứng thẳng, vút lên trời, biểu tượng của triết lý phương Đông ” Thiên- Địa- Nhân” hợp nhất… và cả những ai mong muốn được sống, được yêu như vậy.

                 Bên Hồ Gươm mùa Giáng Sinh 2005

                 Mai Thục




Chương 2


Trống điểm canh năm. Tiếng gà xao xác gáy. Lý được lệnh cùng hai người lính dẫn ba ông Tây về Yên Trường (Thanh Hóa). Họ xuống con thuyền gỗ hai đầu vút nhọn lao ngược dòng sông. Cevallos ngắm đất trời Đại Việt. Hai bên bờ sông, ruộng mía, nương dâu, rau màu tươi tốt. Những người đàn bà lúi cúi lưng còng xuống gần mắt đất cuốc cỏ, bón cây, bóng họ mờ trong sương mù, gió rét. Càng ngược lên, sông càng gần với núi, dòng nước xoắn cuộn vào nhau. Núi chồng lên núi, vút nhọn chập chờn vẽ lên bầu trời màu xanh lam và màu đen thẫm. Màu xanh là nơi ngự của thánh thần hiện lên mờ mờ, ảo ảo trong sương sớm. Màu đen nặng nề phủ lên đường chân trời những hình khối đồ sộ, kỳ quái, nơi hoành hành của quỉ Sa- tăng và quái vật. Chúng mượn muôn hình thù của núi sông mà ẩn hiện. Này đây bộ mặt của quái nhân đầu bò, miệng rắn… và kia những con vật lông lá lởm chởm khắp người, đứa chột mắt, đứa thọt chân, đứa phình bụng, đứa gầm rống rít, đứa có hai lỗ mũi rộng bằng cái hố đang phả hơi độc lên trời… Chúng là hổ, báo, chó rừng, lợn rừng, sư tử, trăn tinh, bọ cạp, sâu róm, yêu ma…Chúng là bọn thích rong chơi, khát máu người, mộng làm vua chúa của rừng hoang. Hai chỏm núi đen xì kia có hình của gã hai đầu, mặt thú. Gã giang tay vung kiếm loạn xạ. Những hình thù khác chồm dậy, rú lên tiếng hô hét man rợ. Những cuộc giao tranh hỗn loạn diễn ra. Rừng bốc cháy. Những ngọn núi đen ngòm che lấp ánh trăng sao. Cevallos nhắm mắt lại. Chàng thiếp đi trong cú sốc tưởng tượng. Bỗng một làn gió đưa hương đánh thức chàng dậy.

Bầu trời dần sáng lên. Những tia nắng vàng lấp lánh. Đàn chim bay qua, tiếng hót rộn ràng. Hương thơm từ không trung sà xuống vuốt ve khuôn mặt tê dại vì rét của Cevallos. Làn hương thơm đằm thắm tràn ngập tâm hồn chàng. Hương của cây hoa gì nhỉ? Chàng thầm reo lên’’ Hương trầm. Đây là xứ sở của trầm hương. Cây gỗ trầm trong rừng già thâm u ngàn năm, nhẫn nại tinh cất hương thơm của hoa rừng. Cây chết, hương còn giữ lại trong thớ gỗ. Người ta chặt gỗ chẻ thành từng mảnh nhỏ, đốt lên, dâng Chúa. Hương trầm ngào ngạt hương hoa của mặt đất, hương thơm của tình người, chỉ ở xứ gần mặt trời mới có. Người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, đã phải vượt muôn trùng biển lớn tới đây buôn bán, mua hương trầm về châu Âu quê hương của Chúa”. Cảm giác sung sướng tự hào lâng lâng theo làn gió hương trầm, chàng muốn bay lên. Bay vào khu rừng đầy bóng cây xanh kia, chàng sẽ tự trải thảm lá cây khô rụng xuống mặt đất, nằm xuống giữa không gian thơm mà nghe tiếng chim hót râm ran trên cành cao. Tiếng chim tỏa hương trầm. Tiếng chim nâng tâm hồn chàng lên bầu trời xanh vời vợi, từng đám mây trắng bồng bềnh trôi. Và Chúa Thánh thần hiện xuống.

