MỘT NGƯỜI XƯA



THANH THẢN




Bà cụ Bản đã ngoài tám mươi. Mái tóc cụ đã bạc phau nhưng lưng cụ chưa còng như nhiều cụ trong làng. Nhờ giời cụ vẫn còn khá mạnh khỏe, bước đi còn vững, đôi mắt còn tinh tường. Cụ còn ăn được, ngủ được.

Cụ có một anh con cả hy sinh tại mặt trận phía Nam, một cô con gái lấy chồng xa. Ngọc là người con trai út của cụ, hiện là một cán bộ nhà nước có nhà trên tỉnh. Vợ chồng Ngọc cứ muốn mời cụ lên ở với con cháu cho vui, cho con cháu có điều kiện phụng dưỡng tuổi già của cụ. Lúc khỏe đã vậy, lúc trái gió giở giời thì sao. Tuổi già như trứng treo đầu đẳng, ai mà biết trước được điều gì. Vậy mà chỉ lên với con cháu được một, hai ngày là cụ lại nằng nặc đòi về ngay. Cụ bảo cụ nhớ nhà, ở phố không quen, không sao ngủ được. Nhà cao cửa rộng nó cứ rỗng rễnh thế nào ấy...

Có lần vợ chồng anh Ngọc đã bảo với cụ:

- Nhà cửa ở quê có gì mà mẹ phải nhớ?... mấy gian nhà cũ với toàn những thứ cổ lỗ sĩ... những thứ ấy... thế nào cũng có lúc chúng con cho dẹp hết...

Nghe con nói vậy cụ buồn lắm. Cụ lại lo nữa. Biết đâu rồi lại chả có lúc con cháu chúng làm thật. Thì ở làng giờ đó thôi, hỏi có còn nhà nào giữ được như thế. Nhà nào cũng đã làm nhà mới hết. ở xóm làng mà nay cứ như ở phố. Ao chuôm đã lấp nhiều. Tre pheo cũng chả còn mấy. Nhà nhà đua nhau làm mái bằng, nhà cao tầng rồi chóp vuông, chóp nhọn tua tủa. Nhà nào cũng ti-vi, quạt máy, bếp điện, bếp ga... Cả làng đã có nước máy, nước sạch dùng. Cái nhà tắm có vòi hoa sen vặn nước xòe xòe... Đời sống như thế ai chả muốn. Thật là sung sướng gấp vạn lần ngày xưa. Thế mà sao cụ vẫn nhớ đến cảnh cũ, làng xưa... Sao mà nó gần gũi, thân quen, gắn bó... Mà mới đó chứ nào đã xa xôi gì... Thế là cụ ở nhà. Cụ bảo ở nhà, ở quê mới được gần với ông bà, tiên tổ... Lễ tết đầu tháng ngày rằm còn hương hoa, nhang khói cho ông bà tiên tổ... Chứ không thì nhà nó vắng vẻ, lạnh lùng lắm...

Nhà cụ vẫn giữ được như xưa. Năm gian nhà gỗ lim, mái ngói từ đời các cố, cũng đã hơn trăm năm. Cột kèo đã lên nước đen bóng, không mọt nào gặm nổi. Hai hàng cột vẫn giữ nguyên hai câu đối chữ Nho, sơn son thếp vàng... Cụ không biết chữ Nho, những ngày xưa khách khứa đến chơi nhiều người đọc, bình cụ chỉ nghe mà cũng thuộc lòng, nhớ mãi: "Văn vũ gia thanh truyền dịch hiệp - Phong lưu thế phổ hợp liên chi", nghĩa là tiếng nhà văn võ còn truyền mãi, nối dõi mãi. Phong lưu ở đời tụ lại như muôn cành xanh cây, tốt lộc... Nói rồi cụ mỉm cười mà không dám chỉ vào câu đối sợ chỉ nhầm bên nọ sang bên kia, vì cụ có biết mặt chữ đâu, cụ chỉ thuộc miệng vậy. Thế mà ai cũng tấm tắc khen "Cụ đúng là con cháu các cụ đồ, cụ Nho"...

Khắp mọi nơi trong nhà, từ trong nhà xuống dưới bếp, ra ngoài vườn nhìn vào đâu cũng chỉ thấy toàn những thứ vợ chồng anh Ngọc gọi là "cổ lỗ sĩ". Nhưng với cụ thì nó không thể nào thiếu được. Nhìn vào bất cứ vật gì, lúc nào cụ cũng như thấy nó hiện lên bao nhiêu kỷ niệm mà suốt đời cụ không thể nào quên được. Một căn nhà thân thương gắn bó với cụ từ những ngày cụ khăn gói bước về làm dâu...

Nào là bộ tràng kỷ gỗ gụ, xung quanh khảm trai kê giữa nhà kia là nơi ông bố chồng cụ, một nhà Nho có tiếng trong vùng thường cùng bầu bạn nâng chén trà thơm ngồi đàm đạo văn chương, thế sự... Nhiều lần cụ được hầu nước, nghe chuyện các cụ cũng được mở mang đầu óc nhiều. Rồi đến đời chồng cụ cũng vậy... Lắm lúc cụ vẫn còn như thấy bóng các cụ vào ra, quây quần, rồi tiếng các cụ êm êm thật là đầm ấm cửa nhà. Dưới chân bộ tràng kỷ vẫn là chiếc điếu bát có cái cần trúc vàng óng dài ngoẵng... Tiếng rít thuốc giòn tan của người xưa cụ không sao quên được. Gian đầu nhà kia, nơi có cái cửa sổ gỗ kéo lên hạ xuống là chiếc sập gụ chân quỳ dạ cá các cụ thường ngồi quây quần bên ấm trà, chai rượu. Các cụ xưa sao mà hay thế. Chiếc ấm sành da lươn thì chỉ bé như quả cam nhỏ, mấy cái chén cũng bé tý như hạt mít. Nước pha trà thì phải là nước mưa ở chum sành hứng từ ngọn cây cau, hoặc nước hứng từ những giọt sương đêm trên tàu lá sen. Trà thì các cụ bỏ vào hoa sen buộc kỹ ủ từ hôm trước, nên có ấm trà con con mà cứ thơm nức cả mấy gian nhà. Khi uống các cụ lại chỉ nhấp tý một rồi gật gù tấm tắc khen, chứ chả ly cốc tu một hơi như cánh trẻ uống bia bây giờ. Rượu cũng vậy, chỉ một nậm sứ nhỏ, mà các cụ ngồi khề khà suốt buổi không hết...

Dưới chân giường cụ vẫn giữ chiếc âu đựng trầu cau và chiếc cối giã trầu nhỏ bằng ngón chân cái, đều bằng đồng, nước đồng đã lên bóng đỏ au. Cạnh đó là lọ bình vôi tầm như quả dừa miệng quyệt đầy vôi và cũng vẫn còn nguyên chiếc que ngoáy vôi cắm vào miệng bình. Mỗi lần nhìn vào những thứ ấy cụ lại tần ngần nhớ đến các bạn già trong xóm sớm chiều thường quây quần bên nhau chia nhau từng miếng trầu, miếng vỏ. Nhất là những đêm trăng sáng, các cụ vừa ngồi ngoáy trầu, vừa bỏm bẻm nhai, vừa trò chuyện vui vẻ tận khuya. Các cháu nhỏ thì ngồi bên nghe các bà kể chuyện, xem các bà nhai trầu. Trông thật vui, các cụ nhai miếng trầu cay mà cứ như trẻ nhỏ nhai kẹo...

Đầu hồi nhà là cái cối xay lúa. Phía ngoài vẫn nguyên cái dại tre, che mưa che nắng. Nay trong làng đã có ba máy xát gạo. Vài thùng thóc quẩy đi chỉ một loáng là xong. Cái cối xay không ai còn dùng đến nữa, nhưng cụ vẫn giữ. Nó đã gắn bó với cả đời cụ. Cụ quên sao được những buổi sớm, buổi chiều đứng xay lúa ù ì, lúc lắc... Chiếc cối quay tròn, gạo trắng như muối rào rào trút xuống cái nia đặt dưới, trông đến là vui mắt. Hồi còn bé cụ cũng thích xem xay lúa. Rồi đến bạn bè đố nhau "Sừng sững mà đứng giữa nhà. Hễ ai động đến thì òa khóc lên"... là cái gì? Đến vui. Trên gác hiên thì vẫn còn gác lỉnh kỉnh các thứ nong, nia, dần, sàng... cứ y nguyên như xưa.

Đầu hồi nhà vẫn là cái chum sành đựng nước mưa, có cái tàu cau khô buộc từ thân cây cau hứng nước từ ngọn cây xuống. Miệng chum gác một chiếc gáo dừa có cái cán dài hàng nửa sải tay. Nước mưa trong như lọc, lại ngọt như đường cát, mát như đường phèn... Cả xóm ai pha trà móc câu cũng xách ấm sang xin nước mưa của cụ. Những trưa hè, bà con đi làm đồng về qua thì không mấy ai là không ghé vào xin cụ gáo nước mưa. Người trước, người sau đứng chuyền tay chiếc gáo dừa ngửa cổ tu ừng ực. Uống xong ai cũng giơ tay áo quyệt ngang miệng rồi cười nói vui vẻ "Gớm, tỉnh cả người..." cụ cứ đứng nhìn mà cũng thấy vui, thấy mát ruột...

Đầu chái bếp cũng vẫn còn đó chiếc cối giã gạo thân bằng cây sung dài ngoẵng. Bọn trẻ bây giờ nhiều đứa đố có biết cái cối giã gạo thế nào. Với cụ thì nó vẫn gần gũi, thân thuộc như không thể thiếu được mặc dù bây giờ kể cả năm cũng chẳng mấy ai đụng đến. Cụ nhớ nhất là những lúc giã gạo canh khuya. Ban ngày bận công việc đồng áng, có thúng thóc xay tối mới đổ vào giã. Tiếng cối giã thình thịch đều đều vang lên trong đêm vắng nghe đến hay. Vừa giã gạo, một người vừa đếm... một đôi... hai đôi... đến chừng bốn trăm, năm trăm đôi, tức là khoảng tám trăm đến một nghìn chầy là được. Hồi trẻ, vợ chồng đứng bên nhau giã gạo, chân đạp đều, cần cối lên xuống nhịp nhàng. Phía ngoài có sợi dây thừng buộc ngang để vịn tay. Có khi vợ chồng nắm tay nhau cùng đứng giã gạo, rủ rỉ chuyện trò đến là thân thương, tình tứ. Vợ chồng đứng bên nhau giã gạo đến khuya vẫn không thấy mệt...

Đặc biệt dưới gian bếp thì lại cũng còn khá nhiều thứ "cổ lỗ sĩ" hơn nữa. Góc kia là cái thùng trấu to bằng cái chiếu để đựng trấu, đựng rơm rác. Cụ vẫn thường hay kể với các cháu là hồi còn bé mùa đông tháng giá mấy chị em cụ cứ tranh nhau chui vào thùng trấu nằm ngủ, còn ấm hơn cả ổ rơm ấy. ở bếp vẫn là bộ đầu rau nặn bằng đất sét từ hồi ông chồng cụ còn sống nặn với cái kiềng ba chân bằng sắt đã có nhiều han gỉ... Buồn cười có lần về chơi, các con anh Ngọc cứ cầm cái que cời lửa gõ vào đầu ông đầu rau nghịch làm cụ phát hoảng. Cụ liền vội giữ tay cháu lại:

- ấy chết... phải tội đấy cháu ạ!... mà cũng còn phải gọi là ông đầu rau cháu nhớ...

Các cháu bé ngơ ngác chẳng hiểu, cụ lại phải kể. ở bếp có ông Táo quân coi giữ... năm nào tết đến gần, ngày hai ba tháng chạp ông cũng cưỡi cá chép bay về trời tâu với Ngọc Hoàng, tức là ông Trời đủ mọi chuyện của hạ giới, của từng nhà. ông tâu nhiều lắm, vậy mới gọi là dài như sớ Táo Công... làm các cháu nghe cứ ôm bụng cười ngặt nghẽo...

Phía gần cửa vẫn là cái trạn bát bằng gỗ, có cái ống luồng đựng đũa, cũng đã lâu lắm rồi. Trên gác bếp vẫn lỉnh kỉnh chất đầy các thứ. Nào là gầu sòng, gầu dây, cái riu, cái rủi tép, cái dậm đánh cua, cái rọ đơm cá rô, ống chúm đánh lươn... toàn những thứ mà giờ tìm khắp làng cũng không mấy nhà còn... Cụ vẫn quý lắm. Những thứ đó tuy lặt vặt nhưng con cá, con tôm, con cua, con tép đã góp phần nuôi sống cả nhà cụ bao nhiêu đời...

Nếp nhà cụ là thế, nhìn vào đâu cũng toàn thấy những vật cũ, dụng xưa... Đến cái ao bèo, xung quanh cụ còn cấy những hàng khoai nước để nuôi lợn, tất nhiên giờ cụ cũng chỉ toàn cho hàng xóm sang lấy. Cụ chỉ thích nhất là những bát canh dãi khoai, nấu với mẻ, sao mà nó mềm, nó mát đến thế, cứ như ăn bún vậy. Giữa ao cụ vẫn thả bè rau rút. Nồi canh cua mà có ít rau rút thả vào thì thật ngọt, thật thơm tưởng không gì bằng. Những dịp cuối xuân đầu hạ, trời đổ những trận mưa rào đầu mùa, thì bốn bề quanh ao rộn những tiếng con ếch ộp kêu tìm bạn, tiếng con chão chuộc "chuộc...chuộc...chẳng chuộc..." nghe đúng là đêm làng quê. Có lần lên tỉnh ở nhà con, đêm mưa, cụ vẫn như nghe thấy văng vẳng bên tai tiếng con ếch, con chão chuộc kêu bên ao, tiếng con sạt sành đầu trái, tiếng dế kêu rỉ rả góc tường... cụ lại nôn nao nhớ nhà đến không ngủ được...

Biết mẹ trân trọng, gìn giữ mọi thứ ấy nên anh Ngọc cũng không dám bỏ đi cái gì. Đến muốn lấp cái ao làm vườn anh cũng chưa dám. Chị Ngọc thì hay nói vui với mẹ chồng:

- Mẹ đúng là... người xưa... cả làng giờ chả còn tìm thấy ai như mẹ... mẹ giữ làm gì mãi những thứ ấy... chỉ tổ bừa bộn, chật nhà...

Cụ không nói sao, nhưng vẫn không muốn bỏ đi một thứ gì. Cũng có lúc nghĩ đến lời các con... cụ lại thấy buồn buồn, lo lo... Cụ chỉ sợ khi cụ không còn nữa thì tất cả những thứ kia... đến cả ngôi nhà này chắc gì cũng còn nữa... Không biết khi ấy ông cha, tiên tổ dưới suối vàng có buồn như cụ không...

Thế rồi cả làng cùng đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Làng xóm, nhà mái bằng, nhà cao tầng đã san sát. Nhiều quán xá hai bên đường cũng đua nhau mọc lên. Làng xóm đổi thay, sớm hôm tấp nập đông vui, xe đạp, xe máy rộn cả làng chắng kém gì thị tứ, thị trấn... Một con đường lớn trải bê tông phẳng lỳ chạy giữa, rạch làng ra làm đôi chạy thẳng vào khu du lịch hang động phía mấy xã trong. Làng đã tấp nập lại càng tấp nập đông vui hơn. Người qua lại làng ngày một nhiều. Có nhiều xe máy, ô tô đi du lịch qua làng. Vui nhất là những đoàn du lịch người nước ngoài mà bà con quen gọi là du lịch "Tây ba lô". Họ đi theo từng tốp năm bảy người. Chả biết họ đến từ những nước nào mà trông thật giống nhau. Người nào cũng cao to, xồ xề, nước da trắng, tóc vàng, mắt xanh, mũi lõ... Có người chắc đã đi nhiều ở xứ Viễn Đông này nên nước da đã sạm nắng gió... Trông đến tức cười là những ông bà đi xe đạp thuê của khách sạn. Người họ cao lớn ngồi chồm chỗm trên chiếc xe đạp nhỏ trông cứ như làm xiếc.

Vào làng trông thứ gì họ cũng thấy lạ lẫm. Một tấm bia đá mốc rêu trước cái miếu cũ bên đường họ cũng quây lại xem. Một mái đầu đao đình làng họ cũng dừng ngắm nghía lại còn giơ máy ảnh ra chụp. Họ còn tỏ ra rất thích là những bóng đa tỏa mát, là khóm trúc, bờ tre, là cái ao làng có những bông trang, bông súng hoa trắng, hoa đỏ đua nhau nở...

Có điều lạ là không biết có ai giới thiệu mà người nào qua làng cũng ghé vào thăm nhà cụ Bản. Lúc đầu cụ sợ lắm. Sợ vì lạ, vì cụ chả hiểu họ vào làm gì mà cứ hết tốp này đến tốp khác, người ta chen lẫn người Tây. Có hôm cụ đã đóng cổng mà họ vẫn cứ xin vào. Mãi khi nghe mấy người Việt nói là xin phép cụ vào tham quan, cụ mới hiểu và yên tâm. Nhưn cụ lại nghĩ nhà mình có gì mà họ tham quan nhỉ. Thì ra những thứ mà nhiều lần anh Ngọc, con cụ muốn dẹp bỏ ấy lại là những thứ họ muốn vào xem. Họ ngó xem thậm chí còn xem kỹ, còn tỏ ra thích thú đủ thứ trong nhà cụ. Người xoa tay xem đi xem lại cái án thư, cái sập ngụ chân quỳ dạ cá. Người thì vần ông bình vôi ra tận hè xem vẻ lạ lùng, thích thú lắm. Có cô gái Tây còn cầm cái que ngoáy bình vôi đưa lên miệng nhấm nhấm thử rồi rũ ra cười. Cái cối xay lúa có người đứng xay thử. Cái cối giã gạo cũng có người bảo cụ bỏ ít gạo vào cho họ đứng lên giã thử mấy chầy... Có người còn ra chum nước mưa múa hàng gáo đầy chuyền tay nhau uống rồi xì là xì lồ nói với nhau gì đó. Chắc là họ khen vì thấy họ nhìn nhau gật đầu và cười vui. Nhiều người còn thi nhau mở máy ảnh ra chụp tanh tách, lóe sáng. Họ chụp nhiều, chụp đủ thứ...

Nhiều lần lại có những tốp thanh niên nam nữ kéo vào. Trông người nào cũng trẻ trung tươi rói. Họ tự giới thiệu với cụ họ là sinh viên đại học mỹ thuật, tức là học sinh trường vẽ. Họ xin phép cụ được đem các thứ bày ra hè, ra sân để vẽ. Có anh chị còn nhờ cụ ngồi ngoáy trầu, hoặc têm trầu hoặc ngồi sàng gạo, hoặc ngồi bó chổi rơm, hoặc đứng xay lúa... cho họ vẽ. Họ xúm xít xung quanh giở giấy, giở mầu ra ngắm nghía rồi cắm cúi vẽ. Cụ chỉ tức người là làm mẫu gì mà cứ phải ngồi im, giữ nguyên một động tác... Bà con xóm giềng thấy thế kéo đến xem chen nhau hàng trong, hàng ngoài đứng kín sân. Ai cũng nức nở khen. Gớm các cháu bây giờ sao mà giỏi... họ vẽ chỉ loáng cái là xong, mà mầu mè đẹp còn hơn cả chụp. Họ còn bảo đem đi Hà Nội triển lãm, làm cụ vui lên gấp bội. Có người còn chỉ vào tranh đùa vui trêu cụ "Cụ Bản ngồi têm trầu, đứng xay lúa, ngồi dần gạo mà cũng được vào tranh, được đem đi triển lãm ở thủ đô... đấy! Làng ta nhất cụ rồi...".

Điều lạ nhất là người nào vào xem, vào chụp ảnh hoặc vào vẽ xong cũng vui vẻ rút tiền ra biếu cụ. Có người rút hẳn tờ trăm nghìn mới cứng. Lại có ông Tây, bà Tây rút ra loại tiền gì đó lạ lắm đưa biếu cụ. Lần đầu cụ phải cầm đi hỏi mọi người mới biết đó là tiền "đô", tiền đô là của Mỹ. Tiền "đô" gấp hơn chục nghìn lần tiền ta. Cụ lại giật mình, sao cụ cho mình nhiều thế. Thực tình lúc đầu cụ chẳng dám nhận tiền của ai, vì cụ nghĩ họ chỉ vào xem rồi ra thôi, chứ có phải mua bán gì đâu. Nhưng cụ không lấy họ cũng cứ ấn vào tay cụ hoặc để ngay ngắn trên bàn. Nhiều lần cụ phải cầm tiền chạy ra đến tận ngã ba trả lại, nhưng họ vẫn nhất định cứ ấn tiền vào túi áo cụ rồi lên xe phóng thẳng, làm cụ chạy đuổi theo không kịp...

Từ đấy nhà cụ vô tình trở thành một "trung tâm triển lãm" của làng. Sớm chiều người vào ra tấp nập, làng xóm cũng thêm vui. Có ngày mưa gió cũng có người vào. Có ngày cụ được khách biếu đến năm sáu trăm ngàn đồng. Tính ra như vậy hàng tháng cụ cũng đã có một khoản thu rất khá, mà đến mấy ông cai xây dựng trong làng cũng không bằng. Cả làng ai cũng mừng cho cụ, mặc dù cụ bảo cụ chả muốn như vậy tý nào. Mấy đứa còn anh chị Ngọc, chả biết có phải mẹ xui hay không mà cũng năng về thăm bà hơn. Lần nào cháu về cụ cũng cho tiền, có khi đến dăm ba triệu gửi lên cho con sửa nhà, mua sắm...

Tưởng chỉ dừng lại đấy... nào ngờ một hôm làng xóm xôn xao cả lên vì có một chiếc ô tô con bóng nhoáng phóng về nhà cụ Bản. Có bốn người, thì đến ba người "bụng to trán hói" ăn mặc sang trọng hồ hởi bước vào nhà cụ. Họ xin phép cụ được ngắm nghía ngôi nhà, xem bộ tràng kỷ, xem cái sập gụ chân quỳ dạ cá... Cuối cùng họ bảo họ muốn mua tất. Cái nhà là ba trăm triệu, bộ tràng kỷ năm triệu, cái sập ba triệu, cái cối xay lúa hai triệu, cái cối giã gạo hai triệu... vào bao nhiêu các thức khác nữa... như ông bình vôi, cái lờ, cái đó, cái gầu dây, gầu sòng, cái riu, cái rủi tép, cái nia, cái mẹt, cái cối giã trầu, ba ông đầu rau... thứ thì một triệu, thứ thì dăm bảy trăm... Cụ hỏi các thứ "cổ lỗ sĩ này thì các ông mua làm gì?". Họ bảo mua về trưng bày trong một khu du lịch dân tộc để giới thiệu với khách quốc tế về cuộc sống nông thôn ngày xưa của dân ta... Thế mà cụ vẫn một mực nhất định không bán... Họ đành phải quay ra. Trước khi về họ còn dặn cụ nên bàn với con cháu bán cho họ, lần sau họ sẽ quay lại...

Biết tin ấy vợ chồng anh Ngọc liền phóng xe máy về luôn. Anh Ngọc còn bảo mẹ nếu họ quay lại phải đòi giá cao hơn, nhưng cụ vẫn lắc đầu rồi quay nhìn cảnh nhà cửa mà lòng lại buồn nẫu, hình như cụ lại lo lắng một điều gì đó...

Chuyện vui nhất sảy ra ở làng là sau ngày đó thì có đến bảy gia đình liền đổ ra khá nhiều tiền của đi phục chế, đi sưu tầm mua những thứ như đã có trong nhà cụ Bản về bày. Có người còn thuê viết quảng cáo rất to đẹp, mầu mè sặc sỡ treo ở cổng mời khách du lịch vào tham quan... Nhưng không ngờ họ cũng chỉ đón khách được lần đầu sau đấy thì tịnh không có ai vào nữa. Thì ra ở đời cái thật cái giả đâu dễ lẫn lộn. Mấy nhà tiếc tiền đã bỏ vốn ra mà không thu được gì, lại thành chuyện đàm tiếu cho thiên hạ đâm ra vợ chồng cãi nhau ầm ĩ, để cán bộ hòa giải phải đến nhà dàn xếp mới xong.

Lại một hôm, chả biết ai nhắn tin trên điện thoại là "có một chiếc ô tô con đẹp lắm lại phóng về làng..." làm cho vợ chồng anh Ngọc đang đi nghỉ mát ở Sầm Sơn phải vội vã phóng xe về luôn. Vợ chồng anh chỉ sợ mẹ ở nhà lại bán hớ ngôi nhà và các thứ...

Nhưng về đến làng thì anh chị chẳng thấy có chuyện gì nên tức đến lộn ruột. Anh nhìn ngắm ngôi nhà ông cha để lại rồi lại chợt nghĩ ra một điều... Những thứ không ngờ trở nên quý giá này coi chừng cũng dễ mất cắp lắm đây... Mẹ anh thì đã già, đêm hôm thui thủi, cổng giả thì tuyềnh toàng... Vợ chồng anh liền bàn nhau phải đưa thằng lớn đang học lớp mười một về quê ở với bà để trông coi, rồi còn phải xây lại cái cổng cho chắc chắn, phải mua mấy con bẹc dê cho nó ngày đêm trông coi nhà... thì mới yên tâm được.

Kế hoạch ấy tức khắc được chị Ngọc nhất trí triển khai thực thi ngay. Bây giờ mới thấy chị nhìn bà mẹ chồng kính mến, vui vẻ nói:

- Không ngờ mẹ gìn giữ cho chúng con một đống của mà chúng con không biết... vốn liếng ông cha xưa để lại thế mà đồ sộ.. mẹ nhỉ?

Nghe con dâu nói thế bà cụ Bản lại ngân ngấn đôi mắt. Cụ khẽ cúi đầu giấu đi những giọt nước mắt lại như đang muốn trào ra. Cụ không còn biết nói gì hơn nữa... cụ chỉ thấy vui, thấy toại nguyện. Rồi bỗng cụ lại ngước đôi mắt già lên đăm đắm nhìn cửa nhà, nhìn mọi thứ đồ vật thân thương... Có lẽ cụ lại nhớ đến các bậc ông cha tiên tổ xưa và cụ lại như thấy có bao nhiêu con mắt từ xa xôi đang nhìn về...

Một lát sau cụ lặng lẽ đứng dậy bước đến bên giường thờ. Đôi tay run run, cụ sửa lại đĩa hoa quả rồi thắp lên mấy nén nhang... Căn nhà lại bỗng ngạt ngào mùi thơm hương khói...


THANH THẢN



© Tác giả giữ bản quyền.
.Tải đăng theo nguyên bản của tác giả ngày 01.02.2009
. Đã đăng trong số Kỷ Sửu 2009 - Văn Nghệ Xứ Thanh.

Đọc Truyện Ngắn khác của Thanh Thản
  • NGÀY VỀ .