Tranh của cố họa sĩ Tạ Tỵ











TRẦN THỊ BÔNG GIẤY





"Bút ký NCQC của Trần Thị Bông Giấy đã từng được một NXB tên tuổi ở Tp Hồ Chí Minh đề nghị mua bản quyền in ấn. Dù sự việc không thành nhưng tác giả vẫn giữ nguyên bản đã được NXB này lược duyệt khi cho phép ban biên tập đăng tải trên Newvietart."





BÀI THỨ 19





Paris. Thời gian của sự rỗng không đáng giá trong đầu óc.

..................

Sàigòn tháng 10/1980.

Tình bạn trong công việc làm hiện tại của tôi cũng thật là thắm thiết. Một ê-kíp ba người vừa đủ tạo thành ban nhạc nhẹ thích hợp cho một nhà hàng ấm áp, trang nhã. Chúng tôi là bạn của nhau đã nhiều năm. Những người bạn cuối cùng rơi rớt lại kể từ sau vụ đắm thuyền của cả nhóm bạn chung.

Những buổi tối sau giờ làm việc, như một thói quen, chúng tôi kéo về bên dốc cầu Trương Minh Giảng, ngồi lại với nhau ít lúc. Cái quán lá nghèo nàn nằm cạnh đống rác to bên bờ con “Kinh Nước Đen” đối diện trường Đại Học Vạn Hạnh vẫn là điểm hội tụ của cả nhóm. “Kinh Nước Đen” là tên gọi mà anh bạn chơi piano đặt cho giòng sông Trương Minh Giảng. Tại đây, trong cái mùi thoang thoảng của rác và bùn, những bản nhạc được viết ra, những bài thơ được phơi tỏ, biết bao ước vọng được nói lên và bao nỗi buồn vui của đời nghệ sĩ được kể cho nhau nghe khi trong đầu, hơi men đang dần thấm.

Tháng Mười, mùa thu trở về làm cho Sàigòn bỗng dưng chợt mát. Đường phố có gió nhẹ lành lạnh. Sinh hoạt về đêm dọc dài từ dốc cầu qua đến khu đại học rồi vòng sang khu chợ Trương Minh Giảng thật rộn ràng sống động. Những chiếc quán lộ thiên không còn nhiều chiếc ghế bỏ trống. Các vị khách ngồi chụm đầu to nhỏ, mỗi chiếc bàn là một thế giới riêng tư. Mùi café, mùi rượu, mùi khô cá nướng và mùi bùn rác từ dưới gầm cầu bốc lên, tạo thành một thứ mùi kỳ quặc. Trời càng về khuya, đường phố thưa thớt xe cộ thì trong không gian, thứ mùi này càng trở nên nồng thắm.

Một điều ngạc nhiên là trong xã hội hiện tại, gần như cái gì cũng thiếu; vậy mà quán rượu lại không hề thiếu. Gọi rằng “quán” nhưng thật chỉ là một tấm “tăng” được căng ra trên bốn chiếc cọc dùng làm nóc, vài cái bàn gập ghềnh và dăm ba chiếc ghế thấp lè tè đặt rải rác chung quanh một chiếc xe đẩy bằng gỗ bọc thiếc, trên đó sắp vài chai rượu thuốc, rượu đế, một thẩu củ kiệu ngâm dấm, một hủ tôm khô, lọ đậu phọng và vài khoanh giò lụa. Đàng sau chiếc xe là chỗ ngồi của bà chủ quán.

Những cái quán loại này thường rất đông khách. Con số thất nghiệp càng cao bao nhiêu thì số người tiêu phí thì giờ trong các quán rượu càng nhiều bấy nhiêu. Hiện tượng uống rượu lan tràn trong đủ mọi giới: ông già, bà cả, đàn ông, đàn bà và kể luôn con nít 12, 13 tuổi. Người ta giết thì giờ nhàn rỗi trống không bằng rượu. Người ta giải sầu qua ruợu, quên hết mọi vây khốn hiện tại nhờ rượu. Và người ta đi tìm niềm vui nhỏ nhoi cũng trong hơi cay của những chén rượu.

.. .. ..