Anh Lý chia cho Cevallos chiếc bánh gai, làm tan giấc mơ của chàng. Lý dạy ba chàng Tây cách ăn bánh:

- Đây là bánh lá gai bọc trong lá chuối. Lá gai được hái từ rừng về cho vào cối giã trộn với đường. Hạt đậu xanh nấu chín, viên thành từng miếng bằng nửa bàn tay, lá gai đã giã bọc ngoài, dùng lá chuối gói thành những chiếc bánh hình tháp bốn cạnh vuông. Đặt bánh gai đã gói lên chiếc vỉ tre, cho vào nồi hấp, bánh chín bằng hơi.

Cevallos cầm chiếc bánh còn nóng ấm, vừa bóc lá chuối ra, mùi của lá gai dâng lên thơm lạ. Chàng nhẹ nhàng cắn vào lớp da lá gai đen bóng, dẻo, hương thơm nức, bắt gặp vị bùi, ngọt của đậu xanh ở cái nhân vàng óng bên trong. Chàng ngâm nga hương thơm, vị ngọt bùi của chiếc bánh, sản vật của rừng xanh, mà cảm mến con người ở xứ sở hoang vu này. Hương thơm cây cỏ núi rừng được bàn tay, khối óc con người chưng cất thành món ăn tinh khiết là vẻ đẹp tuyệt mỹ trong mọi vẻ đẹp. Con người đã thoát khỏi cảnh “ăn lông ở lỗ”. Con người biết tinh luyện hương thơm từ khoảng sâu kinh dị của hung thần, quỉ quái để tạo nên hơi thở tinh khiết của mình. Con người trở thành người.

Con thuyền nhẹ trôi trong gió đầy ắp hương thơm. Cevallos nhìn dòng nước trong xanh in bóng rừng xanh. Lý nói tên của dòng sông. “Sông Mã”. Tiếng Hán” Mã” là con ngựa. Con thủy mã chảy từ đất nước Ai Lao qua đây rồi ra biển. Cevallos cảm thấy mình đang trườn trên con ngựa của thủy thần tới cung vua. Trên mình nó pha trộn dòng máu của hai giống người, Ai Lao và Đại Việt. Hình như họ thương nhau lắm. Cevallos khéo léo gợi người thông ngôn kể chuyện xưa. Lý sinh ra và lớn lên, được học hành ở đất này, nên tinh tường sử sách. Anh kể:

- Đất này tên gọi Lam Sơn, hơn một trăm năm trước có người sơn trang dân tộc Mường dũng mãnh đứng lên dựng cờ, tụ hợp dân lành lầm than, đói khổ, vùng lên chống lại triều Minh, xâm chiếm Đại Việt. Nhân tài từ Thăng Long( Đông Kinh) cũng đổ về dâng kế sách. Mười năm giao chiến với quân Minh, thây chất thành núi, máu đổ thành sông. Quan quân Đại Việt nhờ lấy đức, nhân, nghĩa, làm đầu nên giặc Minh cảm phục mà bỏ chạy về Trung Hoa. Người Mường lập triều đình nhà Lê, nắm quyền hành, giữ ngôi được mười đời, một trăm năm, thì trong triều bất yên, đầu rơi, máu chảy, oán thù triền miên. Vàng son lộng lẫy một thời đổ sụp thành tro bụi, bởi kẻ nắm quyền lực cậy quyền, chặn ép, áp bức dân lành, phải trái, đúng sai tùy kẻ cầm quyền, thi cử đối trá, mua quan, bán chức… Người dốt nát, xấu xa, chiếm được quyền lực, thông đồng vu cáo, chém giết, hãm hại nhân tài. Những ông vua trở thành “vua quỉ”, “vua lợn”, khiến muôn dân khinh bỉ, chán chường. Đến nỗi sứ nhà Minh phải thốt thành thơ:

“An Nam tứ bách vận vưu trường
Thiên ý như hà giáng quỉ vương”

( Vận nước An Nam còn dài bốn trăm năm
Ý trời sao lại sinh ra vua quỉ)

