GIỜI CAO ĐẤT DÀY



CHƯƠNG VII


Tháng ba năm ấy, người làng Bùi đói rã họng vì năng suất lúa mỗi ngày một kém, nên Ban quản trị Hợp tác xã nông nghiệp đành phải cộng tất cả khoai ngô, thậm trí củ cải, củ dong riềng, cả những củ khoai dãi cho bò ăn cũng được qui ra thóc để báo cáo cho năm sau năng xuất cao hơn năm trước. Thóc thu được, một phần đưa ra ngoài mặt trận, phần nữa cân đối cho các gia đình chính sách, còn lại chia theo công điểm, mỗi công chưa được hai lạng rưỡi thóc. Nghĩa là mỗi vụ một lao động chính nếu đảm bảo đủ ngày công sẽ được một nghìn điểm. Một nghìn điểm được chia hai tạ rưỡi thóc. Một gia đình nếu có hai lao động chính, người nọ bù trừ cho người kia, một vụ nếu tích cực được khoảng bốn tạ thóc. Mỗi gia đình thường từ 5 đến 8 nhân khẩu, thì cứ bình quân hai vợ chồng với bốn đứa con, cả thảy là sáu. Sáu người có bốn tạ thóc chia ra sáu tháng trời đằng đẵng. Thường thì, sau vụ mùa đến tết là hết thóc, nhà nào giỏi lắm kéo được hết tháng giêng. Cái câu “tháng ba, ngày tám” thật đắc dụng của thời “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” ở làng Bùi.
Dân làng Bùi may mắn hơn được trời phú cho vùng biển cạn. Một vùng biển được bồi đắp bởi phù sa của con sông Diêm và sông Trà tạo thành hai gọng kìm đổ ra biển Đông. Ngày một lần đều đặn nước triều lên xuống, nước lên mang phù sa bồi đắp, làm thức ăn cho phù du sinh vật, nước xuống để lại một bãi lầy với hàng nghìn động vật biển sinh sống. Chính những động vật biển đó đã cứu sống, nuôi sống dân làng Bùi bao phen đói kém.
Không hiểu sao cứ mỗi trận đói thì ngoài biển lại có một loài động vật sinh sôi nhiều hơn mức bình thường. Năm Mậu Thân, tháng ba tự dưng vọp ở đâu sinh ra lắm thế. Nước triều xuống dân làng Bùi vác cuốc ra cồn cát, cứ thế cuốc biển lên như cuốc ải, nhặt vọp gánh về. Năm sau Kỷ Dậu, con vọp vơi đi thì con thun thút thay vào. Năm Canh Tuất lại con día, đến năm nay, Tân Hợi thì con don sinh sôi không biết cơ man nào mà kể, dân làng Bùi lũ lượt mang quang gánh ra biển bốc gánh về, rải mỏng xuống nền nhà để bán dần, ăn dần. Don rẻ hơn cả bèo, nhưng dù sao cũng có cái ăn, cái bán. Trẻ con bụng ỏng đít beo, vừa đi vừa hát:
Một hào bốn ống don
Ông ăn ông té ra quần
Cha bố cái thằng bán don
Tránh ra cho ông tụt quần...
Một hào bốn bơ don thật, mười hai bơ don mới được ba hào, ba hào mua được một bơ gạo, nhưng khổ nỗi không có gạo mà mua. Ngoài ruộng cây lúa của Hợp tác xã lớn lên, làm đòng, đỏ đuôi, chín... theo lệnh của tiếng kẻng thì làm sao có thóc để bán. Chợ toàn don là don trắng hếu, có hạt gạo nào vừa đến đầu chợ là người mua giằng từ trên đầu người bán. Bán gánh don, có thể đong được vài ba bơ gạo. Luộc don lên, giữ nước, đãi lấy ruột cho vài lẻ gạo vào nấu cháo, thêm ít hành răm, cả nhà xì xụp, phởn phơ ra phết. Của đáng tội cháo don ngon hơn cháo gà, nếu như có gà mà nấu cháo ăn quanh năm, ăn phát kinh thì thôi.
