PHẠM QUỐC RỊN

PHẬP


Giữa trưa, trời chuyển cơn giông ầm ầm. Bà Hai tất tả chạy ra sân cứu ngô. Mùa này, chỉ có từng ấy. Ít ỏi, úa màu và lép hạt. Trời chơi ác, tháng ba đã qua, tháng tư cũng già mà lại đổ mưa. Nhỡ ra ngô ướt, hoá ra cả mùa làm quần quật, bà gặm cùi ngô ư? Cho dù thế nào cũng phải cứu. Mặt bà xanh bợt và hoảng loạn, chân bà vẽ thành hình chữ Chi dấp dính
- Cứu ngô, lạy bố cứu ngô, lạy trời mưa chậm…
- Cứu ngô, chồng ơi, cứu ngô con trai, con gái, con rể, con dâu…
Trong bối cảnh ấy, trời lẹt bẹt đổ nước. Mau dần, gấp dần. Bà Hai đơn độc giữa bầy sói nước. Bà rơi vào trạng thái tuyệt vọng. Những bắp ngô bà vớ được trên tay lần lượt rơi xuống nằm ngỗn ngang. Bà vươn thẳng người, mặt ngếch lên trời, mồm cười hềnh hệch:
- Bọn mày không giúp bà, bà đếch cứu ngô, xem ai đói…
Rồi cái lưng gù gù của bà lẳng lặng chui vào cái nhà, cũng gù gù, mất dạng. Bà ngồi thu lu trên tấm phản duy nhất trong nhà ngó ra sân. Ngô thấm nước xỉn màu hơn. Dòng chảy của nước bạt những thân ngô xiêu vẹo. Thật là lộn xộn. Bà Hai nghĩ, đến ngô cũng biết cách chơi xỏ bà. Từ trạng thái im lặng, bà đăm chiêu, rồi sụt sịt. Bà quay hẳn lưng lại và hờ khóc:
- Trời mưa tao gọi chúng mày, chúng mày chết hết ai hay tao buồn…

Chuyện Làng Cò.

Làng Cò thuộc vùng bán sơn bán địa. Cuộc sống ở đây hiu hắt và tàn lụi. Trước kia, bây giờ và có thể là mãi mãi. Đất ở đấy chỉ có thể trồng ngô. Ngô là lương thực chính của bao lớp người. Trẻ con bú sữa mẹ nghe gây gây mùi ngô bung, người trưởng thành nấu rượu từ ngô mà uống, người chết, trước khi khâm liệm được cháu con cho bảy hoặc chín hạt ngô vào mồm, tuỳ theo giới tính. Đêm ở đây bị cô đặc. Người lạ đến thường vấp vào bóng đêm sền sệt mà ngã dúi dụi. Nghe nói, bóng đêm ở đây hay dẫn dụ trẻ con vào trong rừng sâu, không ai hay biết. Lúc phát hiện, đứa trẻ hoặc ộc máu đen nằm trợn ngược mắt mà chết, hoặc bụng phình to ra, mắt nổ tròng. Lật bụng lên, những hạt ngô to bằng đốt ngón tay sếp trong khoang bụng hằn ra ngoài da mồn một.
Đầu làng có một ngôi đình to vật. Hàng năm ở đó đều có hội. Theo thông lệ, mỗi năm qua đi, hội phải nhỏ đi. Chu kì trăm năm, đình bị phá, sau đó xây lại, hội to, sau đó teo nhỏ, lại đập và…Năm nay, tôi thấy người ta bưng lợn đất ra chầu các thánh thần. Trong làng, người tôi ghét nhất là ông Dầm. Lão già này theo cách gọi của người lớn là Trưởng thôn. Tôi vẫn nhớ câu chuyện năm trước, cũng trong hội làng, lão Dầm như thường lệ là chủ khấn cho làng. Tôi tò mò muốn biết trong cái đám đông trầm lặng kia, bọn người lớn đang làm gì. Tôi lẻn vào sau cái tượng gỗ mun ở chính điện. Mùi gỗ xông lên muốn tắc thở, hình như đứa nào đó bôi phân chó lên tượng thần, tôi bụm mũi lại và quan sát. Lão Dầm cầm bó hương nghi ngút, miệng khấn liên hồi. Tôi phát nhức đầu vì cái tiếng thuốc lào của ông ta day đi day lại mỗi một câu:
- Cầu cho mưa thuận gió hoà, hực, mùa màng tươi tốt, hực.
Kết thúc một câu, lão hức lên một tiếng. Tôi đánh rắm trong khi cố nhịn cười. Trông lão này gian lắm. Xung quanh mọi người chắp tay nhắm mắt lại thành khẩn cầu xin. Mắt lão đảo như lạc rang. Lão dừng lại ở bộ ngực cô Sửu, bốn mươi hai tuổi, chết chồng. Tôi ngó cái lưng lom khom của lão, ở phía hạ bộ, cái áo chùng thâm tự dưng nhú ra nhọn hoắc. Tôi không thể nhịn nổi, tay vẫn bụm mũi và hô to:
- Chim lão Dầm to vãi…
Đám người khẽ ngẩng đầu lên, sau đó họ lại cúi xuống tiếp tục cầu nguyện. Riêng tôi và lão Dầm, cả hai cùng run lẩy bẩy. Sau hội năm nay, đình bị đập bỏ.
Lễ Hội nào cũng có hai phần: Phần Lễ và Phần Hội. Phần Lễ ông Dầm đã triển khai xong. Nói chung Lễ là phần tôi cho rằng rất chán nản. Nó diễn ra trong gian thờ chính, bí hơi. Trong không gian sặc hơi người và khói hương, lão già trưởng thôn đọc lại sự tích của vị thánh làng Cò. Chính hội là mùng tám tháng tư âm lịch. Chuyện kể rằng, một mùa hè nọ, xa xưa lắm, trời đột ngột đổ mưa. Có một goá phụ hối hả cứu ngô đang phơi ngoài sân. Mưa ập đến nhanh quá, bà không cứu kịp ngô, uất đời, treo cổ tự vẫn. Bà ra cái cây cổ thụ không cành, dùng dây mây làm cái thòng lọng. Bà đưa cổ vào tròng khi mưa rơi tầm tã. Chợt có tiếng sét vang lên bên tai bà. Cái cây gãy đôi bà thoát chết. Về nhà, bà mang thai và sinh ra một chú bé. Chú bé có tên là Đo. Chú này sống được trăm tuổi mới biết nói. Câu đầu tiên chú nói với người mẹ, lúc đó sắp chết:
- Sao bà lại thắt cổ ở cái cây không cành? Đó là cái của quí của thiên lôi mà.
Bà già cười hừ hừ mấy tiếng rồi lăn ra chết ngắc. Đền làng tôi có tên là làng Đo từ ấy. Thánh Đo có công khai khẩn đất hoang, giết dã thú và tạo giống cho làng Cò. Cò là người phụ nữ sinh ra nhiều con nhất cho thánh Đo. Tục truyền rằng, vì thánh Đo không chung thuỷ nên bà Cò nguyền rằng: Trong chu kì trăm năm, đình làng phải phá đi một lần và một truyền nhân của thánh Đo xuất hiện. Cũng theo gia phả, lão Dầm là con cháu của thánh. Ông cố của lão Dầm là truyền nhân của thánh Đo. Vụt cái đã qua trăm năm. Sắp xuất hiện một truyền nhân khác. Tuy ấm ức vì không được là truyền nhân của thánh, lão Dầm cũng thuộc hàng thượng thừa trong cái khoảng gái gú. Theo thống kê, bảy bà có chồng từng dan díu với lão, mười cô gái tơ bị lão hãm hại, riêng vợ, lão cũng có bốn bà. Điều đáng nói là lão không có một đứa con nào.
Phần Hội làm tôi hưng phấn. Dân làng đang bày binh bố trận diễn lại cảnh thánh đấu với dã thú. Thánh năm nay do anh Trai đóng. Một thanh niên cường tráng và giỏi giang nhất làng. Anh mặc áo đỏ trông oai vệ và hùng dũng. Anh cầm một cây quyền trượng màu mè loè loẹt múa bảy bài quyền do thánh truyền lại. Tiếp đó, hai mươi tám cô gái mặc áo đen túa ra từ các phía bao vây lấy thánh. Các cô này tượng trưng cho dã thú. Vậy mà cô nào chạy cũng ỏng ẹo, đôi bầu vú bung bần bật trong lần áo đen mỏng dính. Tôi thấy thánh có dấu hiệu đỏ mặt chồn tay. Tình thế thật gay go. Tôi chỉ sợ thánh bị thẹn lại thất bại trước bầy lang sói. Các cô quây chặt lấy vị thánh của chúng tôi. Đột nhiên có cô dứ hẳn bộ ngực đồ sộ của mình vào sau lưng vị thánh. Thánh giật mình quay lại, mắt trắng dã thụi cho cô kia một cái. Sau tiếng hự là một thân người đổ phịch xuống đất. Lão trưởng thôn nhe răng:
- Phập!