Oán hận ngút trời, nhưng người người không được nói ra. Trước cảnh triều chính thối tha, quan đầu triều Mạc Đăng Dung cuớp ngôi vua, lập nhà Mạc. Nhà Lê hồng phúc còn cao nên Lê Ninh, con vua Lê Chiêu Tông, mười một tuổi được các tướng sĩ trung thần mượn đường trốn sang Ai Lao, bí mật khôi phục triều đình nhà Lê. Năm năm nương nhờ đất Ai Lao, xưng vua hiệu là Trang Tông nối dòng Lê, đóng đô ở trại Sầm Hạ, giao kết thân thiện với vua Ai Lao. Mạc Đăng Dung ở Đông Kinh tấn công vào Tây Kinh. Viên tướng họ Trịnh cầm quân chống Mạc. Mùa đông 1540, Trang Tông về nước đóng đô ở Tây Kinh, tức là nơi sông núi tiên đế Lam Sơn dấy nghĩa. Từ đó Đại Việt chia cắt hai miền. Hai thế lực Lê- Mạc đều xưng vua, tranh chấp nhau quyền lực. Vua Lê giữ Nam triều, từ vùng Thanh Hóa trở vào phía Nam. Vua Mạc Đăng Dung giữ phía Bắc, chiếm giữ đất đai sông núi Bắc Hà. Dân chúng mỉa mai trong nước mắt, thành khúc ca buồn:

Bắc Nam đều có hoàng gia
Vua Lê- vua Mạc hai nhà phân tranh
Dân đen chịu cảnh cơ hàn
Đầu rơi máu chảy tan hoang cửa nhà
Xót thay cho một quốc gia
Nước cường, dân thịnh, bỗng ra tương tàn(2)

Cevallos chăm chú lắng nghe, rất phục chàng trai “lai giống” Tàu kể chuyện lịch sử Đại Việt như hát hay. Có lẽ linh hồn của quan ngự sử trung nghĩa trở về, ngự trên cái miệng rộng, môi thắm của chàng mà rót vào đó những thanh điệu thành thực. Chàng muốn tiếp tục khám phá sự thống trị ở đất này, nên ngồi im lặng, mắt sáng lên, nghe Lý kể mãi, kể hoài, không biết chán:

- Sự thật trớ trêu. Vua Lê ngồi trên ngai vàng, nhưng là vua bù nhìn. Quyền lực rơi vào tay Trịnh Kiểm, con rể Nguyễn Kim, người giúp Trang Tông lên ngôi ở Ai Lao, được phong Thái phó Quốc Công. Kim bị đầu độc. Kiểm nắm giữ quyền binh, định đoạt công việc trong cung, ngoài triều. Bề ngoài hắn mượn cớ phù Lê, bên trong nham hiểm âm mưu thu cơ đồ về tay mình. Kiểm thu thập quân lương, lừa lọc hiền tài trừ giặc Mạc triều” cho trăm họ yên vui muôn đời”. Vua Trang Tông chống chọi không nổi, ốm nặng, ba mươi tư tuổi đã lui về chín suối. Thái tử Duy Huyền con trưởng vua nối ngôi( Trung Tông) khi vua cha đã xây dựng lại hào lũy, kinh đô, dọn cỏ dại tứ bề. Trung Tông tính tình khoan rộng, mười lăm tuổi làm vua, quyền triều chính giao hết cho Trịnh Kiểm quyết định, không cần tấu vua. Vua học các tiên đế, mở khoa thi chọn hiền tài. Nhiều quan Bắc Hà bỏ nhà Mạc ở Đông Kinh vào Tây Kinh làm cho thế lực Nam triều mạnh hơn. Cuộc tranh giành Lê- Mạc quyết liệt không ngưng nghỉ. Dân chúng chết chóc, lầm than, điêu linh cùng cực. Vua được hai mươi hai tuổi đã băng, không có thái tử nối ngôi.