Người làng Bùi tự hào được ăn cháo don trọn cái tháng ba, đến gần cuối tháng tư giáp hạt. Người Trung Quốc đã có khẩu hiệu: “Ăn cháo ba năm xây dựng chủ nghĩa xã hội” đấy sao.
Thấy người làng Bùi nô nức kéo nhau ra biển gánh don, Sa bàn với chồng cũng đi xúc don về nấu cháo. Hôm đó hai vợ chồng đang say sưa đãi don thì có người phát hiện ra Thuần. Một người la lên, rồi nhiều người la, thế là mọi người vứt thúng mủng, giần sàng toá loa bỏ chạy như có Diêm vương dưới biển hiện hình. Cả một vùng biển đông như chợ, thoáng chốc bỗng vắng tanh. Người ta bất chấp hà biển cứa rách chân, bất chấp bãi lầy cứ như một đàn vịt lao về lặn sâu trong rừng sú vẹt. Ngày hôm sau người ta cắm một chiếc bảng gỗ giữa lối ra bãi don, trên bảng có dòng chữ: CẤM THẰNG HỦI và có hai dân quân mang súng đứng gác.
Mấy ngày liền Thuần buồn thê thảm. Chiều chiều Thuần dắt vợ ra bãi cát đón triều lên, có khi còn xuống biển tắm nô đùa cho khuây khoả. Một hôm, hai vợ chồng đào một chiếc hố, rồi cùng nhau vùi mình trong hố cát, tận hưởng cảm giác mát mẻ của cát biển mặn ngấm vào từng tế bào, bỗng xuất hiện vật gì như tảng đá lù lù từ dưới biển nhô lên. Tảng đá khổng lồ trườn dần lên bãi cát hiện nguyên hình là một cụ rùa biển. Ngày còn ở trên vùng cao, Thuần thường nghe bọn trẻ con hát: “Da, da trâu. Đầu, đầu rắn. Chân, chân vịt. Thịt, thịt gà”. Quả đúng như vậy, cụ rùa có chiếc mai sừng cứng tựa như chiếc thuyền mủng nằm úp, cao gồ lên có hoa văn hình lục lăng khá đẹp, da cổ, da chân của nó màu xanh rêu với những ngấn vàng ngà, cái đầu bằng bắp chân, hơi vuông thò ra thụt vào và ngó nghiêng như định tìm gì đó.
Thuần nghe người ta kể giống rùa có sức sống dẻo dai kỳ lạ. Chuyện kể rằng có một người muốn giết một con rùa để làm thí nghiệm. Anh ta lấy dây thép thít chặt cổ rùa rồi dìm trong nước cả tuần liền, nhưng đến khi kéo lên nó vẫn sống. Anh ta bèn lấy chiếc dùi bằng sắt xuyên vào đầu rùa, nó vẫn sống. Thấy lạ, anh ta lấy rượu nhồi cho rùa uống, vẫn sống. Tức thì, anh ta lấy cả thuốc độc tiêm vào, nó vẫn không chết. Cuối cùng anh ta chặt đứt cái đầu rùa xem có còn sống nổi không. Thế mà cả tuần lễ sau, bốn chiếc chân rùa vẫn cựa quậy. Anh ta nhặt chiếc đầu rùa lên xem, nó còn ngoạm vào ngón tay một miếng.
Câu chuyện trên Thuần còn bán tín bán nghi, nhưng chính cha Thuần kể, hồi còn thanh niên ông đi bè trên rừng nhặt được một con rùa, ông bèn cài nó vào chạc cây, định rằng chiều trở lại sẽ mang về. Nhưng rồi mải việc, ông quên béng. Hai năm sau ông có dịp quay lại cánh rừng ấy, tình cờ ông gặp lại cái cây mà ông đã cài con rùa. Cây đã lớn, nên hai cái chạc cây kẹp chặt lấy con rùa. Lạ thay, con rùa vẫn sống.