Người làng nhốn nháo:
- Thánh nhập rồi đấy…
Các cô gái cũng không còn miệng cười toe toét, mặt bầm lại, mắt âm u tối. Các cô chạy vùn vụt quanh vị thánh, tôi chóng mặt ngã kềnh ra đất, trúng chân lão Dầm. Lão quát:
- Say hả. Mẹ mày, phập nó đi!
Dân làng bắt đầu hò hét. Thánh tả xung hữu đột, rốt cuộc thì hai mươi tám con dã thú cũng thất bại. Con thì hở sườn, con hở bắp đùi, da con nào cũng non nõn trắng. Lão Dầm tứa nước bọt, hô liên thanh:
- Phập, phập, phập…
Tôi thấy khó hiểu nên nắm vạt áo lão hỏi:
- Phập gì hả cụ?
Cụ trả lời:
- Phập cái con mẹ mày.
Lão hối hả bỏ đi. Tôi đứng ngẩn tò te một lúc. Đến khi tìm thấy lão thì lão đang đứng ở đám đâm trâu. Cả làng cử ra năm mươi thanh niên trai tráng tham gia hội dũng sĩ giết trâu. Con trâu bị tròng cho bốn vòng thòng lọng, sợi thừng to bằng cổ tay người lớn. Tôi trông thấy lão già kia vỗ tay bồm bộp, chạy tứ phía dặn dò trai tráng. Anh nào cũng gật đầu lia lịa, song tôi tin chắc là chẳng nghe lão nói gì. Trống điểm tùng tùng. Năm chục người cởi trần đóng khố, tay cầm lao. Cây lao có chút đặc biệt, cán làm bằng cây trầm hương và mũi làm bằng đá. Làng trồng trầm hương chỉ để chuẩn bị cho hội đình. Rừng trầm hương rộng mênh mông, cây nào cũng có tuổi thọ ba năm. Mắt của đám thanh niên anh hùng vằn tia máu. Con trâu căng mắt ra hoảng hốt. Nó định bỏ chạy, nhưng không được. Chân sau nó luỳnh khuỳnh co duỗi, đạp tung đất đá ra tứ phía. Chân trước theo nhịp bước tới. Nó xoay lòng vòng quanh cái trụ tre cao vút trời thở hồng hộc. Những nhát đâm thăm dò làm con trâu chạy hăng hơn. Năm mươi anh hùng hò hét đâm tán loạn. Con trâu dính đòn, toàn thân máu rỉ ra đỏ lòm. Lão già kia hô:
- Phập nó đi, những anh hùng.
Con trâu khuỵ hai chân xuống. Mũi nở ra những bong bóng máu. Cái này tiếp cái khác, phồng lên rồi vỡ tung. Mùi tanh của máu lan toả trong không khí. Tôi bị choáng váng. Con trâu chết đi, còn lại năm mươi anh hùng đóng khố cởi trần ôm nhau hoan hỉ. Lão Dầm vỗ đùi bèn bẹt:
- Quả thực là anh hùng. Phập, phập, phập…
Có lẽ cao hứng quá nên tôi trông thấy mép lão trưởng thôn này, máu lẫn với nước bọt nhoe nhoét.
Phía xa của chân trời mây bắt đầu dồn lại. Màu sẫm của vũ trụ lan dần ra. Cả đám đông náo nhiệt ngẩn tò te chẳng hiểu chuyện gì. Ông Dầm khoanh tay ra sau đít lẩm bẩm.
- Mẹ nó, đang hội lại mưa.
Rồi cất cao cái giọng của thần thuốc lào hét toáng lên:
- Bà con, mưa rồi. Hội tạm dừng. Hết mưa hội tiếp. Hực.
Tôi thấy trong lời nói của lão đượm mùi phẫn uất. Lão dứt lời, mưa trút xuống ầm ầm. Một vạch đỏ cắt đôi bầu trời. Ầm một cái.
Lão Dầm nằm quay đơ. Người lão đen như chó thui. Đám đông chạy thụt mạng. Chạy chết. Tôi còn nghe văng vẳng câu hát Dô của ai đó:
- Rủ nhau lên núi hái chè…Em ơi…
- Hái dăm ba lá xuống khe ta ngồi…hò lơ, hò lờ…
Riêng câu này tôi nhớ, năm nào lão Dầm cũng hát. Tôi sực người lại, hay là hồn lão đã bay theo câu hát giao duyên ấy. Tôi về trong tâm trạng vô cùng buồn bã. Hội đình làng tan tác. Lão Dầm thì ngoẻo. Chẳng biết bao giờ hội mới nối lại. Mà mưa, sao mưa rơi mãi thế này.
Nằm trong nhà, nước dột long tong. Mẹ tôi ngồi cậy hạt ngô. Bố rít thuốc lào. Ông có tật hay gãi háng.
- Mưa mãi thế này…
Bố tôi nói xong liền cho tay vào cái quần cộc thủng đáy gãi sồn sột. Mẹ nhìn thấy lắc đầu:
- Bố mày lỡ háng à?
Bố với vẻ mặt suy tư chẳng nói gì. Đột nhiên ông quay sang chỗ tôi nằm:
- Rin, mày bỏ học đi.
Hầu như tôi không có chút hứng thú gì với công việc học tập. Nhưng, việc bố hỏi hơi đột ngột. Tôi gãi đầu
- Nghĩ học làm gì hở bố?
Bố chưa trả lời thì mẹ tôi gào lên:
- Nghỉ học để lỡ háng giống bố mày. Đồ con lợn.
Anh Trai từ đâu tuồn thẳng vào nhà tôi. Anh hớt hãi nói những câu vô nghĩa:
- Mưa…nước…tràn…cái mà tràn qua suối
- Cô chú phải chạy…chạy dài…chạy nhanh nhanh nhé…Hực
Tôi trong lúc đó tự dưng lại thấy anh Trai giống ông Dầm như đúc. Ngay sau khi anh Trai vừa bò vừa chạy khỏi nhà tôi, bố tôi vừa gãi háng vừa kết luận:
- Lũ. Chạy.
Tôi còn nhìn thấy mẹ bật hết chín hạt ngô nữa mới phủi mông đứng dậy.
- Chu kì một trăm năm…
Tôi bị bố dốc lên vai và cảm thấy mặt đất lao về phía những giọt mưa. Trong lòng thấy thối nát vì hội đình coi như không bao giờ tiếp diễn nữa. Phía sau, mặt mẹ thâm tím vì lạnh. Trên vai một cái bao tải to có bọc ni lông, chắc là ngô. Nhìn mẹ tôi có cảm giác cái bao tải thì chạy còn chân mẹ cứ nâng lên lại đặt xuống tại chỗ. Tôi thấy ứa nước mắt vì ngón chân bà nứt nẻ. Thỉnh thoảng bố quay lại gọi thê thiết:
- Mình ơi…
Mẹ chạy nhanh hơn và nói với bố:
- Ông lại lên cơn ngứa háng à…
Tôi thiếp đi. Trong mơ màng, có một cái cây không cành đen thui, nó thẳng đứng trước mặt tôi. Vụt một cái, cành đâm ra tua tủa. Trên đỉnh cây, nở ra một cái chũm hoa đỏ loét. Một dòng nước đục ngầu từ bông hoa phún ra trúng mặt tôi. Tôi giật mình, thì ra là mẹ tôi bị ngã nước bùn bắn vào mặt tôi. Mẹ lồm cồm bò dậy. Mắt trân trối nhìn tôi. Rồi bà lẫy bẫy ngã xuống. Bao tải ngô lăn lông lốc trên con đường dốc. Tôi gọi bố. Ông vứt tôi xuống đất. Bố thì chạy, còn tôi thì trườn đến bên mẹ. Trong khoé mắt của bà, còn một tia sáng vụt chói thẳng vào mắt tôi. Lồng ngực tôi nhói lên một cái. Bố nâng đầu mẹ dậy, bố lấy tay quẫy đầu mẹ lắc lư gọi:
- Mình ơi, mình ơi…
Tôi ú ớ gọi:
- Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Chỉ có tiếng mưa rào rào đáp lại tiếng của bố con tôi. Tôi tin rằng cái cây khốn nạn mà tôi mơ thấy là điềm báo trước cho sự ra đi của mẹ. Bố ngồi khóc tu tu, một tay lay mẹ, một tay gãi sồn sột ở háng.
Khi chúng tôi đến cái hang trên đỉnh đồi trọc, dân làng đã có mặt tự bao giờ. Trong cái hang không quá lớn đó, những trái tim làng Cò rên rỉ và kể khổ với nhau. Tôi để ý thấy người nào cũng có một cái bao tải giống như cái bao tải của mẹ tôi. Bố đang nằm lăn lộn trên đất. Sau lão Dầm, mẹ tôi là người thứ hai của làng ra đi. Trước khi chết, mẹ tôi đã từng sống. Tôi nhớ có lần, một con rắn từ trên nhà rơi xuống chân tôi. Lúc đó tôi mới hai tuổi. Bố mẹ tôi đi rẫy tỉa ngô và để tôi ở nhà. Trước khi đi, bố mẹ ủ cho tôi một cái ổ bằng cỏ, vứt cho tôi hai bắp ngô đã nướng. Lúc về, mẹ tá hoả khi thấy tôi đang cười ngằn ngặt với chú mang bành thở khò khò trước mặt. Bằng một động tác xuất thần, mẹ tôi chộp cổ con rắn và vật chết. Nhưng trước khi chết, con mang bành còn kịp cạp vào tay mẹ một cái. Bố cõng mẹ vượt qua bốn quả đồi đi tìm ông Tổng Mọt, một thầy rắn. Nhìn mẹ mắt đã lạc thần, ông vò đầu bứt tóc:
- Chết chắc.
Khi đó bố chưa có tật gãi háng. Bố từng là chàng trai đẹp nhất làng. Bố nhìn ông Tổng Mọt hỏi gằn:
- Ông có giúp không…
Lão kia trợn mắt lên:
- Ông đếch cứu…
Bố nhẹ nhàng rút cây rựa đi nương còn chưa kịp cất đưa lên cổ ông Tổng day day. Lão già không hề hoảng sợ. Lão tụt quần. Dí chim vào vết rắn cắn. Đêm qua lão có ăn nằm với vợ lão nên mùi hăng thủm bốc lên không khí. Cũng vì lí do đó mà sau khi cứu mẹ tôi, lão thề độc không bao giờ cứu ai nữa. Nếu không, thần rắn sẽ đến đòi nợ máu. Bố mẹ trở về nhà. Tôi đang quấn con rắn quanh cổ và cười tít mắt. Bố tôi bất giác ngứa ở háng. Tật của ông bắt đầu từ lúc đó. Theo trí nhớ của tôi. Bố và mẹ có tấm lưng rất to và thẳng. Tôi đã ngủ và tè lên đó không biết bao nhiêu lần. Có thể vì điều này mà lúc mẹ chết, lưng khòng thảm hại. Còn bố đang ngồi đó, đầu gối quá đầu. Thời gian và nhiều thứ đau khổ làm bố già sọm đi. Tới bữa ăn, bố tôi lẳng lặng cho từng bắp ngô đưa lên hàm răng. Bố đưa đi, một phần tư hạt trên bắp nhẵn thính. Bố đưa lại, một nửa bắp ngô giơ hõm chân hạt. Bố ăn liên tục và không dừng. Tôi không ăn gì, thấy cơn buồn ngủ nặng nề kéo đến. Sáng hôm sau, có người lay tôi dậy. Trông ra là anh Trai, anh nói ngập ngừng: Rin, bố mày ăn ngô sống nhiều quá. Sình bụng mà chết rồi.
Tôi mồ côi từ đó. Có quá nhiều thứ vô lí đến với tôi. Tôi mồ côi vì một bao tải ngô và những bắp ngô không được nấu chín. Làng Cò mênh mông trong bể nước. Cái chóp đình Đo còn nấn ná dăm hôm rồi cũng mất hút. Thần thánh chẳng để cho con người đập đổ thần thánh. Mọi thứ phải có vị trí của nó. Những đêm tiếp theo, anh Trai cùng hai mươi tám con dã thú hôm trước liên tục quần nhau. Tiếng hoang dại vọng bên tai tôi trong giấc ngủ đêm đêm. Nước mắt tôi chảy ướt cả một bên gò má. Trong cuộc chiến đấu này, chẳng có ai thắng lợi cả. Tôi mong ngóng cho trời hết mưa. Khi ông mặt trời ló dạng, thì mọi thứ đen tối sẽ qua đi. Cho dù làng Cò có thê nào đi nữa, trời nắng vẫn tốt hơn trời mưa. Tôi tin rằng, sau tai hoạ này, làng sẽ khác đi. Khác nhiều quá đi chứ.

Sau cơn đại hồng thuỷ.

Lũ lượt dân tình kéo về nơi trước đây gọi là làng Cò. Đoàn người trở về thầm lặng như đoàn hồn ma đi vào địa ngục. Anh Trai cõng tôi trên lưng. Tôi khệnh khạng ngắm nhìn ông mặt trời tươi đẹp chói loà. Sau nhiều ngày ở nơi ẩm thấp và tối tăm, tôi lại trở lại với mênh mông khí trời. Tâm trạng tốt hơn nhiều. Như sợ tôi buồn, anh Trai an ủi liên tục:
- Rin đừng buồn, còn anh, còn dân làng…
Sau đó nói thầm một mình:
- Tội nghiệp thằng bé!
Tôi thấy khó chịu vì câu nói thầm này nên vỗ vai anh Trai. Anh quay mặt lại, một vẻ mặt ra chiều thông cảm và đau khổ:
- Gì hả em?
Tôi cau mặt lại:
- Anh nói như cứt ấy.
Anh quay mặt đi tiếp. Chắc anh nghĩ tôi đau buồn quá nên đâm ra nói bậy.
Làng đúng như tôi dự đoán. Rất khác. Chẳng còn cái gì cả. Lúc chạy lũ, dân làng chôn lão Dầm trong một cái hố nông choẹt. Lúc trở về xác lão nằm bẹp dưới cái tượng gỗ mun thánh Đo. Mọi người bắt tay xây dựng lại cuộc sống mới. Tôi thì bị vứt cho lão sư già. Chả hiểu lúc lũ lụt lão già này lẫn đi đâu mà tôi chưa hề gặp mặt lần nào. Lúc anh Trai dẫn tôi đến trước mặt lão sư. Lão nhìn kĩ vào tròng mắt tôi bảo:
- Oan nghiệt…
Cuộc sống làng cò lớn nhanh như tôi. Tôi giờ trọc đầu và sắp đi Đại học. Lão sư bảo mày phải học để nghiệp chướng được cởi nhẹ đôi phần. Chiều chiều tôi hay tha thẫn đi dạo quanh làng. Cái đình mới xây lại trông vững chắc vô cùng. Tuy nhiên tượng thánh thì từ mùi cứt chó chuyển sang mùi xác người. Nương đồi vào vụ, ngô chảy thành dòng thành lượn như sông như biển. Rừng trầm hương trồng lại gieo xuống lòng tôi một màu đời thanh khiết. Chay tịnh, đêm nghe tiếng mõ, tiếng kinh phật, tôi bắt đầu có khả năng nghe được tiếng của loài cây cỏ. Lão sư rất quan ngại về khả năng này của tôi. Tôi thì cho rằng mình đã đốn ngộ và đắc đạo. Anh Trai sau cuộc chạy lũ có thêm hai tám đứa con, gặt con gái, chúng giống nhau như đúc. Đứa nào đứa nấy mõm nhọn như sói. Thỉnh thoảng anh có đến tìm tôi và ngồi tâm sự.
- Ậy, tôi vốn khoẻ mạnh là thế mà bây giờ…
Đầu anh hục hặc lắc, tôi chỉ sợ nó rơi ra khỏi cổ thì toi. Mà trông anh tiều tuỵ quá. Nhất là hai cái đầu gối. Chẳng hiểu anh đã làm gì trong một hai năm để nó chai sạn đến thế. Bất giác tôi đưa tay sờ vào hai cái gụ màu đen thối kia, có nhiều tiếng khóc đột ngột vang lên. Tôi giật ngay tay lại bảo anh: - Người anh âm khí nặng lắm rồi…
Anh thở dài
- Lại đàn bà…
Lão sư từ đâu tiến đến nói vu vơ:
- Tại con người chấp mê bất ngộ.
Tôi trầm ngâm. Ước gì có bố ở đây, ông sẽ gãi háng liên tục để phản đối ông sư cụ này. Tội của tôi nặng lắm. Sư bảo:
Mày phỉ báng thần thánh…
Trêu đùa nhà Phật…
Lòng tà còn nặng…
Dã tâm còn lớn…
Tôi vô cùng bức xúc với sự kèm cặp của lão già này. Yên bình thì có yên bình, yêu thương thi có yêu thương. Mọi thứ dường như có hết mà tôi vẫn thấy thiếu thiếu cái gì ấy. Rồi một đêm. Chân lí đến với tôi. Lão sư tụng kinh trong khi tôi nằm bên chân tượng phật và nằm ngủ. Tôi mơ thấy cô gái bị ngã dúi hôm hội đình, cái sườn hở ra. Tôi hồng hộc chạy tới và dí chim vào chỗ hở ấy. Cảm giác như tôi mót đái và xả ra một cách thoải mái. Đầu có nhiều luồng điện chạy dần dật. Lão sư im lặng, lắc đầu. Tôi đã tỉnh, tưởng mình đái dầm nên ngại ngùng ngủ tiếp. Sáng sớm hôm sau tôi lén lút đi giặt cái quần nâu ấy. Chất gì khô đặc và nhơn nhớt làm tôi phát bực. Rốt cuộc tôi đành vứt luôn cái quần ấy và về thú tội với sư thầy:
- Bạch sư phụ, hôm qua con tè dầm nên vứt mất một cái quần…
Nhà sư bảo tôi nằm xuống lấy roi mây vụt cho cả trăm phát. Lúc đau, tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ cái cảm giác đêm qua.
Dân làng thống nhất rằng, hội đình làng phải hoãn lại ít nhất năm năm. Dân còn nghèo, mà sau trăm năm thì phải làm to. Còn làm ăn tích luỹ để…hội làng. Tôi thấy đó là một ý kiến vô cùng sáng suốt.
Một buổi sáng tháng tư, cũng vào độ hội làng, nhưng vắng teo, sư tiễn tôi lên đường ra trường Đại học Phật Giáo. Buổi chia tay còn có dân làng nữa. Hai mươi tám con dã thú bồng hai mươi tám con chó sói cái xếp hàng ngang tiễn tôi. Tôi có cảm giác bất an. Ra đầu làng, tôi tạt vào sờ tượng thánh Đo. Tượng ấm nóng truyền cho tôi sinh khí. Tôi cất bước ra đi. Bố tôi nếu còn sống sẽ cho rằng đi học là một trò vô bổ. Lão sư nhồi nhét rằng, mày đi để nhẹ nghiệp căn. Dân làng thì khao khát tôi mở mày mặt cho họ. Ê, chào làng cò, Rin đã về. Sao làng hiu hắt thế này. Vài chục năm mà chết hết rồi hả? Câm hết rồi sao? Mọi thứ vẫn giống y nguyên lúc tôi đi. Nhưng tuyệt chẳng thấy bóng người nào. Tôi đi giữa làng, luôn có những luồng khí lạnh thổi vào sau gáy khiến lòng bồn chồn. Khi đi tôi là một chú tiểu, khi về tôi không thành đại sư. Tôi thành kĩ sư. Kĩ sư chuyên phối giống cho súc vật. Học nghề này tôi thấy thoả mãn. Tôi nghĩ lão sư già tuyệt đối đồng ý với mình. Cuộc sống có nhiều vấn đề nhỏ nhoi mà tôi phải giải quyết. Không ngờ giải quyết xong, đầu đã hai thứ tóc. Đường làng im ắng. Tôi không hề ngửi thấy mùi phân trâu phân bò, thứ mà tôi mong gặp nhất. Ngay cả ngô, kẻ thù của tôi cũng không thấy. Người không. Súc vật không. Lương thực cũng không. Quái lạ. Làng Cò đi đâu ấy nhỉ?
Đuốc nổ lùng bùng phía đỉnh đồi Trọc. Sáng dần, sáng dần và có tiếng ồn ào của người. Trông kĩ ra, anh Trai dẫn đầu, hai mươi tám cô gái răng nanh dài quá cằm tiếp theo. Dân làng nhốn nháo phía sau. Thật bất ngờ, người nào người nấy lông mọc tua tủa, chạy bằng bốn chân. Thỉnh thoảng có người ngếch một chân lên, rùng mình một cái rồi đi tiếp. Tôi định bỏ chạy. Nhưng định thần lại. Tôi nhầm. Trái với dự đoán, anh Trai hất hàm hỏi tôi:
- Mày là ai?
- Tôi là Rin.
- Rin nào?
- Anh không nhớ tôi sao?
- Nhớ rồi, hỏi cho vui thôi.
Tôi cúi đầu đi theo đoàn người. Tôi ấm ức trong lòng, không hiểu có điều gì đã xảy ra với làng Cò yêu dấu của tôi. Anh Trai bảo tôi về nhà anh. Rượu ngô rót liên tục. Lúc lâng lâng say tôi bạo dạn hỏi anh:
- Làng thế nào hả anh?
Anh rống lên một tiếng rồi tru lên như chó dại. Tôi tưởng anh điên nên lo sợ gọi mọi người tiếp ứng. Ai dè mọi người cũng tru lên như anh. Cái cây không cành phọt một cái từ dưới đất lên cao vút. Dân làng quì lạy cầu xin tôi cho họ treo cổ tự tử. Tôi chưa biết xử lí thế nào thì hai mươi tám cô con gái của anh Trai xếp hàng ngang tiến lên. Cô nào cũng lấy tóc quấn vào cổ, dùng hai tay của mình nâng lên. Cái cây không cành hút chặt các cô. Tất cả đều thè lưỡi ra. Quái. Họ dùng hai tay nâng mình lên. Hết đường thoát, tôi vội lấy tay bới bới đất dưới chân tìm cách chui xuống đất. Anh Trai khóc ròng ròng, nước mắt là máu túm đầu tôi nện một nhát - Chủ tịch, chủ tịch, đến nơi rồi.
Hoá ra là đồng chí Nam đang gọi tôi dậy. Làng Cò thân yêu đây rồi. Giờ mới là sự thật. Tôi nhớ ra, tôi về lần này là làm chủ khấn cho hội đình làng.
Nghi lễ đón tiếp tôi vô cùng long trọng. Anh Trai giờ là trưởng thôn, khệ nệ trong chiếc áo chùng thâm. Mọi thủ tục ở hội làng tôi đã giải quyết xong. Ấn tượng duy nhất của tôi là tượng thánh có vẻ tươi màu hơn. Tương lai làng cò chắc cực kì tốt đẹp. Tôi quay qua nói lời cảm tạ với đất và người làng Cò, những ân tình cho tôi có được hôm nay làm sao phai nhạt được. Tôi dẫn luôn ý tưởng của mình:
- Tượng thánh ngày trước buồn rầu, giờ tươi tắn…đó là phép lạ, là tương lai.
Anh Trai khúm núm,
- Đó là nhờ ơn tổ tông, nhờ ơn chủ tịch.
Tôi tiếp lời
- Nhờ Ơn Đảng, Ơn Bác…
Có tiếng của thằng cu nào đó:
- Cái tượng Thánh là đồ giả…
Tôi vốn là người có thể nghe được tiếng thảo mộc chim muông, nhưng lão sư ngày xưa đã bắt ấn phế bỏ khả năng đó. Tôi ức mãi. Nhưng việc gì thì cũng thế, có lí của nó cả. Nghe câu ấy, anh Trai co dúm người lại. Thưa lia, thưa lịa. Tôi chỉ còn nghe hai âm là chủ tịch, chủ tịch. Thôi. Lề đình sau bao nhiêu năm mới được tổ chức thế này. Cho qua. Anh Trai à một tiếng dài thườn thượt. Tôi đi với các đồng chí trong xã kiểm tra tình hình làm ăn của làng Cò.
- Đấy, rừng trầm hương ngày xưa, thưa chủ tịch, cây nguyên liệu xuất khẩu rồi.
- Đường về thị xã xe chạy bon bon, thưa chủ tịch…
- Giờ trồng ngô cao sản, thưa chủ tịch…
- Đại gia súc trên vạn con, thưa chủ tịch…
Tôi bần thần. Hoá ra bố tôi ăn ít ngô thế mà ị ra rất nhiều. Đặc biệt là ngô tốt, thuần chủng. Còn tôi, một mình tạo giống cho bao nhiêu là trâu là bò. Tư duy lãnh đạo không cho tôi thốt ra những câu cặn bã này. Nhưng trong thâm tâm, hình như đó là sự thật.
- Ơn chủ tịch cả…
Tôi so cổ rút đầu:
- Các vị nói quá. Công của tất cả, nhất là những người nông dân.
Yêu quê hương, tôi lột vỏ thành một thằng Rin như ngày xưa của làng Cò. Nhìn thấy cánh rừng trầm hương cao to, tôi chạy ngay vào. Hoá ra nó bị rỗng ruột. Ngô thì to thật, nhưng chả có hạt nào. Anh Trai có vẻ khá giả, tôi tạt vào xin cơm. Cả nhà ăn toàn cám lợn. Tôi hỏi sao anh lại béo thế kia, phương phi đến thế. Anh lặng lẽ nhìn tôi.
- Chủ tịch ơi hời chủ tịch. Thánh Đo sắp đặt hết rồi. Anh phải làm truyền nhân cho Thánh.
Tôi giật mình. Tôi đang làm chủ tịch cơ mà. Mọi thứ bốc thành làn khói bay về trời. Lại sắp mưa. Bà Hai không thèm kêu gào gì nữa. Ngô ơi là ngô. Chủ tịch ơi là chủ tịch. Tôi chẳng hiểu mình đang ở cõi nào. Thèm nghe một tiếng kệ, lời kinh. Bà Hai sẻ nửa bát cháo ngô cho tôi. Bà nhai trệu trạo rồi đánh ực. Tôi cúi xuống ăn miếng cháo ngô. Vị đắng từ mật xông lên. Tôi hỏi bà Hai:
- Mùa này quê mình lại mất trắng hở bà.
- Ừ. Mày hốc đi con!
Bà chầm chậm ngẩng đầu lên. Cơn nắng chiều xiên bóng, bà đổ vỡ một đời người.
- Hốc đi con!
- Mai tao còn vác ngô đóng góp hội làng.
Cơn mưa tháng tư lạnh buốt. Nhiều câu hỏi ngắc ngứ trôi xuôi theo nhịp nuốt cháo ngô. Trong tiềm thức, có một từ tôi sẽ gọi đúng cảm giác này:
- Phập.

Khởi thảo tháng 01-2009 Viết xong, 02h ngày 22-03-2009
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải trên Newvietart theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 23.03.2009.