Đây là cơ hội tốt cho Trịnh Kiểm lên chiếm đoạt ngai vàng. Nhưng hắn sợ trời không dung, đất không tha, sợ lòng người điên đảo, hắn phái người tâm phúc đi tìm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, xin Trạng xem vận hạn, số mệnh thế nào.

Nghe đến chuyện tiên đoán số mệnh, Cevallos bị cuốn hút mạnh, xứ sở này cũng có thần thánh tiên tri. Tuyệt quá! Chàng ngắt lời Lý:

-Tôi xin lỗi. Tôi muốn hiểu kỹ về Trạng Trình của Đại Việt. Người có khả năng tiên tri?

-Vâng. Đúng vậy thưa ngài. Trạng Trình quê ở Vĩnh Bảo, tỉnh Kiến An, sinh năm Tân Hợi( 1491) triều Lê Thánh Tông, một triều đại rực rỡ về Nho học, triết học và thơ ca, dân chúng sống no đủ, yên bình. Cha ông học rộng, tài cao, mẹ là con gái Thượng thư Bộ hộ, bà có học vấn và tính cách mạnh mẽ khác thường lắm. Thuở nhỏ, mẹ đem thơ Quốc âm dạy con học. Lớn lên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đựoc học người thầy nổi tiếng là bảng nhãn Lương Đắc Bằng, tinh thông Lý học, đã đem sở học Dịch lý và bộ sách Thái Ất Thần kinh ra truyền dạy cho Bỉnh Khiêm. Lên bảy tuổi, mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm bỏ nhà ra đi do bất hòa với chồng vì việc dạy dỗ con cái. Cậu bé sống với cha, lao tâm khổ tứ học hành. Chàng thanh niên vào đời dưới thời vua Lê Uy Mục( 1505-1509). Vua tồi tệ đến mức sử gia Ngô Sĩ Liên đã viết:” Nhà vua thích uống rượu, hay giết người, hiếu sắc, làm sai, giết hại người tôn thất, giết ngầm từ mẫu, họ ngoại chuyên quyền, trăm họ oán giận, người đời gọi là vua Quỉ, điềm loạn hiện ra từ đấy”

Tiếp đó là triều vua Lê Tương Dực( 1510- 1516) dân gọi là vua Lợn.

Sử gia cau mày đặt bút ghi vào Đại Việt sử ký toàn thư “Ham chơi mà không quyết đoán, việc thổ mộc bừa bãi, nhân dân thất nghiệp, trộm cướp nổi dậy đến nguy vong là buổi đấy”

Sứ thần nhà Minh khoái trá tiên đoán ” Quốc vương An Nam mặt thì đẹp mà người lệch, tính thích dâm, là vua Lợn, loạn vong sẽ không lâu đâu”

Sống dưới oai quyền của vua Quỉ, vua Lợn ấy, hỏi người dân sẽ thành ra cây gì? Con gì? Con người là hạt giống vĩ đại của Thượng đế, phải được gieo trong mảnh ruộng tốt. Phải có một vị vua anh minh, trong sáng như thánh thần cai trị, chăm sóc, hạt giống mới nở thành cây xanh cành, trĩu quả. Nhưng những người được gieo trên đồng vắng, bị vua Quỉ, vua Lợn cai trị, họ đã thoát lên thành người bằng học vấn sách vở và tri thức dân gian. Nguyễn Bỉnh Khiêm lặng lẽ học và học. Chàng tầm sư, học đạo, trau dồi kiến thức, im lặng chờ thời. Qua hai lần thi Hội, chàng không tham dự, năm bôn nhăm tuổi, khi thời cuộc đã ổn, mới dự thi và đỗ tiến sĩ. Năm 1530, sau khi đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan cho nhà Mạc, được cử làm đến chức Lại Bộ Tả thị lang kiêm Đông các đại học sỹ. Tám năm tôn phù nhà Mạc. Hằng ngày nhìn đám lộng thần dốt nát, nịnh bợ, chạy chọt, múa may như con rối, hành động độc ác, xấu xa, đê tiện, ức hiếp dân lành, Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy ghê tởm, dâng sớ xin chém mười tám kẻ gian thần. Không được vua Mạc Phúc Hải chấp nhận, Nguyễn Bỉnh Khiêm cáo quan, từ chức, lui về trí sĩ dạy học ở tuổi năm mươi ba. Là một người am hiểu sâu sắc Kinh Dịch, tinh thông Lý số, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã áp dụng kiến thức này để nhận định, tiên tri mọi việc của con người trong cuộc sống thường nhật, cũng như dự báo các đổi thay của thời cuộc. Cụ là một bậc túc Nho thông kim bác cổ, một sĩ phu tài danh lỗi lạc, một nhà giáo dục đã đào tạo được nhiều cử nhân, tiến sĩ. Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là một nhà thơ, một nghệ sĩ có tâm hồn phóng khoáng, cao thượng, hướng tâm hồn lên cao, hướng về ánh sáng:

Cơ tạo hóa
Phép đổi dời
Đầu non mây khói tỏa
Mặt nước cánh buồm trôi
Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi
Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời
Tuổi già thua kém bạn
Văn chương gởi lại đời
Dở hay nên tự lòng người cả
Bút nghiên soi hoa chép mấy lời
Bí truyền cho con cháu
Dành hậu thế xem chơi

Lý cao hứng ngân nga thơ Trạng Trình bằng tiếng Đại Việt. Không phải Lý ngâm thơ, mà là hồn Trạng Trình đã nhập vào Lý, đọc thơ của mình. Cevallos nhìn vẻ mặt đơ đơ, nửa tỉnh nửa say như linh hồn ẩn hiện, nghe những âm thanh bằng, trắc, lặp đi, lặp lại thành nhạc, ngân nga ý tình, sâu thẳm hư vô, vang lên từ cặp môi dày của Lý, tâm hồn chàng ngất ngây. Chàng mỉm cười tạ ơn Chúa luôn ở khắp mọi nơi. Chúa dạy mỗi người là một linh hồn dù thể xác, màu da, tiếng nói khác nhau. Linh hồn bất tử. Tiếng ai xa xăm rót nhẹ vào tai chàng: “Thánh đường cũng là đây, cả không gian thơm mùi đất lạ, rừng hoang này là một thánh đường. Những linh hồn tinh khiết sẽ gặp nhau.”

Tiếng ngâm thơ vừa dứt, Lý tỉnh táo trở lại, chuyển giọng kể chuyện sôi nổi, cuốn mọi người trên thuyền vào câu chuyện Trịnh Kiểm phái Trạng Phùng Khắc Khoan mang lễ vật ra tận Kiến An hỏi Trạng Trình về giấc mộng làm vua của Kiểm:

-Trạng Trình không trả lời chính người hỏi, quay đầu bảo các gia nhân: “Lúa vụ này không được mấy, chỉ tại thóc giống không tốt, vậy hãy đi tìm giống cũ mà gieo mạ”. Nói xong, cụ ra chùa bảo các chú tiểu quét dọn và thắp nhang. Phùng Khắc Khoan hiểu ý. Tạ ơn và giã từ .

Họ Trịnh nghe lời Trạng Trình, tìm Lê Duy Bang (Anh Tông) con cháu họ Lê, phò làm vua, mượn cớ phù Lê cứu đời. Trịnh Kiểm nắm giữ toàn quyền. Vua Lê chịu thân phận bù nhìn. Trịnh Kiểm lộng hành. Trung thần phẫn uất mà vẫn phải cúi đầu cam chịu. Năm 1750. Trịnh Kiểm qui tiên. Anh em Trịnh Tùng, Trịnh Cối tranh giành ngôi Chúa. Bè cánh. Phe phái. Giằng giật. Triều đình suy. Vua AnhTông phải trực tiếp điều hành, dàn xếp mâu thuẫn trong cung, ngoài triều. Vua thânchinh cầm quân đi đánh nhà Mạc, lập chiến công, khôi phụ uy thế triều đình. Trịnh Tùng mưu hãm hại Anh Tông, cướp quyền lực, giết người trung nghĩa. Nịnh thần xui vua giết Trịnh Tùng. Việc bại lộ. Mối căm ghét hận thù chất cao. Trịnh Tùng nắm binh. Vua sợ hãi. Ăn không ngon. Ngủ không yên. Một đêm, vua cùng gian thần trốn khỏi kinh thành. Trịnh Tùng truy lùng giết Anh Tông và chọn hoàng tử Duy Đàm, con thứ năm của Anh Tông, bảy tuổi, lên ngôi năm 1573, hiệu là Lê Thế Tông. Đức vua mà chúng ta sắp vào chầu đấy!

-Chúng ta sẽ gặp đức vua hai mươi bốn tuổi, trị vì vương quốc mười bốn năm.

-Đúng vậy. Đó là một vị vua thông minh, mày ngài, mắt sáng. Ngài lên ngôi, ban chiếu dụ thu phục lòng người: “Ta nghe Thượng đế mở rộng công nuôi dưỡng muôn loài, tất ngay dịp Xuân mà ban ân đức, vương giả, giữ gìn buổi đầu tức vị, phải ra mệnh lệnh dụ bảo thần dân. Trên dưới hợp nhau, đồng lòng một chí. Nước nhà ta nhân thời cơ mà mở vận, gây dựng nước bằng lòng nhân”.

Nghe Lý dịch lại lời chiếu dụ, Cevallos thấy vua nhắc đến Thượng đế và muôn loài. Chàng vững tâm. Bởi ông ta đã biết tới đấng thiêng liêng, sáng tạo ra con người và muôn loài, có nghĩa là đã sống cả phần hồn lẫn phần xác. Chàng rất sợ ai đó chỉ sống với phần xác thịt. Không có linh hồn, con người chỉ là những tấm phản thịt đầy máu, vật lộn, chém giết, ăn thịt lẫn nhau và ăn thịt muôn loài. Tạ ơn Chúa. Vị vua xứ nóng này sẽ nhanh chóng hiểu Chúa. Bởi ông ta có linh hồn.

Không cần biết Cevallos nghĩ gì, Lý vẫn chậm rãi kể:

- Các danh tài được mời vào dạy vua. Thế Tông học giỏi. Hiểu sâu. Biết rộng. Văn thơ toàn tài. Bản tính vua thông minh, mẫn tuệ, sáng chữ Tâm, hội tụ được nhân tài, sĩ phu. Sau năm năm trị vì, ngài cho khôi phục khoa trường, tổ chức thi Hội, tìm nhân tài. Nguyễn Văn Giai, Quang Hòa đỗ tiến sĩ, được vua giáng chỉ làm quan triều đình. Nhưng Nam- Bắc triều liên tục đánh nhau to. Trịnh Tùng đem quân ra. Nhà Mạc tiến quân vào. Đánh nhau bằng gươm đao, máu nhuộm đỏ các dòng sông. Bắn nhau gục tơi tả dưới chân ngựa, trên thớt voi, thây phơi, xương chất đầy rừng núi. Kinh hoàng lắm. Khủng khiếp lắm. Có đêm quân Trịnh chém gần một nghìn thủ cấp phơi trên bờ sông. Dân vùng này gồng gánh nhau, chạy toán loạn. Tiếng kêu khóc. Tiếng trâu, bò, lợn, chó, mèo… xáo xác khắp mặt đất. Vua quan trú ngụ ở Yên Trường. Đào hào sâu. Đắp thành lũy cao lút đầu. Triều đình như một lũ chồn cáo nằm trong hang ổ.

Trời đất nổi giận. Lụt triền miên. Sao chổi mọc, đổ dài những tia lửa lớn như đốt cháy Đại Việt. Nước trong giếng tự nhiên sôi lên. Sấm động trái thì. Nhật thực. Nguyệt thực. Bóng đen phủ mặt đất, bầu trời. Vua, quan, lính, tướng, dân chúng hãi hùng. Năm Bính Tuất (1586) tháng sáu, vùng Thanh Hoa. Không mưa. Không gió. Nước sông Mã bỗng dâng cao. Thành Tây Đô bị ngập. Ngoài sông, nước xoáy, chảy xiết như bắn. Cây trong rừng đổ xuống lấp mặt sông. Các nhà ven sông trôi ra biển. Tháng bảy lụt lớn. Đêm rằm mặt trăng có quầng đỏ, bóng sáng lờ mờ, sắc phun như máu. Các nhà chiêm tinh đoán điềm xấu. Qua rằm tháng tám vài ngày, bỗng dinh Yên Trường cháy lớn. Gió to. Lửa mạnh. Cháy lan các khu dinh, trại lính, phố xá… Cháy rụi vài nghìn nhà. Mây sắc đỏ che kín bầu trời. Khói đen phủ đặc một vùng. Thái vương Nguyễn Thị Ngọc Bảo, mẹ Trịnh Tùng chết cháy. Ngày cuối tháng tám, trong dinh Yên Trường nổi cơn lốc lớn đến hai dặm. Người ngã. Nhà tốc. Đá bay. Cát cuộn. Gãy cây. Sụt tường… Mặc đất trời nổi cơn thịnh nộ. Hai vua Lê- Mạc vẫn cầm quân đánh nhau. Mới đây, Trịnh Tùng tung quân ra, đánh đuổi quân Mạc tới chỗ hiểm núi Tâm Điệp, chém được hơn nghìn thủ cấp, bắt sống hơn sáu trăm người…

Lý kể đến đây thì ngưng bặt. Một linh hồn vừa rời khỏi thân xác anh. Mặt anh hơi tái, mồ hôi vã trên trán.

Người lái đò bê đến cho Lý bát nước chè xanh. Nước xanh lóng lánh sắc nắng như màu rừng xanh in vào bát nước. Lý uống một hơi, khoan khoái như được uống ánh trời. Lý bỗng nghe tiếng ai như tiếng cụ Trạng Trình: “Đến nay đã tròn năm mươi năm nội chiến. Năm mươi năm. Một kiếp con người đã bị bọn khát quyền lực biến thành kiếp chó ngựa. Con người sinh ra phải được quyền sống. Tại sao bọn chúng dám đẩy con người vào lò lửa chiến tranh ngập ngụa máu và nước mắt? Năm mươi năm. Mười thế hệ trai tráng Đại Việt, máu đỏ da vàng, cùng một bọc, cầm gươm giáo giết nhau. Ruột thịt giết nhau. Máu lửa tương tàn. Thật là một cuộc tàn sát cuồng điên. Bọn vua chúa say quyền lực, tranh ngôi cao, đã biến thành những tên đồ tể, giết dân lành. Dân chết như ruồi bọ. Họ không biết vì sao mình phải rơi vào cảnh nồi da, xáo thịt?”

Im lặng. Hàng vạn linh hồn réo đòi sự sống. Lý lạnh gáy nghe một giọng thơ ngâm: “Lời thần trước đã ứng linh. Hậu sinh phải đoán cho hay mới tường. Lê tồn, Trịnh tại. Lê bại, Trịnh vong.”

Lý ngồi xích lại gần Cevallos, nhìn sâu vào đôi mắt xanh biển cả của chàng, như xin lỗi vì biết câu chuyện của mình thật nặng nề. Nhưng đó là sự thật. Dù muốn hay không, chúng ta đã đến đây, phải hít thở bầu không khí ấy. Nó sẽ đè lên tâm trí của ta. Nó quất vào hành động của ta. Dù ta là người Tây hay người Tàu. Ngài có cảm thấy thế không?

Cevallos nắm chặt bàn tay Lý. Lặng lẽ cảm ơn chàng trai thánh thiện đã được Chúa chọn để thông dịch cho mình hiểu được nội tình đất nước Đại Việt, mà cơn bão đã xô chàng tới như một định mệnh.

Họ đắm vào mắt nhau thật lâu. Chiều buồn như nhật thực. Im lặng mênh mông. Nước sông Mã cuộn lên màu đỏ. Như để xua tan nỗi sợ, hai chàng chèo đò cất tiếng hò sông Mã: “Dô khoan, dô hò, hò lên cho nhịp, để chèo thuyền lướt ra khơi. Dô khoan. Dô hò”.

... CÒN TIẾP ...

© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 07.05.2009.