Vì thế mà trong tâm tưởng Thuần, rùa là loại động vật đặc biệt, có tuổi thọ siêu đẳng hàng trăm năm và có sức khỏe vô biên, vì vậy lúc này Thuần ra hiệu cho vợ yên lặng vùi mình trong hố cát, chỉ thò đầu ra ngoài để quan sát. Cụ rùa gần như không hay biết, bò đến trước mặt Thuần và Sa, quan sát một lát rồi dùng bốn chân đào một chiếc lỗ sâu chừng nửa mét và rộng gần hai mét để cho cụ rùa nằm vừa. Sau khi đã nằm vào hố, cụ rùa tiếp tục đào một cái lỗ nhỏ sâu chừng hai gang tay, khuờ khoạng, xoay xở một lúc và bắt đầu đẻ trứng. Những quả trứng trắng hồng to bằng trứng ngỗng từ trong bụng cụ rùa phọt ra liên tiếp kéo theo nhớt nhãi. Tự dưng hai cánh mũi Sa nở ra phập phồng…mùi gì đó thoang thoảng trong gió như mùi mật mía đang nấu dở để lên đường, ngòn ngọt, thơm thơm, khe khé khiến cho đầu lưỡi của ai cũng phải tiết dịch vị. Sa ngó nghiêng tìm xem đâu đó có cánh hoa nào tỏa hương, hóa ra đó chính là mùi rùa đẻ.
Bỗng có một chùm tia sáng lọt qua kẽ lá phi lao, dọi thẳng vào ổ trứng rùa, làm những quả trứng hồng lên như quả hồng. Đẹp quá! Sa suýt reo lên. Nhưng Thuần kịp bưng miệng Sa lại.
Trong lúc đẻ cụ rùa vươn thẳng thân mình lên khỏi mặt hố, đầu ngóc cao, và từ đôi mắt hiền hậu nhỏ ra chan chứa những dòng lệ. Nhìn thấy rùa vừa đẻ, vừa khóc Sa xúc động quá đến nỗi cũng chảy nước mắt. Hồi còn nhỏ Thuần có nghe mẹ kể, không biết thật hay hư giống rùa sau khi đẻ không bao giờ gặp lại con của mình nữa, kể cả những quả trứng hay lũ rùa con sẽ nở sau này, chính vì thế mà rùa khóc ràn rụa khi đẻ những quả trứng vì cũng là lúc bắt đầu chia ly giữa mẹ với con?
Đẻ xong hơn trăm quả trứng, cụ rùa rời khỏi chiếc hố, dùng bốn chân khoả lấp kín ổ, xoá hết mọi dấu vết. Trước khi rời ổ trứng cụ rùa quay lại, ngóc cao đầu, và lại từ đôi mắt hiền hậu của rùa chan chứa những giọt nước mắt.
Chờ cho cụ rùa xuống biển an toàn, Thuần và Sa mới trút mình khỏi hố cát, lững thững đi ra mép nước. Nước biển cồn cào, phía chân trời xa mây trời xanh biếc hòa với tiếng lá reo cùng sóng nước trập trùng mà lòng Sa cảm thấy có gì vừa xao xuyến, lại vừa mong ước.
Sự kiện gặp cụ rùa và chứng kiến rùa vừa đẻ vừa khóc khiến Thuần và Sa suy tư mãi. Hai người lặng lẽ tắm, lặng lẽ đi bên nhau, lặng lẽ về lều và lặng lẽ làm mọi việc. Những ý nghĩ lộn xộn, không đâu vào đâu diễn ra trong đầu cả Sa và Thuần, nhưng chung qui lại là cảm giác về cái vật vã của sự sinh tồn nòi giống. Có một câu hỏi vu vơ hiện lên trong đầu Sa: khi rùa cái vượt cạn, rùa đực đi đâu? Nếu rùa đực có mặt, liệu nó có khóc từ biệt đàn con tương lai không? Còn Thuần, trong đầu không có suy nghĩ nào ổn định, Thuần chỉ có một cảm giác từ thương con rùa, lan sang thương Gấm, rồi từ thương Gấm, Thuần thương đến Sa. Rồi đây có thể Sa sẽ sinh cho Thuần những đứa con xinh đẹp, nhưng biết đâu đấy, như Gấm cũng phải bỏ mạng vì sinh nở là gì. Đàn bà có cái sướng của đàn bà, nhưng lại cũng có cái khổ của đàn bà. Cái sướng là được mang nặng đẻ đau, và muôn mặt thế gian đều do người đàn bà sinh ra cả, thế giới này giống cái sinh ra. Cái khổ là rứt ra từng khúc ruột của mình và chứng kiến từng ngày khúc ruột đó tuột khỏi tay mình và đến một lúc nào đó rơi vào tay kẻ khác. Thói ghen ghét, ích kỷ, mẹ chồng nàng dâu cũng từ đấy mà ra.

Từ khi Thuần và Sa thành vợ, thành chồng, gian lều như có vầng sáng của hạnh phúc. Sa chăm sóc, xếp sắp lại nhà cửa, bếp núc sạch sẽ ngăn nắp, Thuần ăn mặc gọn gàng tươm tất hơn. Cơm nước được Sa nấu nướng chỉn chu, đầy đủ, không như trước đây chỉ mình Thuần có sao ăn vậy, cơm có khi nấu một bữa ăn hai ba bữa. Thường thì buổi sáng cả hai vợ chồng ra biển ríu rít bắt cua, bẫy cá, trưa về hai vợ chồng hì hụi cùng nấu cơm. Ăn xong, Sa đi chợ, Thuần ở nhà đan lát, hoặc chăm bón hoa màu, tối về hai vợ chồng lại ríu rít chuẩn bị bữa tối. Ngày nào trăng thanh gió mát, hai vợ chồng mang diều ra đua. Sa còn mua được cả con vàng con, chú mèo mướp và đàn gà chíp nuôi để cải thiện, lại thêm vui cửa vui nhà. Đêm đêm có tiếng chó sủa, sáng sáng có tiếng gà gáy te te. Hạnh phúc dệt nên từ những điều đơn sơ, giản dị. Thuần thấy cuộc sống của mình có ý nghĩa như những ngày cùng Gấm xây dựng gia đình. Còn Sa, khỏi phải nói, cô đẹp hơn bao giờ hết, mắt Sa long lanh lại càng sóng sánh. Sa không nói được, nhưng bù lại miệng Sa lúc nào cũng như bông hoa tươi rói, ngực Sa phổng phao ra, và ngay cả cặp mông cũng nở nang trông cứ như cái thúng, đúng là gái phải hơi trai... nhưng có lẽ điều quan trọng là Sa giống như người mới vượt ngục trở về với thế giới tự do.
Từ bây giờ Thuần và Sa đã bắt đầu tiết kiệm để có của ăn, của để phòng khi bất trắc, bát gạo đồng tiền được chắt chiu dành dụm từng ngày. Hàng ngày họ nhìn vào mắt nhau để lao động, để sống và hy vọng. Hành động của mỗi người đều vì người còn lại. Sa tắm kỹ và sạch hơn phần vì mình, phần nữa cũng vì chồng - anh ấy sẽ có cảm giác sung sướng, nếu như da thịt mình thơm tho, sạch sẽ - Sa nghĩ thế. Sa quyết học bằng được cách làm bát tiết canh cua biển để chiều chồng. Sa lựa những con cua biển lớn, không mẩy quá cũng không mềm bấy, đó là những chú cua có nhiều tiết, rửa sạch rồi đặt nằm úp trên thớt, dùng dao sắc chặt dứt khoát hai nhát đứt tám cẳng và thả chúng vào một chiếc chậu sạch. Từ tám cái cẳng đó tiết ra một thứ nước trắng trong như thạch, đó là tiết cua. Còn những con cua thật mẩy, Sa đem luộc kỹ, rồi dỡ ra bóc lấy những thớ thịt trắng tinh, cho vào bát, rót tiết cua lên, thêm chút tiêu bắc, rau thơm, chút lạc rang, để mươi phút, tiết cua đông lại, thế là Sa có một bát tiết canh cua dâng chồng. Ngồi nhìn chồng ăn có cảm giác vừa mát, vừa bổ mà Sa sung sướng. Có món làm cả buổi, nhưng Sa không ăn, mà chỉ ngồi nhìn chồng ăn ngon miệng là Sa thấy no, thấy sướng rồi. Lạ thế, hạnh phúc của người đàn bà đôi khi lại nằm ở nơi người khác. Đàn bà là trái đất. Trái đất chỉ thực sự hạnh phúc khi trên nó cây nở hoa thơm và trái ngọt. Đôi khi Sa nghĩ đàn ông là mặt trời, còn đàn bà là mặt trăng. Sở dĩ mặt trăng có sáng lên được là do ánh sáng phản chiếu của mặt trời, vì vậy mà Sa có chăm sóc cho chồng cũng như là cho mình vậy.
