Au Dela Des Nuages - tranh của Julie Avignon










































Lời Tác Giả

       
Câu chuyện tình có thật, thánh thiện, chân thành và xúc động của công chúa Mai Hoa và cha cố Tây Ban Nha Cevallots diễn ra trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI, đã trao cho tôi cảm hứng sáng tạo tiểu thuyết Mây Trắng Tình Yêu với ý tưởng khám phá cuộc hành trình hướng thượng của con người: từ đời sống vật chất- đời sống xã hội… đến đời sống tinh thần cao siêu thần thánh… từ thể xác đến linh hồn…
        Những trang viết phảng phất hồn Kinh Thánh là chất liệu tinh hoa của tiểu thuyết, dựa trên câu chuyện thật và là sự giao thoa giữa hai nền văn hóa Á- Âu. Những chi tiết về cuộc sống của các nhân vật và không gian, thời gian trong tiểu thuyết hoàn toàn ước lệ, là bông hoa nghệ thuật… nở ra cuộc phiêu lưu tâm trí của con người hiện đại. Nghệ thuật của tiểu thuyết là những âm vang điệp trùng của những câu chuyện được kể với những giọng điệu khác nhau, hòa thành giai điệu tình yêu tỏa sáng…
        Tiểu thuyết dành cho những ai đã từng yêu, từng sống như một cá nhân độc lập, tự do trong hình khối của cây thông đứng thẳng, vút lên trời, biểu tượng của triết lý phương Đông ” Thiên- Địa- Nhân” hợp nhất… và cả những ai mong muốn được sống, được yêu như vậy.

                 Bên Hồ Gươm mùa Giáng Sinh 2005

                 Mai Thục




Chương 1


Bãi biển miền Trung Đại Việt sau cơn bão lớn, những ngày cuối năm 1590. Sóng dồn lên bãi cát hoang lạnh. Sóng bạc đầu. Sóng âm u. Rác rưởi từ mênh mông đại dương đổ vào bờ cát. Những người đàn ông nhỏ thó, da vàng đen cháy, đang gỡ lưới trên một con thuyền thúng đan bằng tre đã nát vì sóng. Họ vừa lấy tay quệt mồ hôi trên trán vừa trò chuyện. Tiếng nói của họ líu ríu như tiếng chim lạ trong khu rừng nhiệt đới, với nhịp điệu ngắt quãng, dập dồn, hoảng loạn giữa tiếng gầm rú của hổ báo, tiếng hú ghê rợn của rừng già… Họ lầm rầm khấn nguyện cho người chủ thuyền xấu số “Xin linh hồn sống khôn chết thiêng, hãy thoát ra khỏi tấm lưới rách tả tơi này, về với ông bà, tổ tiên, phù hộ độ trì cho gia quyến còn sống sót và cho cả chúng tôi. Thân xác người trôi dạt về đâu hãy linh báo cho chúng tôi biết để chôn cất …”

Sóng ào ào đổ vào đất liền, chuyển thành những âm vang kinh hãi. Hình như có tiếng kêu cứu của con người lẫn trong tiếng gầm gào của biển?...Gió bão đã ngừng, mà tiếng gầm rú cứ rung lên. Họ ngẩng đầu nhìn ra biển. Xa xa, có một con thuyền lớn chồm lên trên sóng, có những bàn tay chới với, ông dân chài thốt lên:

- Thuyền to như quái vật từ mô tới bay à.

Tiếng gầm gào mỗi lúc một rõ hơn…

Mặt trời tròn như quả cầu lửa nhô lên mặt biển chừng một con sào, tỏa nắng lung linh như phả hơi ấm sưởi mặt đất giá buốt. Người trẻ nhất trong bọn cởi phăng chiếc áo tơi mo cau bám lủng lẳng bên mình, chạy ra phía con thuyền chao đảo muốn xô vào bờ. Anh huơ tay liên tiếp ra hiệu đón tiếp con thủy quái khổng lồ. Bảy chiếc cột buồm cao lênh khênh, gắn trên con thuyền to như ngôi nhà quan huyện, tăng tốc chạy về phía anh. Gió làm cho vô số những lá buồm dùng để điều khiển tốc độ rách tứ tung. Con thuyền dừng lại trước mặt anh, thành sắt cao lút đầu, trên tầng cao có một khẩu pháo, mũi thuyền có hình mặt người, đầu rồng, râu tua tủa… Người thủy thủ quăng neo sắt xủng xoảng, thả cầu thang xuống mặt cát, nhiều người trên thuyền bước xuống.

Anh nhìn kỹ bọn họ. Da họ trắng, tóc hung hung, dáng người cao lênh khênh. Họ xì xồ gì đó. Vẻ mặt ai nấy đều mệt mỏi, bơ phờ, nhưng họ không có gì tỏ ra sợ hãi hay dữ tợn. Anh quay về đám bạn chài la to:

-Thuyền buôn của người Tây dương. Các ông lại đây xem họ muốn cái chi. Đừng sợ. Họ không bắn bọn ta đâu.

Mấy cái bóng nhỏ lòng khòng chạy xô lại. Họ bấm ngón tay đếm được mười bảy người Tây, những đôi mắt xanh sâu thẳm đợi chờ, cầu cưú. Đám dân chài cảm thấy hể hả trong bụng. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, họ có cứu được ai đâu. Thân còm chống chọi với giặc trời, giặc người, giặc triều đình, cơm không đủ ăn, áo không có mặc, họ bám vào biển, đêm đêm, chèo thuyền mủng ra khơi kiếm dăm chú cá lẹp, tôm moi... Họ dựng nhà lá trong các mảnh ruộng cát, chỉ trồng được một loại khoai lang. Đêm tối mù mịt tràn xóm lạnh, những cặp vợ chồng ôm nhau trong bóng tối dăm mười phút, tòi ra những thai nhi. Người đàn bà đẻ mười bận chỉ nuôi sống đựợc ba đứa là may… Họ hiểu rằng mình mỏng manh và bất lực trước cái gọi là cuộc sống. Nhưng sự sống như chim trời, như cỏ dại, như hoang thú, đi cùng họ khi mặt trời lên.

Lão Bạng đến gần một người Tây dương định hỏi xem họ cần gì. Nhưng cả hai đám người không thể nói với nhau. Vài người Tây vội giơ tay ra dấu rằng” Chúng tôi đói. Chúng tôi khát”. Lão Bạng hiểu ý, bảo thằng Bần là cháu nội mình:

- Mi về luộc một rổ khoai lang mang ra cho họ.

Thằng bé hãnh diện nhảy chân sáo về xóm rừng phi lao. Thằng Sào con hàng xóm đứng cạnh lão Bạng không được sai làm gì, nó tức khí định trèo lên con thủy quái đang phơi mình như xác chết trên bãi cát lục soát đồ đạc. Lão Bạng ngăn hắn lại:

- Mi có biết thế nào là người quân tử không?

Thằng Sào cúi đầu nhận lỗi. Nó biết nhà lão Bạng có sách Tàu. Nó lí nhí nói:

- Tui về nhà mang nước mưa cho người Tây uống.

Nhìn thái độ của lão Bạng và đám dân chài, những người Tây dương thấy ấm trong dạ, dù cái đói, cái khát sắp đánh gục họ. Họ nhắc nhau cố gắng lịch lãm trước những con người nghèo khổ này. Họ xem la bàn, biết đây là miền Trung Đại Việt. Một đất nước nhỏ bé bên bờ Đông Thái Bình Dương, từng đương đầu chống chọi với nước Trung Hoa khổng lồ và cả đội quân Nguyên hung tợn của châu Á. Một thủy thủ nói:

- Trông bề ngoài họ có vẻ yếu mọn, nhưng đôi mắt họ tinh ranh lắm, nếu không cẩn thận, chúng ta có thể bị họ chặt đầu ném xuống biển trong giây lát.

Chàng làm dấu thánh giá tạ ơn Chúa và tiến gần lại thổ dân, chìa bàn tay ra. Lão Bạng ngập ngừng nắm bàn tay to trắng bệch của chàng. Bốn mắt nhìn nhau, đôi mắt xanh màu nước biển quấn quyện trong đôi mắt màu nâu đen mờ đục. Hai linh hồn giao nhau. Tình người dâng trào, chàng nhớ đến cái tháp Ba-bên trong kinh Thánh. Chuyện kể rằng ngày Chúa mới tạo ra loài người, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng. Nhưng tại một đồng bằng trong xứ Si- nê- a, người ta bàn nhau” nặn đất làm gạch nung trong lửa, làm hồ dính kết, xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời, để nhớ đến nhau, phòng khi ta phải chia tay tản lạc khắp trên mặt đất”. Đức Chúa Trời ngự xuống xem cái thành và cái tháp của loài người xây nên. Chúa phán nếu chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng, thì chẳng có sức mạnh nào ngăn họ làm những việc động trời. Chúa quyết định làm lộn xộn tiếng nói của loài người. Từ đó, họ không nghe được tiếng nói của nhau. Chúa làm cho loài người tản khắp trên mặt đất. Họ thôi không xây thành nữa, đặt tên thành là Ba- bên (nghĩa là lộn xộn) để ghi nhớ nơi Chúa đã chia rẽ loài người.

Hình như Chúa vẫn gắn kết loài người lại mỗi khi họ gặp nguy nan và cầu đến Chúa. Hai đám người da vàng, da trắng này không hiểu được tiếng nói của nhau, nhưng họ đã cảm thông sau cái nhìn thương mến và đôi bàn tay chạm nhau…

Thằng Bần khệ nệ bê ra một thúng khoai lang bốc hơi nóng. Thằng Sào cùng chị nó khiêng đến một vại nước mưa, vài cái bát sành sứt miệng, một cái gáo dừa. Những chiếc áo tơi làm bằng mo cau được trải trên cát. Lão Bạng đưa từng củ khoai to bằng cổ tay lẻo khẻo của lão cho người Tây dương. Họ đỡ củ khoai nóng đưa lên miệng. Khoai bở tắc nghẹn nơi cổ họng, chàng thủy thủ lại gần cô Nhài, chị thằng Sào, xin nước uống. Thiếu nữ làng chài da nâu, cặp mắt sáng như sao đêm, cầm chiếc gáo dừa, duyên dáng múc từng gáo nước mưa trong vắt, đựng trong chiếc vại sành màu đất nâu, đổ vào bát gốm màu thanh thiên, đưa cho chàng thủy thủ. Chàng nâng bát nước trong tay, chuyển cho bạn. Nước từ gáo dừa trên tay cô Nhài chảy xuống như dòng sữa của Mẹ Đồng Trinh, truyền sức sống cho người Tây dương sắp lả đi vì khát. Chàng thủy thủ nhìn cô như ngây dại. Chàng thầm thì:” Tạ ơn Chúa, người cứu rỗi chúng con mọi lúc, mọi nơi”. Càng nhìn Nhài, chàng càng ngây ngất, gương mặt nàng thánh thiện, đôi môi đỏ hình trái tim, cặp vú của nàng tròn mơn man ôm bộ ngực, chiếc yếm nâu khoe cái cổ cao ba ngấn khêu gợi, đôi chân dài, thon thả lộ ra dưới chiếc váy màu đen xòe nếp như sóng. Chàng không thể ngờ rằng ở cái xứ sở nhiệt đới tận cùng thế giới này lại có thiếu nữ đẹp như vậy. Chàng vẽ trong đầu mình hình ảnh nàng khỏa thân, từng đường cong mịn màng da thịt, hương thơm tỏa ra từ nơi ấy, kín đáo, âm thầm. Chàng lặng người, mặt nóng bừng. Chàng thì thầm như trong cơn mơ: “ Một con rắn đang ngự nơi mình nàng. Nàng sẽ sinh ra sự sống và sự chết ở thế gian này”.

Đám người Tây dương đã no nê bởi khoai lang và nước lã, lão Bạng bảo thằng Bần lên cửa quan trình bẩm về chuyện này. Nó chạy vụt đi. Một lúc sau hai người nhà quan tới kèm theo thông ngôn người Tàu, biết đây là tàu của người Tây Ban Nha bị bão trôi về đây, anh mời họ về công đường. Những người Tây chia tay đám dân chài trong im lặng. Một ông Tây dáng điệu trang nghiêm, thánh thiện đã thầm cầu nguyện:

” Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa. Sự thương xót và sự chân thật đã gặp nhau. Sự công bình và bình an đã hôn nhau. Sự chân thật nứt mộng từ dưới đất. Sự công bình từ trên trời ngó xuống. Ngài sẽ phán bình an cho dân sự và cho người thánh của Ngài.”

Họ lê bước trên con đường cát quanh co. Gió từ dãy núi xa mờ phía Tây thổi lại làm da thịt họ khô lạnh. Chẳng ai nói một lời nào. Họ đưa mắt nhìn quanh, những ngôi nhà lá hoang sơ bám vào những gốc phi lao khẳng khiu, mặt đất không có cây rau, hoa quả. Dăm đứa trẻ còm nhom, tóc cháy nắng, tò mò chạy theo họ. Bãi biển lùi xa. Công đường là một ngôi nhà hình chữ nhật xây gạch, mái lợp lá, nằm sâu giữa vùng dân cư, nhiều cây to xung quanh. Họ phải cúi đầu đi qua cái cổng, lính gác dẫn họ vào nhà. Căn phòng lớn có nhiều cột, viên quan ngồi sẵn trên bộ bàn ghế gỗ màu nâu gụ dành riêng cho mình. Ông mặc bộ quần áo lụa dài màu xanh đen, đầu đội khăn xếp, vẻ mặt không đến nỗi hống hách. Đoàn khách vẫn đứng giữa nhà. Thông ngôn ra lệnh:

- Các ngài quì xuống lạy quan lớn.

Họ lật đật quì hai đầu gối, mặt sát đất, mười mấy cái lưng dài lòng khòng lom khom trông phát phì cười. Riêng có một người cứ đứng như cột chống trời. Ngạc nhiên và tức giận, anh thông ngôn lớn tiếng:

- Ngài quì xuống.

Đôi mắt xanh màu nắng gió biển khơi phóng vào người thông ngôn, lặng lẽ mỉm cười. Nụ cười hàm tiếu.

Quan huyện thấy vậy ngỡ ngàng. Ông ngắm nhìn vị khách bướng bỉnh. Chàng bao nhiêu tuổi, ông không thể nào đoán được. Nhưng phong độ chín chắn, cái mũi cao, cằm vuông, trán rộng, thân hình cao cân đối, gương mặt tươi tắn, an lạc, nhẹ nhàng như được nuôi dưỡng bằng không khí, ánh sáng và cỏ thơm của chàng, dâng cho ông một cảm tình đặc biệt. Ông gọi thông ngôn:

- Ông Lý cùng tôi trò chuyện với người này.

Lý cúi đầu :

- Bẩm quan lớn, người cứ tự nhiên, con xin tận tụy cung phụng quan lớn.

Lý nhìn chàng Tây, vẻ mặt mềm lại, thông dịch từng lời quan huyện thốt ra:

- Ngài từ đâu tới đây? Ngài làm nghề gì?

- Chúng tôi từ Tây Ban Nha vượt biển sang Trung Hoa, chẳng may bị bão, thuyền trôi giạt về xứ sở của quan lớn đây. Chúng tôi xin quan lớn cho phép lưu lại một thời gian để sửa tàu thuyền, chuẩn bị thực phẩm và lên đường sang Trung Hoa làm tròn phận sự của mình.

- Tôi muốn biết tên của ngài. Tại sao ngài không quì trước mặt tôi như các ông bạn của ngài?

- Tôi chỉ quì lạy một mình đấng tối cao toàn năng. Bởi người là ánh sáng của ánh sáng. Người là tình yêu, là chân thiện mỹ, là sự sống vinh quang. Hãy gọi tên tôi là Cevallos,- Pedro Ocdoniez Cevallos.

Lần đầu tiên quan huyện nghe được những lời nói hay như hát của chàng trai Tây phương, ông nghĩ đây là một con người thánh thiện và cao thượng, có thể chàng là hoàng tử của đất nước Tây Ban Nha xa xôi tới đây. Ông bảo:

- Tôi đồng ý để các thủy thủ của ngài ở lại đây sửa tàu. Người của tôi sẽ đưa ngài tới gặp vua Lê Thế Tông ở Yên Trường .

- Tạ ơn Chúa. Xin quan lớn cho hai người bạn của tôi đi cùng.

... CÒN TIẾP ...

© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 29.03.2009.