Những đêm tháng Mười, tôi và hai người bạn thường ngồi lại với nhau sau giờ làm việc. Chiếc quán lá bên dốc cầu đã gợi lên biết bao cảm hứng cho chúng tôi. Những câu chuyện được nói ra trong tình bạn thâm sâu thân mật. Chuyện việc làm, chuyện thời cuộc và luôn cả những ước vọng trong thầm kín tâm tư.

Có lúc anh bạn chơi piano lại hát nho nhỏ một ca khúc mà anh vừa sáng tác. Giữa con phố rộn ràng với đủ mọi thứ tiếng động ban đêm, giọng ca Hà Nội của anh đã ngọt ngào vang lên trong một khoảng không gian gần gũi nhỏ nhoi. Điểm lạ là anh bạn tôi từng sống hơn bốn năm trong trại tù Cộng Sản và gặp rất nhiều thương tâm trong một cuộc hôn nhân tan vỡ, vậy mà niềm tin vẫn không mất trong nhiều ca khúc của anh. Anh vẫn cho rằng con người bản tính vốn thuần lương, và rằng cuộc đời vẫn đẹp. Anh cũng thường tỏ bày với tôi như một thứ triết lý sống: “Cái gì cũng đều có hai mặt xấu và tốt. Tại sao mình không chỉ nhìn vào mặt tốt để cho tâm hồn mình đỡ bất an?”

[]

Paris.

Ở Paris, tôi có một người quen, giao thiệp chung với tất cả gia đình tôi qua lá thư giới thiệu của một người bạn khác ở Sàigòn ngày tôi bỏ quê hương ra đi.

Anh bạn này du học và ở luôn tại Pháp kể từ 1954, hiện đang làm giám đốc một công ty của người ngoại quốc, lại cũng là hội trưởng hoặc giữ một chân thiết yếu trong các hội đoàn Việt Nam tại Paris. Sự hoạt động của anh trong cộng đồng người Việt không phải là ít và tất cả chỉ đều nhắm vào để làm lợi cho riêng anh trong mục đích chính trị. Hô hào đoàn kết, cổ võ xây dựng cho quê hương đất nước… là những tiêu đề anh thường nói tới. Nhưng cứ mỗi năm, anh lại tiêu một tháng hè cùng vợ con trên các vùng biển miền Nam hay là trong các xứ Tây Âu.

Một bữa gặp anh, thấy nét mặt anh rầu rĩ, tôi ngạc nhiên thì được nghe anh giải thích rằng con chó nhỏ trong nhà anh đột nhiên biếng ăn, bệnh, rồi mới vừa chết vào tối hôm trước. Anh thêm: “Cả nhà, luôn tôi nữa, đều buồn bã, bởi vì nó là con vật rất được mọi người quý yêu.”

Thật tình tôi kinh ngạc, không phải vì điều một con người tiếc thương cái chết của một con chó, mà chính vì câu nói ấy phát sinh từ một người “ưa làm chuyện lớn” như anh!

Tình thân giữa anh và gia đình tôi không nhiều nhưng cũng không quá ít để tôi không thể nào ghìm được nụ cười mà bật lên câu nói: “Việt Nam mất nước (nói theo kiểu chống Cộng), hay Việt Nam chậm tiến nghèo nàn (nói theo kiểu thân Cộng) cũng là phải. Bởi vì đa số người Việt Nam ở bên nhà hay ở đây ai cũng chỉ lo mưu cầu vật chất, tiền bạc, hoặc hơn nữa tập lấy cho bản thân một thói quen trưởng giả thời thượng, hơn là suy nghĩ được một điều gì cao xa hơn cho tinh thần và tâm trí, mấu chốt của sự xây dựng một xã hội tốt đẹp.”


Sàigòn, tháng 11/1980.

Cũng có khi tôi đâm nhớ ôi là nhớ các chuyến khởi hành! Mười năm không phải là ít với một đam mê ăn sâu vào tâm thức. (Mười năm nối kết cuộc đời qua các chuyến đi trên khắp quê hương!) Giờ đây, dừng lại trong chu vi hạn hẹp của một thành phố, dù là thành phố tôi quý thương nhiều nhất thì cái cảm giác bức rức trong lòng vẫn không thoát được.

Tôi mang ý nghĩ mình giống như con chim bị nhốt trong lồng, một cái lồng bằng tre mỏng manh xấu xí nhưng có khả năng làm khô héo lần mòn đôi cánh đã quen vùng vẫy tự do. Những tòa building ngất ngưỡng che tầm mắt làm cho tôi bực bội nhiều hơn khi hình dung lại những túp lều tranh lẻ loi trên các vùng bờ biển. Các con đường ngợp đầy bụi bặm và xe cộ khiến tôi thèm thuồng khoảng không gian thơm mùi lúa mới có con trâu kéo chiếc cày sau lưng, như hình ảnh đặc thù tiêu biểu của quê hương.

Bầu trời Sàigòn những ngày cuối thu tháng Mười Một không có cái vẻ nên thơ làm đắm lòng người như của vùng đất Tuy Hòa đã hơn một lần tôi ghé lại. Cơn gió mơn man da thịt mỗi đêm trở về đã gợi lên không ngừng nỗi nhớ thiết tha theo tiếng gió gào trên các ghềnh đá nơi vùng Mũi Né xa xôi.

.. .. ..

Một buổi trưa trong tháng Mười Một, tôi và hai người bạn rủ nhau vào Rex xem ciné. Chuyện phim nói về hai chàng nhạc sĩ chơi dương cầm cùng yêu một cô bạn gái, đã là đề tài tranh luận cho cuộc café buổi tối của chúng tôi bên dòng Kinh Nước Đen. Hôn nhân và đam mê là hai điều phải chọn lấy một trong phim của hai nhân vật chính. Cả hai điều đều có giá trị tương xứng. Nhưng với tôi, vai trò chàng nhạc sĩ chọn đam mê được ưa thích nhiều hơn.

Có lẽ rằng hơi lệch lạc với ý nghĩ trên khi tôi chỉ là một người phụ nữ. (Mà một ngươi phụ nữ thì cũng chẳng khác gì một con chim non cần phải được che chở bởi tổ ấm hôn nhân!) Không phải bây giờ, mà chính từ ngày xưa còn bé, tôi vẫn luôn luôn tin rằng hôn nhân bẻ gẫy biết bao tài năng, làm dừng lại bao ước mơ, hoài bão. Không ghét, không chủ trương từ khước, nhưng tôi cho rằng giá đừng bị vướng vào hai chữ hôn nhân trong đời có lẽ lại hơn!

Suốt nhiều năm, tôi vẫn nghĩ rằng Tình Yêu giải hóa cho muôn ngàn thống khổ của đời sống. Tuy nhiên điều kết thúc cuối cùng của một tình yêu trong tôi vẫn chỉ nhường bước cho nỗi đam mê phiêu bạt, ra đi.

Ngày nay, sau hơn năm năm sống trong một cơ cấu thay đổi mới của xã hội, có những đêm đối diện lòng mình, tôi cũng đã nghe bâng khuâng ray rức. Nhưng, những nỗi này, chẳng bao giờ Tình Yêu hay Hôn Nhân dự phần là nguyên nhân chính. Mà càng ngày, những khả năng trong tôi càng như bị chậm lụt chính vì cuộc sống bức bách hiện tại đã bóp nghẽn gần hết của tôi mọi đam mê.

Tôi nhớ đã đọc đâu đó một câu của Soren Aeby Kier- gaard, triết gia người Đan Mạch (1813-1855): “Kẻ đánh mất đời mình trong đam mê không mất nhiều bằng kẻ đánh mất đam mê.”

Phải chăng giai đoạn này của cuộc đời, tôi đang “mất” nhiều hơn là “được?” Tuy nhiên, nói cho cùng, cho dù là “được” hay “mất” thì có gì tồn tại mãi với Thời Gian?

[]

Paris.

Tôi có những mối vò xé riêng không được bày tỏ cùng ai, ngay với mẹ tôi. Tình thương dành cho bà ngút ngàn lai láng nhưng bà vẫn không phải là người để tôi phô diễn những điều này. Sự vò xé không đến từ nguyên nhân tiền bạc hay một đời sống thiếu trước hụt sau; cũng không là kỷ niệm cũ càng của ba mươi năm nhiều lần trở lại làm đau đớn trái tim. Có một nỗi gì luôn đè nặng trong hồn như một niềm khắc khoải. Sự khắc khoải của một nghệ sĩ đã không tìm ra được đất dung dưỡng cho nghệ thuật của mình.

Đời sống ở Âu Châu được nhìn như một cái đồng hồ vĩ đại mà bất cứ ai cũng đều phải bị cuốn xoáy vào nó. Ăn, ngủ, làm việc, giải trí, luôn cả sự suy tư –nếu có—cũng đều phải tính ra bằng phút giây chứ không còn là giờ khắc. Hiện tại, ngày 8 tiếng làm việc ở quán café; mỗi tháng một lần, có khi hai tháng, tôi mới nhận được cú điện thoại của Daniel mời tới làm một show thâu thanh cho những chương trình quảng cáo của một đài truyền hình mà anh đã ký giao kèo phụ trách phần nhạc đệm. Một năm đôi lần trong các buổi lễ lớn hay vào dịp đại hội âm nhạc nào đó, chúng tôi mới lại làm cuộc biểu diễn trước quần chúng hay một chuyến lưu diễn xa xa ngoài thủ đô. Vô tình mà tôi biến thành cái máy trong những sắp xếp chi ly nhất định của giờ giấc. Và điều buồn hơn hết là ngón đàn của tôi dần dà bị thui chột đi. Sự vò xé trong tôi bắt nguồn từ đó.

Nghệ thuật được nhìn như một món hàng xa xỉ vô cùng đắt giá. Muốn có được nó, phải tốn kém biết bao tiền bạc, thì giờ, vật chất lẫn tinh thần để đeo đuổi và chinh phục lấy; lại có khi phải hy sinh cả những liên hệ bình thường trong đời sống –như gia đình, hôn nhân—thì mới mong đạt được. Và nghệ thuật trong một xã hội Âu Châu lại càng đắt giá hơn.

Gần năm năm qua rồi, ngày lại ngày, tâm hồn tôi bị giam hãm trong những giờ giấc đều đặn của công việc, trong sự bức bách của những lo toan cơm áo; không còn gì khác hơn để vun bồi cho cái đam mê lớn nhất đã chiếm cứ tôi suốt thời tuổi nhỏ.

Ở đây, không phải hai chữ Công Danh khiến tôi điên đảo, cũng không là nuối tiếc một một thuở nào dĩ vãng xa xôi…; nhưng ở đây, cái điều không ngừng đè nặng trái tim chính là một môi trường hoạt động cho âm nhạc của mình, tôi không tìm ra được nữa. Và cho đến hết đời, tôi biết sẽ không bao giờ còn dịp dâng hiến chính mình cho nghệ thuật như suốt bao năm dài đã qua.

Sự việc Nguyễn Du khi đã già mà vẫn còn bị cái mộng công hầu đeo đuổi, thật có khác nào tiếng đàn uất nghẹn canh khuya nơi bến Tầm Dương của Tì Bà Nữ? Sự tan vỡ cuộc đời chỉ là điều phụ, mà điểm quan trọng chính là tôi đã bỏ mất đi nỗi đam mê lớn nhất của mình từ đây.


Sàigòn tháng 12/1980.

Một buổi sáng tôi theo gia đình đi dự kiến cuộc bốc mộ cha tôi. Điều muốn ghi vào đây không phải việc làm của các người phu mà chính là tâm trạng lạ kỳ của tôi khi ấy. Nghĩa trang nằm sâu bên trong một khu đất rộng dẫn vào từ ngoài con đường hẹp ồn ào xe cộ. Bên kia đường là các cửa hàng bán buôn sầm uất, bên cạnh một nhà tù kiên cố, cao lớn. Hai cái thế giới chết và sống đã được ngăn đôi bởi một dãy tường xi-măng bao quanh các hàng mộ. Vậy mà xem ra kẻ sống càng lúc càng có khuynh hướng lấn sâu vào trong chốn cuối cùng của những con người ở cõi thiên thu.

Bầu trời buổi sáng âm u như chực khóc. Ngọn gió đông phơ phất thổi về. Tôi nhìn những cái xương đùi, xương cánh tay của cha tôi được bốc từ dưới mộ mà hình dung rất nhanh đến đôi tay đã từng tấu lên các bản đàn mềm mại và đôi chân từng đi giang hồ đây đó… Nghe như có nỗi buồn man mác pha cùng sự chán nản rủ bỏ lan nhanh trong tim.

“Cuộc đời nào cũng kết thúc bằng cái chết.”

Câu nói đơn giản nhưng bao hàm cả một triết lý sâu sắc; vậy mà phải đợi cho đến buổi sáng bốc mộ cha tôi, tôi mới nhận ra được nỗi sâu sắc của nó. Tư tưởng yếm thế họa hoằn tôi mới có, đột nhiên dâng trào ào ạt. Mọi thứ chung quanh bỗng như phô bày bộ mặt hư ảo, phù du. Và lạ một điều rằng sao chỉ với những nắm đất màu vàng trơ trọi có cắm trên đầu một thanh gỗ hẹp đề tên người chết là gợi nên thật nhiều trong tôi cái tâm trạng rủ bỏ? Có phải rằng, ngay ở cõi chết, tôi cũng tưởng tượng ra sự cô đơn tội nghiệp của những linh hồn không được ai lui tới viếng thăm?

Buổi sáng, sự im lặng ngự trị khắp nơi. Vài con bướm vờn bay chung quanh các cánh hoa mọc nơi đầu mộ. Trên trời cao, những đám mây màu xám góp phần tô đậm thêm cái màu ảm đạm cho nghĩa trang.

Lòng tôi chợt rủ xuống. Cái ý nghĩ ra đi khỏi Việt Nam trong khoảnh khắc đột nhiên chùng lại. Ở đây hay ở phương xa, điểm đến cuối cùng của cuộc đời rồi cũng chỉ bao gồm trong ba tấc đất. Nhưng ba tấc đất xứ người làm sao ấm được cho bằng ba tấc đất ở quê hương?

[]

Paris.

Mỗi buổi chiều khi đi qua công viên gần quán café, tôi đều nhìn thấy một người đàn ông ngồi thổi ống tiêu trên ghế đá, vây chung quanh là một đám trẻ nít. Những ca khúc Ý Đại Lợi phát ra lai láng qua tiếng tiêu khiến tôi nghĩ rằng ông là một người Ý. Lũ trẻ xem ra rất ưa thích ông. Cứ mỗi lần ông dứt tiếng tiêu là y như rằng hết đứa này đến đứa nọ tiến lên đưa cho ông những thức ăn hay món quà nào mà chúng có. Còn tôi, cứ mỗi buổi chiều đi qua đó, tôi đều dừng lại dăm phút để lắng nghe những điệu nhạc của con người được lòng yêu mến của trẻ con kia.

Cái dáng ông rất gầy, khuôn mặt đã già, ra vẻ một người không cửa nhà định sở; nhưng trong những thanh âm vi vút hầu như có một nỗi vui tươi ấm áp làm cho tôi vô cùng ưa thích. Thỉnh thoảng cũng có vài người bộ hành lớn tuổi dừng chân vài phút rồi thản nhiên cất bước. Còn lại chỉ là ông, lũ trẻ và cả tôi.

Thường, ông vẫn lặng lẽ thổi tiêu, nhưng khi có một đứa bé nào mon men đến cạnh thì ông ngừng thổi, quay sang mỉm cười với nó và đưa cho nó bất cứ thứ gì mà nó thích trong số quà tặng cho ông.

Cũng ngay công viên gần quán café, mỗi chiều tôi vẫn được một người phu quét lá bên đường nở nụ cười, thăm hỏi vài câu. Những chiếc lá cuốn bay theo hướng đưa của cái chổi. Trên hai vạt áo khoác ngoài của người phu, bụi bẩn bám đầy. Trời Paris buồn buồn lành lạnh. Những tia nắng cuối cùng rớt tự trời cao làm sáng trong không gian một màu vàng quyến rũ. Tia nắng hay nụ cười của người phu, cả hai đều đượm nồng ấm áp như nhau.

Một lúc nào tôi đột nhiên thấy mình yêu đời kỳ lạ. Ở đâu cũng có cái Đẹp. Ở đâu cũng có nỗi hân hoan, miễn là mình “chịu nhìn” đến nó. Thì một tiếng tiêu trong buổi chiều âm thầm buốt giá, hay nụ cười rạng rỡ trong khoảng không gian lành lạnh buồn buồn đã chừng như hé lộ cho tôi thấy chút nào cái “đạo” mà tôi cứ mãi loay hoay đi tìm suốt ba mươi năm dài đã qua.


Sàigòn tháng 1/1981.

Vì tình trạng khan hiếm điện đóm nên từng khu vực trong thành phố phải bị luân phiên cúp điện năm ngày hai đêm trong mỗi tuần lễ. Tự Do là một trong những con đường lớn của Sàigòn cũng không thoát ra ngoài tình trạng đó.

Những buổi chiều tối đứng đánh đàn dưới ánh đèn măng-xông chập chùng hơi nóng, tôi đã nghe xót xa thật nhiều theo sự nghèo khổ của quê hương. Ánh sáng điện đóm –nhu cầu hàng đầu cần thiết trong một thành phố công nghiệp—ngày càng bị hạn chế; cũng như ánh sáng văn minh của thế giới Tây Phương không còn cơ hội len lỏi vào trong đất nước Việt Nam.

Những thực khách –đa số là cán bộ—ngồi gác chân lên ghế, vừa nhai ngồm ngoàm vừa chuyện trò to nhỏ, trên thái độ là cả một nỗi hả hê thỏa mãn. Sự nghèo khó của quê hương cũng được tỏ bày ra trên cung cách ăn uống của những con người này. Ba mươi năm ẩn núp trong rừng đã quá héo khô mòn mỏi. Giờ đây đối diện với những xa hoa còn sót lại của chế độ cũ, khuynh hướng tự nhiên chỉ là chộp lấy thật nhanh!

.. .. ..

Những buổi tối dưới luồng ánh sáng nóng bức hắt ra từ chiếc đèn đặt trên nắp dương cầm, tôi vừa nghe thương cuộc đời nghệ sĩ, thương những người bạn, lại cũng thương luôn những con người đang miệt mài trau chuốt cho cái vị giác dưới kia. Không ai lắng nghe âm nhạc của chúng tôi. Những giòng âm thanh như trôi tuột trong một làn sóng đầy những tiếng cười, tiếng nhai, tiếng la và cả tiếng chửi thề nữa. Thỉnh thoảng mới có một người khách gọi bồi mang đến cho chúng tôi món tiền nhỏ hay vài điếu thuốc lá thơm để yêu cầu một bản nhạc nào đó của thời 45-48. Và rồi trong điệu quân ca, người khách cùng cả nhóm chung bàn vừa gật gù hát theo để nhớ về một thời dĩ vãng, vừa không quên nhai vội vàng những món ăn ngon.

“Không có gì tầm thường hơn sự thưởng thức một cách tầm thường” . Câu văn của Maurois cứ mãi trở đi trở lại giữa cái đầu tôi khi ấy. Người bạn chơi piano vẫn cúi mình trên hàng phím làm tuôn ra những âm thanh tha thiết. Sau lưng anh, cây đại hồ cầm của người bạn kia vẫn vang lên những tiếng bập bùng.

Tôi nhìn các thực khách, nhìn hai người bạn, rồi lại nhìn vào cây đàn trên tay mình mà nhớ đến một câu định nghĩa đọc khi còn bé: “Đàn vĩ cầm là vua của các nhạc cụ bởi những khả năng kỳ diệu và bởi cái âm thanh quí phái của nó.”

Và tôi nhìn vào chính mình, một tay vĩ cầm trong thời buổi bi kịch, sống lang thang khổ ải trong những ban nhạc thiếu máu và những không gian thiếu ánh sáng.

Ai đó, hình như đã ví tiếng vĩ cầm như một tiếng thở dài!…

[]





...CÒN TIẾP...










© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả ngày 10.02.2009.

. Tác phẩm của Trần Thị Bông Giấy chỉ đăng tải trên tranthibonggiay.net và newvietart.com