Một chiều Thuần đi dọc bờ biển xem vùng nào có nhiều cá lác và cáy để hôm sau mang bẫy đến đặt cá hoặc câu cáy. Thường thì Thuần phải ra sát mép lầy ngồi bất động như tượng đá, chờ khoảng mười lăm phút, đàn cá và đàn cáy thấy yên tĩnh mới từ dưới lỗ bò lên. Có vùng nhiều cá và cáy nhưng toàn con nhỏ, có vùng cá và cáy không nhiều nhưng chúng lại lớn. Cá lớn dễ bẫy và ăn ngon hơn nên bán cũng dễ hơn, cáy cũng thế. Khoanh được mục tiêu, Thuần trở vào rừng phi lao thẩn thơ, thơ thẩn như muốn tìm lại kỷ niệm thời thơ ấu.
Biển chiều lặng ngắt vắng teo, gió gẩy vào dây đàn rừng bản nhạc chiều hiu hắt, bỗng đâu trong rừng dứa dại có tiếng người thì thầm. Thuần cũng không lạ gì, có khi các bà, các cô đi bẻ củi vẹt về nghỉ, ngồi trò chuyện, cũng có thể một đôi trai gái nào đó rủ nhau ra bãi cát yêu nhau. Nghĩ đến đó tính tò mò khiến Thuần dừng lại. Yên ắng quá. Cảm giác có gì không bình thường làm Thuần cảnh giác rón rén ngồi xuống. Hình như có tiếng ai thở hỳ hục. Thuần lặng lẽ tiếp cận rừng dứa. Dứa dày và kín quá, Thuần phải nằm ép mình xuống cát. Vừa lọt được vào vòm hang do những thân dứa tạo thành, Thuần hoảng hốt như không thể tin nổi, người đàn bà quì hai gối, chống hai tay, hai bầu vú tong teo thõng xuống như vú chó đẻ, phía sau người đàn ông khoác độc một chiếc áo cói, như con chó đực đang làm cái việc gieo giống. Lúc đầu họ quay lưng về phía Thuần, rồi dần dần họ xoay sang phải, sang trái, cho đến khi đối diện thì Thuần giật mình, phản xạ lùi lại nửa bước, hai tay bám vào thân cây dứa, ai mà sao Thuần thấy quen quen? Người đàn bà khoảng ngoài bốn mươi tuổi, ở hai đầu xương quai xanh hõm xuống như cái hố, khuôn mặt hình chiếc thớt hao hao như chiếc lá bàng, đôi mắt có đôi mu thâm thâm hum húp lim dim, miệng mụ hơi hé luôn hà hít theo mỗi nhịp của thằng trời đày đang đánh trận trên lưng. Thuần huy động tất cả trí nhớ, lùng sục khắp mọi thời gian, nhưng không thể nhớ nổi. Cái mặt mụ vừa ác, vừa ngu lại vừa dâm dục. Nửa như sắp nhớ ra, nửa lại như quên bẵng, Thuần đành lui vào một bụi dứa dày, ngồi xuống quan sát, chờ đợi.
Sau một cơn rùng mình kéo dài, rồi cả hai vật ra. Lặng đi vài phút, họ trở dậy làm cái việc thu dọn chiến trường. Cuối cùng thì người đàn ông bê lấy cái giỏ của mình lật cái hom giỏ, thọc hai tay vào trong bốc hai vốc cáy bã trầu trút vào giỏ người đàn bà, miệng nói: “Phải hai lẻ gạo đấy nhớ”. Người đàn bà dùng đôi mắt hum húp lườm yêu người đàn ông và đậy cái hom giỏ của mình vào. Người đàn ông nhận cái lườm của người đàn bà, dứ nắm tay bảo: “Đừng có léng phéng với thằng chó nào đấy, ông giết”. Người đàn bà cười lẳng nói: “Em chỉ có mình thằng chó này thôi. Chính chuyên lắm chứ”. Chắc là trả thù lao đây, Thuần nghĩ vậy. Thuần chỉ chờ cho họ gọi tên nhau là giải đáp được nghi ngờ của mình nhưng tuyệt nhiên không một ai lên tiếng nữa, đến khi họ chia tay, người đàn bà chính chuyên túm vào cái thổ tả của thằng đàn ông bảo: “Nhớ cơ này ngày mai mang cái này ra nhớ”.
Thuần hằm hặp trở về lều gọi Sa đến và lấy chiếc mẹt với viên phấn ra (gần đây hai vợ chồng dùng mẹt và phấn trắng để nói chuyện với nhau), Thuần hỏi:
- Em có biết ông Đội không?
- Làng ta không có ai tên là Đội.
- Em có biết cô Bi không?
- Cô Bi là ai, em không biết.
- Cô Bi chủ tịch xã, mặt ngu ngu, dâm dâm, ang ác đấy.
- Làng này em biết nhiều người, nhưng đều không biết tên họ, vì em có nghe được đâu, mà cũng không có ai nói chuyện với em.
Thuần thất vọng, hơi bực, hậm hực ra mặt đê nhìn vào trong làng vẻ tức tối.
Chiều hôm sau Thuần ra chỗ họ hẹn nhau chờ sẵn, nhưng chờ mãi cũng không thấy con dâm phụ xuất hiện. Rồi chiều nữa, chiều nữa cũng không thấy họ ra. Thuần quyết phục cho bằng được, mối thù Thuần chứa chất trong lòng còn đây, bình thường thì lặng đi, nhưng khơi ra nó lại thức dậy, cắn cứa nhức nhối trong lòng.
Về mùa đông, hầu như không có ai ra biển vì cả ngày nước đóng đầy bờ. Thi thoảng có ngày đầu con nước, khoảng bốn giờ chiều triều đã rút, nên lác đác có người lội ra rừng sú vẹt bẻ củi khô về đun. Cứ thấy bóng người Thuần đều lén lút theo dõi xem có ai mặt ngu ngu, dâm dâm, ang ác không, nhưng tuyệt nhiên không thấy, cả người đàn ông giã gạo trên lưng mụ ta cũng không gặp lại.

Từ hôm Sa có ổ trứng rùa, cô cảm thấy như mình được kho báu. Sa hình dung một ngày nào đấy đàn rùa con tách khỏi vỏ trứng, đội cát chui lên nhoai xuống biển về với mẹ của chúng mà trong lòng rộn rã. Ngày nào cũng thế, cứ rảnh rỗi là Sa lượn ra ổ trứng rùa, vừa là xem đã nở chưa, vừa trông coi không để con gì phá hoại. Sa chặt cành phi lao phủ lên, được mấy hôm cành phi lao khô, lại sợ người ta vơ làm củi lỡ ra dẫm phải ổ trứng rùa, hoặc phát hiện bới lên, nên lại dọn đi chặt cây dứa dại dấp tròn xung quanh. Vài ngày nữa cảm thấy không ổn, chỉ sợ người ta thấy là lạ, rồi từ cái là lạ ấy mà tò mò đào lên thì hỏng hết, Sa lại dỡ những cây dứa dại, kéo vứt ngổn ngang làm như vô tình.
Chờ hai mươi ngày ổ trứng rùa vẫn chưa nở, Sa sốt ruột quá nghĩ ngợi lung tung, hay là đã có ai bí mật đào lên lấy hết trứng? Sa quyết định bới lên xem sao. Cả một ổ trứng còn nguyên vẹn ngồn ngộn, quả nào cũng chuyển sang màu trắng xanh, Sa lại lấp đầy cát, xoá hết mọi dấu vết, yên tâm chờ đợi.
Thuần không quan tâm lắm về ổ trứng rùa như Sa. Có lẽ với người phụ nữ, sự sinh sôi giống nòi có một sức hấp dẫn kỳ lạ, nhiều khi Sa có cảm tưởng những quả trứng rùa là do chính Sa đẻ ra. Có lần ra thăm ổ trứng, khi thẩn thơ một mình Sa còn nằm khoanh tròn trên cát cảm giác như đang ấp và cảm thấy thinh thích.
Một lần không thấy Sa ở nhà, Thuần hốt hoảng đi tìm, khi phát hiện thấy vợ ngồi một mình bên ổ trứng Thuần bực lắm, kéo Sa xềnh xệch ra bờ cát chỉ sang cái hồ có con quái vật, mặt hầm hầm quát:
- Con ác còn sống sờ sờ ra kìa. Cô ra đây một mình, nhỡ nó ấy thì chỉ có bỏ xác nghe chưa?
Sa không nghe được lời Thuần nhưng nhìn nét mặt và cử chỉ giận dữ của chồng thì hiểu. Sa đã được Thuần nói cho biết những điều cần đề phòng khi hai người về ở với nhau, nhưng Sa chưa chứng kiến con quái vật hãm hiếp phụ nữ bao giờ, nên nửa tín, nửa nghi, đôi khi cũng mất cảnh giác thật. Bây giờ nghe chồng tả lại Sa có cảm tưởng con quái vật chính là ông bố dượng, rồi từ cảm giác đó, Sa biến căm ghét ông bố dượng thành căm ghét con ác.
Một lần vào buổi chiều, Sa gọi con vàng cùng ra ổ trứng rùa (bây giờ đi đâu Sa cũng mang theo con vàng). Con vàng chạy trước và phát hiện ra một chú rùa con đang nhoai dưới cát cố thoát thân xuống biển. Thế là đàn rùa con của Sa đã ra đời. Sa mừng quá, nhặt lấy con rùa ấp vào vạt áo vội chạy về báo cho Thuần. Cả hai vợ chồng vui mừng chứng kiến một cuộc thoát thai của hơn một trăm con rùa. Để đỡ cho chúng khỏi phải chen chúc, mệt mỏi đội cát, Thuần bới hết cát để cho lũ rùa con nhoai lên, còn Sa thì chạy về lấy chiếc thúng nhặt từng chú rùa bỏ vào định đưa xuống biển thả, nghĩ thế nào Thuần ngăn lại, bảo Sa mang về nuôi mấy hôm cho cứng cáp rồi hãy cho chúng về với biển. Sa bắt Thuần đào một cái hố thật sâu và rộng đủ để hơn một trăm con rùa trú tạm. Suốt ngày nếu rảnh rỗi lúc nào là Sa ngồi chơi với chúng. Sa vuốt ve, âu yếm, cuộn rùa vào vạt áo nựng như nựng đứa trẻ. Sa muốn ru một câu à ơi mà không sao phát thành âm được, rồi đến ngày Sa cũng phải thả lũ rùa về với thế giới của chúng. Hôm ấy, chờ nước triều đầy bờ Thuần và Sa đựng rùa vào chiếc thúng mang ra mép nước thả từng con xuống biển. Đứng nhìn lũ rùa choãi bốn cái mai chèo, đườn chiếc cổ dài ngoẵng lao vào lòng đại dương mênh mông mà lòng Sa thấy buồn trống trải, cảm giác như một người mẹ nuôi con trưởng thành đã đến lúc thả đứa con bay đi... Thuần bảo, giống rùa lạ lắm. Những con rùa con Sa vừa thả xuống biển, nó sẽ đi xa muôn trùng khơi, nhưng đến khi sinh nở, nó lại trở về đúng cái nơi mà nó sinh ra để sinh nở. Nghĩ thế, nên Sa cũng yên tâm và chờ một ngày nào đó Sa sẽ gặp lại những con rùa của mình.
Mấy ngày sau đó, sáng nào Sa cũng cùng con vàng đi dọc bờ biển xem có thấy bóng dáng chú rùa con nào trở lại, hoặc có bị sóng đánh vật vờ bãi cát. Thật may không thấy xác con nào, và cũng thật buồn Sa không còn cơ may gặp lại chúng. Sa vòng lại cái ổ trứng, ở đó chỉ còn lại cái hố sâu toen hoẻn, với những cái vỏ trứng màu trắng xanh, cái bửa đôi, cái thì vỡ nát. Con vàng ngửi ngửi, rồi bỏ đi đuổi theo một con còng đực màu đỏ ngoài bãi cát. Con còng mất cảnh giác vì đi chơi quá xa chiếc hang của mình, nên vừa nghênh chiếc thanh long đao phòng thủ, vừa chạy bán sống bán chết. Không kịp rồi, con vàng với tốc độ phi nước đại đã kịp bổ đến nơi con còng, nó há cái mõm đen xì định tợp một nhát cho con còng đi đời nhà ma, nhưng liền đó con vàng bỗng tru lên ông ổng, chúi cái mõm xuống cát dụi cuống cuồng. Thì ra con còng đã kịp đưa chiếc thanh long đao bập sâu vào mõm con vàng, rồi nhanh chóng ngắt bỏ chiếc thanh long đao ở lại với chiếc mõm. Trong khi con vàng đang đau đớn kêu ăng ẳng, thì con còng đã kịp “chào long đao ở lại nhé, còng đi đây” và chạy thoát chui xuống một chiếc hang gần đấy.
Con vàng ngẩng lên và ngoan ngoãn để cho Sa ôm cổ gỡ chiếc càng con còng. Chiếc càng bấm sâu và rất chắc, Sa không thể nào gỡ ra được, rứt ra thì đứt thịt con vàng. Cuối cùng Sa phải ghé miệng cắn vỡ chiếc càng mới giải thoát được cho con vàng. Từ đó cứ hễ nhìn thấy những chú còng đo đỏ, xanh xanh, đen đen có chiếc thanh long đao lúc nào cũng giơ lên dư dứ là con vàng khiếp không dám lại gần. To lớn là thế, hung hãn là thế, đêm tối đố có sợ, kẻ gian có vũ khí cũng không coi ra gì, còn xông đến xé rách thịt, vậy mà lại sợ con còng chỉ to bằng ngón chân của mình. Bây giờ mỗi khi ra bãi, con vàng chỉ đứng từ xa nhìn bãi còng chớp chớp như sao rồi nguẩy đuôi quay đi. Có một lần con vàng đang nô dỡn với con mèo mướp ngoài gốc phi lao, bỗng chú vàng bỏ bạn chạy tọt vào gầm giường, rúc tận góc. Thấy lạ, Sa chạy ra xem, tưởng gì hoá ra một chú còng đỏ bò từ trong giỏ cá của Thuần bò ra. Con mèo mướp tiến lại gần đứng nhìn một lúc rồi giơ một tay ra khều khều con còng định chơi trò vờn chuột. Lập tức chiếc thanh long đao của chú còng dính luôn vào bàn tay con mèo. Con mèo mướp phảy tay kêu ré lên, chú vàng nằm trong gầm giường vẫy đuôi xem chừng khoái chí lắm.






...CÒN TIẾP...
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 18.04.2009 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội .
. TÁC PHẨM CỦA BÙI THANH MINH CHỈ ĐĂNG TẢI TẠI NƯỚC NGOÀI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM