THẰNG RÁC



Mỗi lần nghe tiếng xe rác đi ngang qua nhà, là y như rằng chút nữa, sẽ bốc lên một mùi khó chịu, khiến ai cũng phải đưa tay bịt mũi. Rác, ai cũng phải ngán. Theo đà phát triển của thời đại, rác ngày càng nhiều. Trong bãi rác, trôi trên dòng sông đen, dưới cống, quanh nhà ta. Người ta nói về ô nhiễm rác thải như một vẫn đề nan giải, cần phải giải quyết. Tôi không muốn bàn ở đây về phương cách giải quyết vấn đề này. Chỉ là tôi thấy, trong xã hội “của-những-con-người” cũng tồn tại “rác”. Thứ “rác” bị quẳng đi, gọn nhẹ như khi ta gói bao rác và len lén mang ra sông, liệng đi.

Người ta kêu nó bằng Rác ( chữ r có viết hoa đàng hoàng). Chỉ cần có người nào đó í ới kêu “Rác ơi! Rác!”, hay kiệm lời hơn một chút “Rác”, là nó xấp xởi chạy ngay lại, đỡ cái bao người ta đưa cho, rồi đi. Không nói một lời cảm ơn nào. Có người chặc lưỡi : “Lũ trẻ bụi đời, không biết phép tắc gì hết”. Người đó đi vô nhà, tự nhủ với lòng, lần sau không đem rác cho nó nữa. Còn nó, tìm một chỗ nào đó, lục lọi cái bao rác người ta đưa cho, tìm vài thứ “quý giá”, sau đó làm thay họ cái nhiệm vụ, đem rác bỏ vô thùng.

Cứ như vậy, ngày qua ngày…

Năm nay, nhìn cái dáng bên ngoài, đoán nó chừng mười ba, mười bốn tuổi gì đó. Nhưng nhìn khuôn mặt, 100% đều đoán nó hơn mức đó. Khuôn mặt đó, khuôn mặt của thằng bụi đời, có màu da đen trùi trũi, nhiều tàn nhang, tóc vàng khè, khét nắng, nhìn hệt đám râu bắp. Trên cái khuôn mặt đen đúa đó, có đôi mắt mở to, khinh khỉnh nhìn xoáy vào mọi thứ. Người nó lẳng khẳng, tay chân gồ ghề xương. Đại thể, đó là kết quả hội tụ của những tháng ngày lăn lộn sương gió, của những đêm chui gầm cầu, công viên, vỉa hè, để ngủ-một giấc ngủ mệt nhọc. Kết quả của những buổi trưa dầm mình dưới cái nắng gay gắt và cả những lần vác cái bụng đói, kêu rồn rột đi ngủ. Và nó, cũng chính là hình mẫu chung của những đứa bụi đời. Bẩn thỉu, hôi hám, nhếch nháp và đói khát. Nó không có gì đặc biệt ngoài bàn tay có sáu ngón. Điều đó cũng không làm người ta bận tâm về nó. Bụi đời thiếu gì đứa mắt mù, thọt chân, cụt tay? Ở cái thành phố này, người ta có thể bắt gặp những đứa như vậy. Chúng lang thang, vật vờ, chèo kéo trên các nẻo đường. Chúng làm các công việc lương thiện và không lương thiện.

Cái tên người ta kêu nó cũng đã “giới thiệu” phần nào về công việc nó đang làm. Nó là thằng nhỏ móc rác. Ngày ngày nó cầm cái bao bố lấm lem đất, đi sục sạo trong các đống rác, tìm kiếm. Chỗ nào có rác, nó tìm tới. Đống rác to chỗ gần chân cầu, đống rác ngay gần cống, rác trước nhà người ta, trong chợ. Tại những đống rác đó, nó sục sạo, tìm kiếm, bới, móc hệt như những con chó hoang đang bị cơn đói dày vò. Lũ chó hoang thì thính mũi lắm. Nó còn hơn. Nó biết chỗ nào người ta chuẩn bị đổ rác, trong cái đống rác thối um, đầy ruồi nhặng bu quanh kia, có những gì? Nhựa, giấy, sắt, cái gì có thể bán được và cả những thứ có thể ăn được. Nó làm công việc này thành thục lắm, giống như khi nó sinh ra, nó đã được ông Trời giao trước “ Mày sẽ đi lượm rác, kiếm ăn từ đống rác”. Vì vậy, bữa nào cái bao bố đầy rác, nghĩa là bữa đó, bụng nó đầy.

Nó cứ lang thang từ khu phố này, qua khu phố kia.

Cứ vậy…. thời gian trôi lâu rồi.

Không ai biết vì sao nó lại lang bạt, sống khổ sở và làm công việc đó. Về hoàn cảnh của nó, càng không rõ. Ngay cả nó, nó còn không biết nữa thì ai biết đây? Mấy lần, có mấy ông công an đập bàn, hỏi nó: Nhà mày ở đâu mà tới đây gây sự?” , “Cha mẹ mày đâu?”. Đó là những câu hỏi người ta hỏi nó khi nó bị bắt lên phường vì tội đánh lộn. Đáp lại câu hỏi, nó trả lời cộc ngốc : “Không có”. Người ta thả nó về. Đêm đó, nằm dưới mái nhà, nghe cái bụng kêu òng ọc, nó tự hỏi mình, mấy câu giống ông công an hách dịch kia hỏi. “Nhà mình ở đâu?” “Cha mẹ mình là ai?”, “Quê mình ở đâu?”. Nhà à? Không có! À! Không! Ngày trước có nhưng bây giờ thì không. Ngày trước…Phải rồi! Ngày trước, nó đã từng có một ngôi nhà ( Không biết cái mái chái xập xệ, mọc bên cạnh bãi rác, ẩm thấp, hôi và rách nát đó, có được liệt vào định nghĩa “nhà” không hen?”) Với nó, đó là nhà. Ở ngôi nhà đó, nó được tự do nằm khoan thai trên chiếc chiếu, ủ mình trong đống mền rách, ngủ ngon lành, không phải nơm nớp bị đuổi, bị đánh như bây giờ. Ở đó, nó có một người thân.

Ông già đó- người thân duy nhất của nó, thường hay cầm cây đánh nó. Buổi sáng đánh nó, uống rượu vô, đánh nó. Đốt điếu thuốc mà lửa không cháy, thấy nó nhìn, cũng cốc đầu nó. Hình như, nó nhớ, ngày nào mình cũng bị đánh. Nhưng nó không oán hận ông già. Vì ông già đã nuôi nó. Ghét ông thì nó là thằng bất nhân, bất nghĩa, ăn cháo đá bát rồi. Ông đã cứu nó, đem nó về nuôi. Mấy lần, uống rượu vào, ông hay kể cho nó nghe…

Sẩm tối, ông tấp tểnh, kẹp chai rượu vào nách, vừa đi, vừa nghêu ngao hát. Ông hát như khóc. Già rồi, giọng nghẹn lại ở cuống họng, bật ra thành tiếng khô khốc, rời rạc. Lời lẽ mấy thằng say có ai nghe ra? Ông ngồi xuống gốc cây, nhìn dòng đời, nhìn người đi qua, khinh bỉ. Ông cứ ngồi đó, mưa xuống. Ông lại nhìn mưa. Không biết trời có biết khóc không ta? Thằng cha, con mẹ nào nói trời khóc hả? Trời làm gì mà có mắt chứ. Chẳng qua là ăn uống no say, vui chơi cho đã, ổng lại đái xuống trần gian này thôi. Cổ họng ông đắng ngắt, ông thấy khát. Có lửa trong cổ họng. Ông ngửa cổ ra, nuốt thứ nước đái đó. Ông khóc, giọng hức hức. Khóc cho cái thân già khốn khổ của ông. Khóc cho nhân tình thế thái. Cuộc đời ông, muốn khóc chắc khóc hoài không hết. Khóc tới sáng. Khóc khi bị vợ bỏ, bị bạn phản, bị tống vô tù, bị người ta xua đuổi như một con chó. Người ta khinh bỉ, dè bỉu ông, thậm chí nhổ nước miếng phèo phèo khi vô tình đứng gần ông. Vậy, không đáng khóc sao trời? Ông ngâm nga “Thân trách thân, thân sao cái mà lận đận. Mình trách mình, số phận cái mà hẩm hiu”. Tiếng nghe ai oán, não nùng.
Bỗng, ông nghe tiếng khóc khác từ gần đó vọng lại. Tiếng oa oa của con nít. Ông loạng choạng đứng dậy, tìm trong mấy lùm cây. Có một thằng nhỏ, mặt mày tím ngắt, được quấn trong cái khăn choàng màu trắng.

- May cho mày là gặp tao! Nếu không, mày không bị lạnh mà chết thì cũng bị lũ chó đói nó nhai rồi.

- Tao lượm mày, nuôi mày cực khổ vất vả vậy mà mày lại đối xử với tao vậy hả?

Ông già thường chem vô hai câu như vậy mỗi khi kể cho nó nghe. Chuyện này nó nghe hoài thành ra quen. Dĩ nhiên là nhờ vậy mà nó biết, nó từ đâu tới. Nó không có cha. Nó là thằng con bị chối từ. Nó chỉ có một mình ông già là người thân. Nhiều lần, bị đánh tới bầm mình bầm mẩy, máu chảy ra ri rỉ, nó thầm ước, ước sao ngày xưa, ông già đừng lượm nó về.Thà cứ để nó chết. Chết hồi đó, có biết gì đâu. Chẳng biết đau đớn, chẳng biết tủi hờn. Nhưng rồi lúc khác, nó lại nghĩ khác. Lúc ông già ngồi ê a dạy nó đọc, dạy nó coi đồng hồ. Sao lúc đó ông già tội và đáng thương dữ? Nó không ghét ông nữa. Nó thương ông già, như một ân nhân. Và cũng vì vậy, nó tập cách sống bên cạnh ông già. Nó như con chó ngoan ngoãn, biết nghe lời chủ. Con chó sẵn sàng phục tùng tất cả mệnh lệnh của chủ, dù mệnh lệnh đó có là vô lý đi nữa. Nó nhớ, nó đã sống như lầm lũi suốt cả tuổi thơ như vậy đó.

Nó nhớ dai lắm. Nhớ những ngày tháng sống ở bãi rác, cạnh bên ông già. Không biết có ai nói hay viết : “Tôi sinh ra và lớn lên ở bãi rác hay không?” Nhưng sự thật với nó là như vậy. Ngay từ hồi nhỏ, nó đã biết, cuộc đời của nó sẽ gắn liền với cái bãi rác đó, với ông già móc rác và với mùi hôi thối suốt cuộc đời. Nó học hỏi để lớn lên trong bãi rác đó. Ba, bốn tuổi, nó biết cầm bao đi móc rác. Mảnh chai cứa vào tay, chân nó chảy máu mà nó không khóc. Nó khóc, ông già sẽ đánh nó. Ông già không cho nó được khóc. Nó phải tập sống mạnh mẽ, không biết khóc, không biết đau.

Tuổi thơ của nó đã trôi qua như vậy…

Tuổi thơ nó, nó học được cách đấu tranh sinh tồn. Ở bãi rác, phải nhanh tay, lẹ mắt và sẵn sàng đánh nhau tới sứt trán, mẻ đầu chỉ để giành giật một miếng nhựa. Ở đó, nó không có bạn. Ông già dạy nó, ở đời này chỉ có kẻ thù. Không ai coi mình là bạn cả. Bạn bè, tình thân, yêu thương, đều là giả dối hết. Ngay cả cha mẹ mày, người đẻ ra mày còn bỏ mày. Ai mà thương mày đây? Phải sống, giành giật với tụi nó. Không được mềm lòng. Nó tiếp thu điều ông già nói nhanh lắm. Không có bạn, chỉ có giành giật. Nó sẵn sàng lăn xả vào đánh một đứa chỉ vì đứa này dám lấy của nó một cái lon. Ăn miếng trả miếng, tụi trẻ ở đó cũng không vừa. Nó đã hơn chục lần bị tụi trẻ móc rác đánh tới chảy máu mũi. Trong mắt tụi trẻ móc rác, nó chẳng khác nào ông già. Hung dữ và tàn ác. Có lần, ông già đã cầm cây phang một thằng nhỏ tới gãy chân vì thằng này dám ăn cắp rác trong bao của ông. Ông là vậy. Tàn nhẫn. Không phải với những đứa trẻ móc rác, những con người móc rác mà với tất cả. Cả nó. Nó đã từng bị gãy chân và chảy máu đầu vì những trận đòn của ông già.

Nhưng dù sao, nó cũng chỉ là một đứa trẻ. Cố sống lầm lũi, lạnh lùng và tàn nhẫn nhưng cái thâm tâm, bản tính của một đứa trẻ vẫn trỗi dậy trong nó. Nó muốn được chơi đùa, được cười nói thoải mái. Nhiều khi nhìn những đứa như mình chơi với nhau, nó thèm thuồng, muốn chạy ngay tới, gia nhập cuộc chơi. Nhưng có cái gì níu chân nó lại. Nó biết, không đứa nào chịu chấp nhận nó. Tụi kia sẽ không bao giờ cho nó chơi chung. Có lẽ mong ước lớn nhất của tụi kia là có thể đánh cho nó một trận. Tụi đó vẫn lăm le nó, nếu không có ông già thì nó cũng đã bị đánh thêm mấy lần nữa rồi. Nó tự dặn lòng mình, không thèm chơi với tụi đó. Nỗi thèm thuồng rồi cũng qua.

Nó có một người bạn. Người bạn đó không bao giờ đánh nó.Trời! Hồi giờ có ai nói heo đánh người đâu. Bạn nó là con heo. Mỗi lần rảnh, buổi tối hay những lần không ngủ được, nó ra ngồi trước chỗ con heo, kể chuyện cho con heo nghe. Con heo bị cụt đuôi và bị chột một mắt. Nó lượm được trong bãi rác, người ta bỏ. Con heo đáng thương, kêu ột ột nhìn nó. Giống nhau cả mà. Nó cột con heo chỗ phía sau nhà. Khi nào buồn, nó ngồi gần con heo, kể cho con heo nghe. Chắc chắn con heo không biết nó nói gì rồi. Song, như vậy lại tốt hơn. Lũ trẻ vẫn hay nói chuyện với gấu bông, búp bê đó thôi( dù chúng biết, có nói thì mấy thứ đó cũng không hiểu). Nó tìm kiếm rau ở bãi, nấu cho con heo ăn. Nó thích nhất cảm giác đưa bàn tay dính đồ ăn cho con heo liếm. Cả cái cảm giác nhồn nhột, ngứa ngứa khi con heo cọ cái mũi lên đầu, làm mớ tóc bù xù của nó rối lên.

Giáp Tết.

Trời hanh hao. Nó biết điều này bằng cách nhìn rác trong bãi. Có nhiều bông hoa bị dập nát, vỏ củ cà rốt, rễ củ kiệu đổ về đây. Mùi rác ngày cuối năm, khó tả. Oi oi, nồng nồng, hăng hắc, xông lên tới mũi. Người mới bước chân ngang qua, chịu không nổi, muốn nôn ra. Tụi móc rác thì khác. “Đội quân” móc rác tập trung về đây nhiều hơn. Cả mấy đứa không phải là “dân nghề” cũng tập hợp về. Cuộc cạnh tranh càng khốc liệt hơn. Không ngày nào là không có mấy trận vật lộn, đánh nhau. Nó vẫn bình thản làm công việc của mình. Ông già hứa, gần Tết, sẽ dẫn nó đi chợ, mua cho bộ đồ mới để mấy ngày Tết còn ra đường chơi. Ở nhà hoài, đầu óc nó ngu ra. Nghe nói vậy, nó khấp khởi mừng thầm. Nó cần mẫn làm công việc của mình, mơ màng về ngày Tết được ra đường chơi, được cầm cái chong chóng thổi vù vù, được ngồi trong quán, ăn một tô hủ tiếu ngon lành.

Nhưng, tất cả mọi thứ trên đời này, có bao giờ dành cho nó? Lời hứa chỉ là lời hứa. Đêm đó, ông già ra đi vĩnh viễn. Ông nằm trên giường, nhắm mắt, miệng mỉm cười thanh thản. Riêng nó, nó thấy nụ cười ấy có cái gì đó tàn nhẫn. Ông già đã thanh thản vì rủ bỏ được cuộc đời, trong đó, có cả nó sao?

Ông già chết rồi, nó như con chó con lạc mẹ. Chó lạc mẹ thì kêu gào, sủa ăng ẳng lên. Còn nó, cứ lầm lũi đi lại. Không khóc, không nói năng gì, ngồi thù lù trước cửa suốt cả ngày. Mặc cho mấy đứa trẻ đi ngang qua, nhìn nó, có đứa lấy đá chọi nó. Nó mặc. Cứ vậy, tới ngày thứ bảy thì nó đứng dậy, cầm cái bao đi làm công việc. Nỗi đau nguôi ngoai đi rồi, hay là vì trong nhà không còn gì ăn? Ai mà biết được đây?

Bữa đó…

Một ngày gió mạnh. Bao ni lông bay tứ tung trong gió. Nó vừa lục trong bao được mớ rau dập nát, ngồi lặt cho vào cái bao riêng, định đem về cho con heo. Mắt nó nhìn theo mấy cái bao ni lông bị gió thổi đi. Có cái bay lên cao một khúc rồi hạ xuống. Nó nghĩ tới những con diều sặc sỡ mà có lần nó thấy trên trời. Nó lấy sợi dây, cột túm mấy cái bao nilông lành lặn lại với nhau, chạy ngược gió, chờ cho gió thổi bay lên. Mắt nó dõi theo cánh diều mới tạo, bay xa xa. Bất giác, ở phía cánh diều đang hướng tới, có một màu đỏ.

Lửa bốc lên ngùn ngụt. Nó chạy về nhà. Cánh diều thả tuột theo gió. Muộn mất rồi. Gió mạnh, thổi bạt ngọn lửa, bao trùm lên cả ngôi nhà. Nó nghe tiếng con heo kêu la hoảng loạn, giọng eng éc. Nó ngồi bệt xuống đất, nước mắt ràn rụa, nhìn vô. Nó ngồi đó, nhìn ngôi nhà bị lửa liếm dần dần. Tới tối, lửa tàn, nhà chỉ còn là đống tro. Nó nhìn về phía cột nhà. Con heo nằm đó, cháy xạm. Mấy đứa trẻ chạy vô đống tro nóng, lôi con vật đáng thương ra. Chúng bỏ vô bao rác, khiêng đi. Đi ngang qua nó, chúng cười ngạo nghễ.

- Cảm ơn nghen! Tối nay, có “mồi” ăn rồi!

Cả đám trưng ra cái giọng cười khả ố. Nó đứng nhìn tụi đó ăn, đưa tay quẹt nước mắt.

Nó rời bỏ bãi rác, rời bỏ kỉ niệm đau buồn của mình. Nó biết, nó không thể sống ở đó nữa. Bãi rác chứa đủ thứ cặn bã nhưng không thể chứa nó được nữa. Năm đó, nó tám tuổi.

Bây giờ, đã mấy năm rồi. Thời gian trôi qua vùn vụt. Mấy mùa đông, lạnh ngắt, nó tập thích nghi lần. Mùa hè, mặt đường nóng muốn chảy nước. Nó đi qua những mùa, những thời gian trôi khắc nghiệt như vậy. Nó chịu được hết. Nó phải lớn lên. Như cỏ dại. Cuộc sống bên ngoài dạy cho nó nhiều thứ hơn. Không bị lũ trẻ ở bãi rác ăn hiếp, nó lại bị những đứa khác ăn hiếp. Ở đâu cũng có những đứa du côn. Ngày đầu tiên, nó rời bãi rác, vác bao đi móc rác, ngày đó, lần đầu tiên, nó thấy tủi cho thân mình ghê gớm. Không khóc, nước mắt vẫn chảy, quện bụi đường, thành dòng đục đục, chảy xuống miệng, mặn chát. Nhìn những đứa trạc tuổi mình mặc quần áo đẹp, tay cầm bong bóng, ngồi trên xe, nó đứng như trời trồng, nhìn vào bằng tất cả nỗi khao khát, thèm muốn, và chất chứa nhiều một nỗi oán hận mơ hồ. Mỗi khi đi ngang qua quán ăn, nhìn những món ăn ngon, bánh kẹo trong tủ kính, nó chảy nước miếng, thầm ước một lần được ăn món đó. Nó biết, không được. Cả cuộc đời cũng không được. Nó thường đứng trước cửa quán, nhìn vào bên trong, ngửi cái mùi béo ngậy, thơm phức của cánh gà chiên, ăn trong tưởng tượng.

Sau này, nó tự dặn lòng không được mềm yếu như vậy. Không được nghĩ về những cái đó nữa. Công việc của nó là móc rác, không có rác thì không có ăn. Không có ăn thì phải tự giành giật lấy miếng ăn, cướp của những đứa yếu thế hơn mình.Nó đã trở thành một thằng bụi đời du côn, trộm cắp. Ai mà chẳng biết, khi no bụng, khi không bị cơn đói dày vò, ta sẵn sàng thuyết giáo về cái lương thiện, cái làm người. Nhưng ôi thôi! Khi đói rã ruột, mắt hoa lên, những điều đó chẳng xi nhê gì cả.

Nó bị đánh, bị người ta rượt,cướp giật miếng ăn của đứa khác và bị cướp lại. Thì coi như đó là một cuộc đấu tranh sinh tồn. Chịu được thì sống, không thì đành chết.Quy luật sinh tồn của tự nhiên ngàn đời đã vậy. Từ động vật tới con người cũng là một quy luật như nhau. Cuộc sống, từ nguyên thuỷ vốn đã là đấu tranh sinh tồn khốc liệt kia mà. Với những đứa bụi đời như nó, cuộc đấu tranh sinh tồn càng khốc liệt hơn.

Năm chín tuổi. Nó dạt về gần khu chợ. Ngủ ngoài đường, bị công an đuổi. Ngủ trước nhà người ta, người ta xua chó cắn vì sợ nó ăn cắp.Về chợ, nó có chổ ngủ.Tiện hơn nữa là ở chợ, nó còn làm thêm được việc. Mờ mờ sáng, nó dậy, đẩy xe cho mấy bà hàng chợ. Buổi tối, nó ngủ trên sạp chợ. Vậy là ổn. Khu vực đó, nó không bị đánh, không bị mấy đứa lớn giành giật. Và cũng ở đó, năm chín tuổi, lần đầu tiên, nó thực hiện được những điều ước thầm kín. Nó được mặc đồ đẹp, được ăn phở trong tiệm, được mua bong bóng bay.

Người đàn bà đó, trước kia hay đem cho nó khi thì đống sách báo cũ, khi thì ít trái cây. Lần nào cũng hỏi thăm nó, nhắc nó đội mũ, mang dép. Đặc biệt, hay nhìn chăm chú vào bàn tay sáu ngón của nó. Nó thắc mắc lắm. Lúc đầu còn sợ sệt, ông già đã nói : “Cuộc đời này, không ai cho không mình cái gì đâu”. Sau, nó thấy người đàn bà này không có gì là ác với nó. Kì lạ hơn nữa là mỗi khi gần người đó, nó có cảm giác thân thuộc quá. Cứ như là người thân của nó vậy. Nó thích nhìn vào đôi mắt của người đàn bà . Đôi mắt hiền và gương mặt cũng hiền. Nhìn người đàn bà đó, nó “nhớ” về má mình-cái người đã bỏ nó. Không biết, người đó có khuôn mặt hiền như vậy không? Chắc là không. Nếu hiền, làm sao lại bỏ nó.

Một bữa, người đàn bà nắn nắn ngón tay dư của nó, hỏi.

- “Con muốn làm con dì không?

Nó chưa kịp trả lời, chưa biết tính sao thì người phụ nữ đã nắm tay nó, kéo tuột đi. Bỗng dưng đùng một cái, nó có má. “Má” nó ở trong ngôi nhà to lắm. Nền nhà lát gạch, có tủ lạnh, ti vi, có đủ thứ trái cây. “Má” không có con. “Má” muốn nhận nó làm con nuôi. Nó trở thành con. Đơn giản và bất ngờ đến độ, nó tự hỏi là thật hay không? Chẳng hạn như khi má gắp đồ ăn, bỏ vô chén cơm cho nó, nó không dám tin. Có lẽ nào, còn có người đối xử tốt với nó. Có lẽ nào nó vẫn còn cần cho ai đó trên đời này? Có lẽ nào …Ừ! Có lẽ nào! Nhưng, niềm vui, với nó không trọn vẹn.

Nó bị đuổi đi. Ê chề và nhục nhã không? Mặc dù “má” không mắng chửi nó, không đánh đập nó. Má nói “ Má muốn nuôi con lắm. Nhưng gian dối thì má không thích”. Gian dối. Má nghi ngờ nó, nghĩ rằng nó gian dối. Phải thôi! Sự tình đã rành rành ra như vậy, ai mà nghĩ nó trong sạch. Nó không lấy thì hoá ra chồng má lấy à? Nó biết, người đàn ông đó, không ưa gì nó. Chuyện mất tiền cũng là do ông bày ra để tống cổ nó đi. Chính nó, nó đã thấy ông lục tủ, lấy tiền, nhét vô túi. Sau đó, lại hô hào lên là mất rồi. Nhưng nếu nó nói, ai tin đây?

Nó ra đi từ ngày hôm đó. Nỗi tủi nhục chặn ở cuốn họng nó.Nó thèm được làm một đứa trẻ trong sạch, không ăn trộm cắp, không bị người ta nghi ngờ như vậy. Nó muốn la lên thật to, để “má” biết rằng nó không lấy tiền của “má”. Nó thương “má”, nó không bao giờ làm hại “má”, gia đình “má”.

Thành phố trở lạnh. Gió lạnh căm căm, quất từng roi vào tấm thân gầy gò của nó. Nó lang thang trên phố. Phố mưa. Nó đi lang thang quanh các bãi rác. Cũng chẳng có gì. Người ta hối hả chạy về nhà, về với tổ ấm. Còn nó, biết về đâu?

Nó lầm lũi, vác cái bao, đi về phía chợ. Đêm nay, nó sẽ ngủ ở đó một giấc. Nó nằm xuống chiếc sạp. Mùi rác, cộng với cái không khí ẩm ướt, tạo nên một mùi thum thủm, vây quanh nó. Đêm nay lạnh, nó co rúm người lại, cũng không đủ che ấm.

Con bé nhìn nó chằm chặp. Con bé lảng vảng quanh đây mấy ngày rồi. Nó lượm mía, đồ ăn người ta bỏ đi, nhai ngấu nghiến, tưởng như đã mấy ngày rồi không ăn. Bây giờ, con bé giật miếng chuối chiên trên tay nó. Lần này thì không thể để ý. Nó tức mình, giơ tay, giáng thẳng vào mặt con bé. Con bé đang đưa bánh lên miệng cắn, bị tát bất ngờ, miếng bánh văng ra xa. Nó khóc, lui cui lượm miếng bánh lên.

- Ai cho mày lấy đồ ăn của tao?

Nghe tiếng la lớn của nó, con bé giật mình, ngước lên. Đập vào đôi mắt nó là một ánh mắt hoang dại và có chút gì đó… không bình thường. Nó lờ mờ nhận ra điều gì đó ở con bé này. Nó chống tay lên hông, chỉ thẳng vào mặt con bé.

- Mày biết mày vừa lấy miếng ăn của tao không?

Con bé nhìn nó. Không trả lời. Nó ra sức chửi rủa. Bị cướp miếng ăn ngay trên miệng, thử hỏi ai không tức? Tức hơn nữa là càng chửi, con bé càng im lặng. Làm như câm không bằng, hay là khinh thường lời nó nói? Nó chửi một hồi nữa, không thấy con bé trả lời thì im lặng. Nó thu gom cái bao, bước đi. Đi được một đoạn, nghe có tiếng chân đi theo mình. Nó quay lại.Là con bé đó. Nó trợn mắt lên.

- Ai biểu mày đi theo tao?

Con bé không nói gì, cứ lủi thủi đi theo nó. Bực mình. Nó đi nhanh, con bé cũng chạy theo thật nhanh. Nó chạy con bé cũng cắm đầu chạy theo. Đã vậy, coi mày đuổi kịp tao không? Nó nghĩ thầm, xong nó chạy thật nhanh, đi vòng vèo qua mấy con hẻm. Tài của nó có khác, cắt được đuôi ngay. Sức mấy con bé chạy kịp nó. Khi quay lại, không thấy bóng dáng con bé, nó ung dung bước đi.

Buổi chiều muộn.

Nó vác cái bao đựng kha khá rác về chợ. Bữa nay là một ngày trúng mánh của nó. Nó mỉm cười, tự mua thưởng cho mình hai ổ bánh mì. Nó vừa đi, vừa hát bài hát gì đó không rõ đầu đuôi, “đứt”, “ráp” đủ kiểu. Bỗng, nó khựng lại. Trên chiếc “giường” thân thuộc của nó, con bé đang ngồi co ro. Thấy nó, con bé ngước lên nhìn. Mà không phải nhìn nó. Con bé nhìn chằm chặp vào hai ổ bánh mì nó cầm. Nó điên tiết, muốn chạy lại chỗ con bé, đá cho con bé một cái. Nó đi nhanh tới, nhưng không thể đá con bé đó được. Bàn chân bị ai ghì chặt lại.

Con bé ngồi co ro, rúm lại một góc, tay chân run rẩy. Nó thấy có cái gì xót xa từ trong lòng. Nó bắt gặp hình ảnh gì đó quen thuộc quá. Giống nó của ngày hôm qua kia thôi. Đói khát, lang thang. Nó làm một hành động mà không biết là bắt đầu từ đâu.

- Nè! Mày ăn đi! Tao thấy, mày đói quá lủi hay sao đó?

Con bé chộp ngay lấy ổ bánh mì, bàn tay run run, bỏ vô miệng nhai. Đúng là nó đã nhịn lâu quá. Nó nhìn con bé ăn, chặc lưới giống người lớn.

- Nhà mày đâu?

Nó nhìn con bé, hỏi. Hỏi vậy thôi, chứ biết là con bé không trả lời đâu. Song,lần này thì khác, con bé nhìn nó.

- Em không có nhà!

Nó giật mình. Con bé này không câm. Chắc tại ổ bánh mì, làm nó mở miệng chăng? Sức mạnh của miếng ăn có khác.

- Vậy, ba má mày đâu?

- Má em chết rồi!

- Chết!

Nó hỏi lại, không bộc lộ phản ứng quá mạnh mẽ. Có gì mà ngạc nhiên đâu? Thì đứa bụi đời, đứa lang thang nào chẳng vậy. Không lẽ còn má, mà để con đói khát, vật vờ như vậy?

- Làm sao mà má mày chết?

- Bị xe tông!

Xe cán ngang qua người, chảy máu. Má nhắm mắt. Người ta, chở má đi. Em không biết má ở chỗ nào. Mấy đứa nói má chết rồi, vì má bị khùng nên má chết.

Con bé lặp bặp kể cho nó nghe như vậy. Nó tự tóm tắt trong đầu mình, má con bé này bị khùng, bị xe tông, và sẽ trở thành một xác chết vô danh trong bệnh viện. Có thể rồi cũng sẽ trở thành một linh hồn lang thang, vật vờ đâu đó. Nó thấy chạnh lòng, nghèn nghẹn ở cổ. Mất má, chắc là đau xót lắm. Chắc giống như hồi nó rời nhà “má” ra đi đó. Lòng nó đau lắm. Mấy lần, nó đứng núp chỗ xó hẻm, nhìn “má” tưới cây, nhìn má quét sân. Càng nhìn, càng thấy buồn, nên nó không nhìn nữa. Con bé biết buồn giống nó không? Nó biết, con bé không phải là dạng người bình thường. Ánh mắt hoang dại và cái giọng vẫn vui cười hớn hở khi nhắc về cái chết của má, cho nó biết, con nhỏ cũng giống má nó. Khùng khùng, điên điên. Như vậy, biết đâu lại hay hơn. Tỉnh táo, nhận thức được cái chết, đau hơn nhiều.

- Thôi! Mày ăn rồi ngủ đi.

Hai đứa trẻ đi tìm kiếm trong các đống rác, cùng kiếm ăn với lũ ruồi nhặng, lũ chó hoang. Cuộc sống, chắc rồi sẽ yên ổn với hai tụi nó.

Con bé đưa cho nó mấy tờ vé số, miệng huyên thuyên.

- Em lượm, trong cái bóp. Không có tiền, có cái này nè!

Nó cầm lấy, săm soi. Vé số chứ không phải là tiền. Ước gì là tiền. Nhiều lần, nó ngồi ao ước, bữa nào đó, lượm được một cộc tiền. Đời nó sẽ đổi khác.Nó đưa mắt, nhìn qua ngày mở số. Ngày hôm nay. Nó đỡ cái bao rác trên tay con bé, dẫn con bé đi tới chỗ dò vé số. Miệng lẩm nhẩm cầu khấn gì đó.

Người ta đứng chật cứng. Có người cầm cả xấp vé số, mắt long lanh, tìm kiếm tia hy vọng. Bỗng chốc, mặt người đó xuôi xị, xé nắm vé số tung lên trời. Nó len lỏi vô đám người đó, nhìn mấy con số. Mắt nó đưa lên, đưa xuống tìm kiếm. Lâu quá rồi, không đọc chữ, không đọc số, giờ, khó coi quá. Phải lâu lắc, nó mới dò tới hàng cuối cùng. Nó la lên, “Trúng rồi! Trúng rồi!” Rõ ràng là trúng rồi. Đổi đời rồi.

Nó nắm tay con nhỏ, chạy tung tăng ra đường.

- Trúng rồi! Chuẩn bị có tiền! Anh em mình dẫn nhau đi ăn, đi mua đồ đẹp.

Nó nói một thôi, một hồi. Con bé nhìn thấy nó vui vậy, vỗ tay theo. Con bé đang nghĩ về đồ ăn, đồ đẹp, đồ chơi. Con bé sẽ xin anh Rác mua cho nhiều thứ, dẫn đi ăn bánh, mua kẹo, chơi cầu trượt trong công viên…. Nhiều thứ lắm.

Đường về chợ, hai đứa tính toán nhiều lắm. Nhắm mắt ngủ một giấc, sáng mai đi lãnh tiền.

Mấy ngày sau.

Người ta chỉ thấy một con nhỏ, vác cái bao rác đi lại, miệng mếu máo, tìm kiếm gì đó. Không thấy thằng nhỏ đâu cả. Nó đi đâu? Có người quan tâm, muốn nhờ nó lấy giùm bao rác đi, hỏi con bé. Con bé không trả lời, cứ khóc ran.

Bãi rác, một ngày trời mưa.

Mấy đứa trẻ móc rác nhem nhuốc hốt hoảng, la hét, chạy loạn xì ngầu cả lên. Chúng vừa trông thấy cánh tay người bị vùi trong đống rác. Có một người chết. Một thằng nhỏ thì đúng hơn. Vài đứa trẻ, nhận ra người quen. Thằng Rác.

Rác chết. Người ta nói, nó bị giết. Từ này, nghe ghê rợn quá. Mấy người tới điều tra, nghe nói nó trúng số, tìm hoài không thấy mấy tờ số đâu. Biết chắc, nó là nạn nhân của một vụ “giết người cướp của”.

Vậy là cái số thằng Rác không được hưởng sung sướng. Miếng ăn kề ngay miệng mà bị cướp đi. Âu, chắc là cái số của nó. Thôi! Sinh ra ở bãi rác, trở về với bãi rác cũng là điều đương nhiên.

Tôi hoàn thành xong truyện này, đưa cho vài người bạn đọc. Họ nhìn tôi, hỏi sao ác vậy? Có người nói, sao không cho Rác được sống. Hoặc là giàu có, sung sướng, hay ít nhất là một kết thúc có hậu. Tác giả thì có quyền cho nhân vật chết hay sống. Thì nói cho vui, mình cũng nắm quyền sinh sát trong tay. Quyền uy cao, ai bằng đâu. Sao lại viết vậy ? Tôi thảng thốt. Hoá ra mình viết ác quá à? Tôi muốn cho nhân vật của tôi sống lắm chứ! Tôi vốn thích những kết thúc có hậu và biết chắc độc giả cũng vậy! Song, cuộc đời, không theo ý mình muốn. Vẫn lắm cái kết thúc buồn. Lấy Rác làm một ví dụ vậy.

Tôi chú ý tới Rác nhiều lần. Khi tôi đem cho nó ít sách, báo cũ, mớ chai nhựa. Coi như là làm ơn. Tôi nhìn thấy ánh mắt của Rác ngày hôm qua khinh khỉnh, nhìn xoáy vào mọi thứ. Ánh mắt của Rác một buổi mùa mưa cách đây vài năm. Ánh mắt sợ sệt, như con chim non lạc đàn bay trong cơn bão. Gió, mưa quất vào đôi cánh yếu ớt của nó.

Ngày hôm nay, ngày mai, mãi mãi, tôi vẫn không thể nhìn thấy ánh mắt đó nữa. Cuộc đời, rộng lớn vậy mà sao không có chỗ cho Rác. Hay là ông già lượm Rác ở bãi, đã dự đoán trước. Ông đã biết, Rác thì không có chỗ trong cuộc đời chăng? Ông đã gieo vào đứa trẻ ấy một định mệnh? Ngay từ cái tên.

Buổi chiều hôm nay, trời xanh, nắng gay gắt, mùi rác dưới kênh bốc lên nồng nặc. Những bao rác, đủ thứ rác rưởi cứ lờ đờ trôi trên dòng nước đen ngòm. Rác này, chảy về đâu? Rác cứ sinh ra, bao giờ hết rác đây?


© tác giả giữ bản quyền.
. tải đăng theo nguyên bản tác giả gởi từ Sài Gòn ngày 15.03.2009 .
. TÁC PHẨM CỦA YẾN LINH CHỈ ĐĂNG TẢI TẠI NƯỚC NGOÀI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM