TRUYỀN THUYẾT SÔNG THU BỒN
Vợ chồng Thậm nhận được điện của Thư An từ Mỹ gửi về:
" Con lấy chồng, anh ấy là người Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ".
..
Con gái đi lấy chồng, với người khác là chuyện bình thường. Hiển nhiên, đáng nói và không đáng nói. Có thể bàn bạc, lo toan và đó là niềm vui. Thoáng chốc, cha mẹ thấy mình già đi, cùng với sự trưởng thành của con cái. Rổn rang cùng hồi ức, cái thời cha và mẹ đến với nhau. Thời ấy, mới đấy mà đã hơn hai mươi năm. Ngậm ngùi với sự nghèo khó của vật chất, tình cảnh khó khăn bần hàn, không khỏi lâng lâng về sự vượt lên, vun đắp cho hạnh phúc một gia đình nhỏ nhoi...
Chuyện Thư An lấy chồng. Cái ngày ấy sẽ đến, vợ chồng Thậm không sao cầm được lòng. Lo lắng bề bề. Chuyện lấy chồng người ngoại quốc, nhan nhản ra đấy thôi. Chồng Nga, cái thời cả nước đổ xô, được đi du học Liên Xô, thuộc phe mình. Đất nước còn có chiến tranh, được đi du học là một ân huệ. Như thể người ở nhà sản xuất, chiến đấu là hy sinh, tạo dựng bằng máu, cho người đi du học trở về xây dựng, vun trồng đơm hoa, kết nụ cho tương lai đất nước, dân tộc. Thảng hoặc có người lấy chồng ngoại quốc, ở lại xứ người, là dòng họ, cơ quan có cái nhìn khang khác. Cha mẹ như mang bộ mặt không nhẹ nhõm gì. Cả dân tộc này chịu đựng để rồi có kẻ không chịu được khổ, ở lại nước người. Nói chi cái chuyện bọn Tây mã tà, mặt trắng mũi lõ, ăn nói, diện mạo sặc mùi bơ sữa, xa lạ. Ra đường, cái to lớn như muốn choán lấy cả con đường, ăn hiếp người ta.
Cũ rồi, bây giờ chuyện lấy người ngoại quốc như đi chợ. Mà có cả Công ty mai mối, công khai và bí mật, đi bán đổ bán tháo thân thể quý giá cha mẹ ban tặng cho người ngoại quốc một cách rẻ rúng, không thương xót. Các cửa khẩu mở ra, rầm rập đưa đón, các nhà đầu tư nhảy vào, hưởng cái lợi nhân công rẻ mạt. Lại có điều kiện kén chọn đám con em của mình. Ôi cái giàu có, lại còn được quyền hưởng thụ sắc đẹp của tạo hóa ban tặng. Vô giá và rẻ mạt. Tùy ở sự đẹp và thông tuệ ở bên trong. Có lúc Thư cả nghĩ, rầy la chồng:
- Biết cơ ni thì em không cho con đi du học ở Mỹ !
- Em đừng có quan trọng hóa vấn đề mà tội cho con!. - Thậm vỗ về vợ, nhưng tâm can cũng rối bời.
- Người ta có nhiều con mà còn muốn quây quần. Đằng nầy em và anh chỉ có một mình nó. Sau này, nó có bổn phận của người làm vợ. Làm sao có thể giáp mặt vợ chồng mình.
Thậm muốn đem sự hiểu biết, cả sự mù mờ u mê của chốn duy tâm ra để dẹp yên lòng cho vợ. Muốn quy vào định mệnh để gắn cho sự lấy chồng của con là hợp với đạo trời. Nhưng cả cách ấy, anh cũng không hiểu nổi. Trước đây có lúc nào đấy chạm vào sự bế tắc của loài người, giải thích về số phận, trí óc hạn hẹp không cho Thậm nạp điều gì ra hồn. Hơn thế, Thậm còn sợ mình đi lạc lối. Cả cuộc đời đi chiến đấu, có khi nào Thậm nương tựa vào thần thánh đâu. Anh không biết, chứ không phải là người vô thần. Vì nếu chối bỏ, tìm đến vô thần thì ít ra Thậm có lúc nào đó chạm đến ngự lãm của chốn đa thần. Hiểu được tỏa rạng của sự phân chia quyền uy của đa thần. Phân biệt được ngôi vị, giáo lý của thần linh. Nhưng Thậm như những người con khác của dân cày. Cha mẹ cày cuốc, lấy nhau, sinh con đẻ cái. Đói nghèo, vào tổ đổi công. Vào hợp tác. Gồng gánh đưa nhau lên miền sơn lâm khai phá rừng hoang. Thậm là đứa con ngoan, nhà nghèo nhiều miệng ăn, ăn khoai, ăn sắn, bát cơm độn khoai sắn nhiều hơn hạt gạo. Vậy mà vẫn lên được cấp ba; cả vài ba huyện mới có một trường cấp ba. Học sinh được vào học trong đó, cha mẹ đã nghĩ rằng ngày mai sẽ thành cán bộ. Thành người khác thường mất rồi. Cái đất quê mùa yên ả ấy, sinh ra Thậm. Đời đời con người chân lấm tay bùn, vậy mà có điều kiện cả họ, cả làng muốn có được đứa con đi làm cán bộ. Tất nhiên, còn có sự đua tranh của họ hàng, nhà này nhà nọ muốn cho con cái mình trồi lên, ngất ngưởng ở ghế cao hơn kẻ khác... Đó là lẽ thường, dù đói, dù no; chả gì cái làng quê nghèo đó cũng có người ăn học lên cao...
Cha mẹ Thậm cũng chỉ biết cúng bái lễ lạt vậy thôi, có dư dã phong lưu thì vào chùa, lễ Phật. Nhưng dường như trái tim con người quê mùa cũng không làm cho đức Phật buồn rầu. Tế, lạy, mong cầu mà chẳng cao siêu gì. Sự độ trì của các ngài cũng thật là giản dị. Nhưng sự thư thái đó có được là bao. Thậm đã lọt vào con mắt nhìn ngắm của chiến tranh. Mơ ước vào đại học, làm cán bộ tan ra lẫn quất vào đâu đó, không có dịp hình thành. Anh đã thành người lính, mà lại là lính đặc công, nghe đến đó bao chàng trai phải thèm khát, ước ao. Thậm đã rời trường cấp ba bên sông Mã vào cái ngày đầy nghiêm trọng, mang cả sự cao cả có màu sắc huyền thoại. Đặc công, xã hội biết về người lính nầy rất ít. Chiến tích của họ để lại cho người đời biết bao thán phục và tò mò. Mang sự dồn nén của tâm trí mà Thậm chưa hiểu hết về bộ đội đặc công là gì. Niềm vinh quang của truyền thống phủ lên Thậm một niềm tự hào, mặc dù chưa trải qua chiến trận... Chốn linh thiêng cũng đổ bể trong sức công phá của đạn bom. Cây cầu, chứng nhân lịch sử của một vùng quê trơ ra trước bom đạn của người Mỹ. Các đế quốc trên thế giới này- mặc dù người dân cày ít học, mà hiểu ra ngay: Đế quốc có nhiều bom đạn, sức mạnh và ác độc. Xa xôi thì Nguyên - Mông, gần thì Pháp - Nhật, nhãn tiền là máy bay Mỹ nhằm vào cầu cống, đường xá, trường học và con người mà ném bom. Ra đi của cha mẹ Thậm bữa trước là tránh đói nghèo, vậy mà hóa ra lại hay. Thậm quay về trường học cấp ba, rồi từ đó xa bạn, có đứa vào đại học, có đứa du học và ở lại bên Tây, bên Tàu. Ngay đợt kén nghĩa vụ đầu tiên, Thậm đã thành người lính đặc công. Mẹ lại làm cái điều như các thế hệ trước đã làm. Kiếm mâm cơm cúng bái tổ tiên cho con mình tránh được hòn tên, mũi đạn. Chiến tranh xảy ra với cả nước. Nhưng vào miền Nam, đó mới thực sự là cuộc đối đầu với kẻ xâm lược. Bom đạn ở quê hương Thậm, không ra chi so với chiến trường. Sự cúng bái ấy như là tiền lệ, không nặng nề, không mang sự sâu sắc của người vùi đầu vào nghiên cứu, lấy đó ra làm cứu cánh. Vì vậy Thậm và người thân của mình ai cũng thấy dễ chịu. Đó là thủ tục hơn là mê tín, giáo điều, bữa cơm và hương khói thành dư vị thiêng liêng, thành khát khao trong trái tim nóng bỏng của Thậm. Thậm đã giành cả tuổi thanh xuân của mình cho cuộc chiến đấu ác liệt bảo vệ dòng sông Thu Bồn. Sông Thu Bồn đã trở thành máu thịt của Thậm. Đã trở thành truyền thuyết trong trái tim người lính trẻ. Thậm lặn ngụp từ Ô Gia, Ly Ly, Cổ Cò, Vu Gia... Sông Thu Bồn đã làm thay đổi cuộc đời của Thậm. Thậm chứng kiến và dấn thân vào cuộc chiến. Thậm không cắt nghĩa được sự phi thường của người dân nơi đây. Tại sao, tại sao họ có thể chịu đựng được cuộc chiến tranh này? Họ đâu phải là người nhiều lý lẽ. Không giàu có với nghĩa đen và nghĩa bóng. Dấn thân vào chốn gian nguy trước cái chết. Chết vì bom đạn, chết vì đói khát, bệnh tật, chết vì sợ... và cả chết vì thành bộ phận không thể tách rời của chiến tranh. Của sắt thép, bom đạn và chất độc hoá học tràn ra, ngập ngụa dòng sông Thu Bồn.
Thậm đã gặp được Thư và thế đấy. Nói cho hoa mỹ, nàng là con của dòng sông Thu Bồn đã sắp đặt cho Thậm, gán ghép cho số phận của cuộc chiến tranh mà hai người gánh chịu. Và bây giờ, vẫn đặt ra cho họ:- Ngày mai, con gái Thư An của họ sẽ từ Mỹ trở về. Đem cả người chồng sắp cưới về đất này. Điều này, Thậm không muốn nói cho người vợ của mình biết, Thậm sợ Thư sẽ sốc, Thư sẽ phản ứng, sẽ làm cho sự vật thêm rối rắm, thêm căng thẳng, nhưng cuộc đời này có khi nào mà không phải giáp mặt với sự thật. Chồng của Thư An sẽ đi tìm mộ người cha của hắn đã ngã xuống ở mảnh đất "Hòn Kẽm- Đá Dừng". Thư An nói, anh ấy cũng bảo là số phận, số phận cho ảnh gặp con. Ba đừng mặc cảm với con kẻ thù.
Trời ơi! Con bé nói thế đấy. Chuyện lấy chồng ngoại quốc của nó đâu có phải bình thường. Ngày xưa đã có người lấy người Tây đến xâm lược Đông Dương; thằng Tây đi tìm thuộc địa, lấy chồng là thằng Tây. Mỹ đến miền Nam, đem hốt bạc đến đầu tư, con ta lấy chồng ngoại quốc là người Mỹ... Chồng nó, có cha đã chết trận trong cuộc chiến tranh này?
CHƯƠNG I
Thư nói, nàng không đi xe với vợ chồng con Thư An, mùi hôi hám Thư muốn quên đi mà không nổi, tự dưng lại đầy đọa nàng. Tận giờ phút này Thư muốn, con bé thôi thằng Ken, thằng Két đó đi. Không phải nàng lạc hậu, không dám mở cửa. Không thích học Anh ngữ, không muốn đi đó đi đây để hiểu cái đời cực khổ của mình, hy sinh là có giá. Nhưng nỗi đau khổ của nàng, không bao giờ, không lúc nào xoa dịu nổi. Nơi con sông Thu Bồn, ngoại nói, đó là nước mắt của người yêu nhau, hóa thân, muốn quẹo lại tìm người mình yêu mà không nổi... Ngoại nói... Lúc nào Thư cũng mượn lời của Ngoại ra để dẫn cho cái lý của nàng là đúng. Ngoại, bao bọc một đời khổ cực mà nàng gánh chịu... nàng bảo, muốn quên đi, xếp lại quá khứ.... Vậy mà con nhỏ này... Ai bảo nó dẫn về cái thằng mất dịch... Thư không bao giờ đi xe chung với chúng... nàng bảo, cái mùi Mỹ này rất kinh dị.
Trong cuộc đời nàng đã rũ bỏ đi, ý nghĩ và mọi tưởng tượng. Những năm tháng Thư phải chịu đựng sự tủi nhục chưa đủ hay sao? Trong trái tim của Thư càng già càng vơi đi sự oán giận má. Con mà oỏn giận cha mẹ là điều bất hiếu. Nhưng với má, Thư đã nhiều lần phải dấu đi những giọt nước mắt hờn tủi. Đi trường thì phải chịu hai luồng dè bỉu. Con nhà tử tế thì cứ đè: Ơi! Con Thư con của thằng đi theo Mỹ. Ăn đồ hộp của thằng Mỹ hèn chi mà đẹp.
Bọn con nhà lính Cộng hòa thì dựt cặp, túm tóc mà la: - Bay ơi! cha của hắn bị còng tay chân đưa Côn Đảo, ngồi với nó sợ bị lây bệnh sởi Việt Cộng đó nghen.
Thư không chịu ăn uống, đòi má phải nói cho Thư nghe, ba hiện giờ ở đâu. Ngoại tắm giặt, gội đầu dính đầy bùn đất cho Thư, nghẹn ngào khóc mà vỗ về, an ủi.
- Cha bay và mẹ bay người ta kêu cho đi tập kết, không chi thì đã ở ngoài Bắc, được ăn sung mặc sướng, được đi học không phải chịu ngọn đèn đỏ treo ở đầu nhà. Nhưng vì má con về ông ngoại bên Quế Sơn sanh mày mà trật lất chuyến đò ở sông Ly Ly. Thằng Châu ngày xưa nó đi tú tài trên tỉnh- ở Hội An, để mắt tới má bay. Nó đón đường, cha bay bị nó hót đưa Quảng Trị không đi thấu được ra ngòai Bắc. Má bay không tệ bạc như tụi con nhà mắc dịch nó nói đâu. Cũng vì thời thế má con phải nhận lời lấy thằng Châu. Không lấy, cái mạng bay rồi đời. Ông Diệm đưa máy chém và cho bọn cán bộ đi đào gốc, chặt rễ cùng làng khắp ngõ. Làm sao mà thoát thân. Phận con, đừng làm khổ ba mẹ nghe con. Trời có sáng rồi có tối. Hết tối rồi có lúc sáng. Con không yêu quý gì thằng Châu thì ngoại cũng không bắt ép. Nhưng ráng mà chịu. Làm chi thì cũng chạy qua hàng chữ, có lúc dùng đến nó. Ngoại già rồi, không chống nổi người ta. Nhưng mà ngoại không để cho con ở với nhà Châu lâu đâu.
Bé Ly Ly ra đời. Niềm vui của cả gia đình. Ngoại thì lau nước mắt và nựng:
- Ôi ! Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Con nhỏ xinh ơi là xinh. Nó giống má bay không chê được. Thư thấy mình như bị bỏ rơi từ hồi nào.
Cả thành phố Đà Nẵng như một công trường khổng lồ. Người Mỹ ồ ạt đổ quân xuống sân bay Đà Nẵng, rồi phố xá. Cái phố nhỏ tun hủn vì có người Mỹ nghênh ngang đi lại ngoài đường mà chặt chội hơn. Người mình cũng nhỏ bé, nom thật tội .
Thư thật ngỡ ngàng khi nhìn thấy ông Mỹ xuất hiện trong lớp học. Thầy và cô của Thư thật nhỏ bé và tội nghịêp. Đi sau ông Mỹ là những người bé con cương lên, mong với tới mà không tới. Thư nhận ra ánh mắt cam chịu của người lớn và cái nhìn bố thí khinh khi từ trong con mắt xanh lơ như mắt mèo.
Dượng Châu làm việc cho người giàu, được họ cho của nên ăn mặc, áo quần cũng xênh xang. Châu lại tài ăn nói Pháp ngữ từ thời Pháp, biết một chút tiếng Anh nữa thành ra có dịp tiếp xúc với người Mỹ. Họ đã đến cái tổ ấm của nhà Thư. Bàn tay của người Mỹ đã bẹo vào cặp má ngây thơ của Thư. Má run rẩy mỗi lần dượng Châu đưa họ về nhà. Nhưng biết làm sao được, dượng Châu trên danh nghĩa là người bảo lãnh hợp pháp của cả nhà này.
Em Ly Ly ra đời, đằng nào nó cũng là em của Thư. Nó do má sinh ra chứ đâu phải con nuôi con đồ...Có lần Thư thấy má và ngoại thì thào chuyện chi hệ trọng lắm. Có phải chuyện học hành của Thư, hay chuyện bà ngoại và mẹ có điều không vừa lòng nhau. Đêm đó ngoại ôm Thư vào lòng. Ngoại dặn, Thư ráng chịu. Ngoại về quê ở dưới Gò Nổi, rồi ngoại sang bên Quế Sơn xem ở bển còn ai là bạn của ba không. Kiếm được thì ngoại đưa Thư về đó. Bà ngoại sợ, cháu của bà mỗi ngày mỗi lớn. Mà Đà Nẵng người ngoại quốc vào mỗi ngày một nhiều. Ngoại sợ mất cháu cưng của bà. Thư rúc vào người bà, tìm mùi thơm của cốt trầu. Thư đưa tay sờ mặt của ngoại. Thư thương ngoại nhiều lắm. Thư không có phép chi để bảo vệ cho ngoại khỏi khó nhọc tuổi già. Nhưng ngoại đi rồi, má và Thư lại phải chăm bé Ly Ly, lấy ai lo được đồ nhậu mỗi khi dượng Châu đưa bạn về. Ngoại bảo, trẻ con không được nghĩ nhiều, sẽ chóng già lắm đó.
Sáng ngày, ngoại nói với dượng Châu, có người ở quê ông nhắn lên. Mồ mả người ta đang hô dẹp đi để làm bốt làm đồn. Người ta kéo pháo về xây dựng căn cứ chi dồn rẹp dữ. Dượng nói, người ta làm căn cứ quân sự. Dượng không muốn ngoại về lúc này. Dượng bận chỉnh huấn, chỉnh quân học tập việc hiện đại nhà binh. Ngoại về, tình hình ở dưới đó không ổn lắm. Má nói, người già ở đâu người ta cũng không chấp, huống chi ngoại sắp xuống mồ. Ai phí viên đạn làm chi. Xong việc ngoại lên với sắp nhỏ. Thư biết ngoại nói dối. Ngoại về dưới đó tìm bạn của ba, ngoại đang nghĩ cách đưa Thư về bưng. Trong đám học sinh cùng lớp, có cha tụi nó đeo lon của quân đội, kháo nhau về sự nguy hiểm mỗi lần hành quân về nông thôn. Về người của Việt Cộng nằm vùng. Về chuyện sảy ra chết chóc như cơm bữa ở bưng biền. Không hiểu sao nghe được điều đó, Thư thấy gai lạnh khắp cả sống lưng. Thư thoáng nhận ra, mình cũng có ao ước được thoát khỏi trường học này. Bây giờ ngoại về dưới đó. Thư dào lên niềm hy vọng. Thư ôm lấy ngoại mà miệng lại muốn khóc.
- Ngoại ơi! Về rồi mau quay lại với bé Ly Ly, ngoại à!
Bé Ly Ly thấy có người nhắc đến tên mình thì toét miệng ra cười. Lúc này, Thư chưa hình dung ra, sau này chị em Thư có bao điều mâu thuẫn. Bao điều không thể nào hòa hợp được. Ly Ly không ác độc gì với chị cùng mẹ khác cha của mình. Nhưng Ly Ly lại có niềm hoài bão khác. Ly Ly làm cho trái tim Thư có lúc trỗi dậy sự thù hằn, sự thù hằn lầm lạc, khổ đau mà má gây ra. Má phải gánh chịu, âm thầm khấp khoải trước lúc nhắm mắt lìa khỏi cõi đời. Nhưng đâu phải riêng gì má, cả ngoại, Thư và ba ở trong song sắt nhà tù Côn Đảo, người có đón nhận được tin dữ này không. Vợ mình đã kết hôn với thằng bạn cùng học. Ba từng lao vào đánh một tên lính dõng say rượu ở phố Hội An để cứu dượng Châu. Không hiểu nguyên cớ chi mà thằng lính đó cứ túm lấy ngực áo của Châu mà lôi đi. Có lẽ hắn nhầm hay sao, một khuôn mặt khác, một người khác đã gây cho hắn nỗi thù hằn. Ba đã lao vào đánh lại, kéo Châu ra. Ba bị bắt nhốt vào nhà lao vì hành hung nhà chức trách. Châu trốn học, chạy về van lạy cha mình bỏ tiền bạc lo lót cho Hoan ra tù. Ba cũng bỏ học đi theo người kháng chiến. Từ dạo ấy, hai người đi theo hai ngã đường. Nhưng họ gặp nhau ở người đàn bà đẹp. Họ đã yêu má của Thư. Cô gái có tên là Nhàn, thế mà cuộc đời cực chi là cực . Phải qua hai lần đò. Một lần lấy người đi kháng chiến và một lần lấy kẻ theo ông Diệm chống lại lý tưởng của người chồng cũ. Người chiếm đoạt được trái tim của má là người đi kháng chiến. Ngoại về vùng quê của mình khai hội. Ba là người đứng gác trong đêm ra mắt chính quyền cách mạng. Xanh xao mà nghiêm cẩn, không hề nháy mắt nhìn xuống đàn bà con gái đang xô nhau, cười rinh rích, thật quyến rũ. Nhưng rồi sự việc sảy ra, chỉ vì không đón được mẹ con của Thư để đưa đi tập kết. Lỡ mất chuyến đò ở bến Ly Ly...Sau này thì Thư biết được đó là lý tưởng của cha mình và dượng Châu hoàn toàn khác nhau. Dù dượng vẫn luôn miệng thề bồi trâng tráo, rằng việc lấy má con là trả cái ơn cứu mạng cho Châu năm còn học ở Hội An. Tuy gia cảnh của mỗi người có khác nhau, nhưng họ gặp nhau trước sự quyến rũ của má Nhàn con...Thư chưa biết được hết sự vận hành của các ông lớn ngồi tận Washington, tận Sài Gòn. Không biết được sự áp phe chính trị và kinh tế. Trong trái tim ngây thơ của Thư thấm đẫm câu chuyện của ngoại, ký ức không mấy tốt đẹp về tiếng nghiến của gót sắt giầy đinh trên đương phố Đà Nẵng đêm đêm. Cái nhìn ngơ ngác của Thư, ánh mắt mèo xanh dễ sợ xoáy vào tâm hồn non nớt.
Bà ngoại ra đi. Dượng Châu đeo lon trung úy hành quân.
Em Ly Ly đẹp lắm. Em là công chúa của nhà này rồi.
Thư đã chờ đợi ngoại suốt cả mùa đông dài. Đà Nẵng năm ấy lạnh nhiều. Tiếng hú của con tàu Mỹ vào bán đảo Sơn Trà. Học sinh dù rét cũng phải xếp hàng đón tổng thống Việt Nam cộng hòa tới thăm trường. Cô giáo người ngoài Bắc nói giọng lơ lớ, đẩy Thư xuống cuối hàng, không hiểu là Thư năm cuối tiểu học lớn vổng lên, hay do má thương sự mất mát mà âm thầm đắp cho trái tim sớm cô đơn của nàng sức sống ấy. Sau này, khi xa má Thư thương má, thương lúc đau khổ hay rên rẩm kêu ngoại, cũng giành phần gọi má khe khẽ. Ban đầu thì còn ngượng nghịu nhưng rồi trái tim cứ mở rộng, sự bao dung ban cho Thư được tình yêu ấy.
Thư nghe người ta thuyết giáo về sự cần thiết phải lập một nền cộng hòa. Về sức mạnh của ông Mỹ. Về sự ngoan cố của Bắc Việt. Về người kháng chiến đưa nhau lên rừng xanh chống lại Việt Nam cộng hoà. Dượng Châu nói đừng hòng mà đặt chân lên đất này... Thư thầm cảm ơn cô giáo ngoài Bắc đã đẩy Thư xuống cuối hàng. Thư nhận ra sự dòm dỏ của con mấy nhà có cha làm bự. Và ánh mắt xanh lơ ở đâu đó, muốn loại Thư ra khỏi cộng đồng thân thiện nầy. Có lúc dượng Châu vui đùa cùng chị em Thư, Thư cũng hỏi đôi điều về ba mong cải thiện quan hệ. Dượng cũng nói cho Thư nghe, Thư biết là dượng muốn giảng giải cho má nghe là chính.
Sức mạnh của người Mỹ thật là vô địch. Họ đưa cố vấn và quân đội vào Việt Nam đâu chỉ bảo vệ cho mảnh đất nghèo khổ này. Mà bảo vệ an ninh cho cả thế giới. Dượng lấy điều tiếc, không vì mấy sấp nhỏ đi Hawai một lớp đào tạo cấp tốc...
Thư nói, mùa đông năm ấy thật dài. Chờ ba Hoan thì không có hy vọng gì rồi. Ba ở ngoài đó, chắc không có phép tiên mà trở về. Không chắc ba có biết được tình cảnh của má và mình. Thư hy vọng vào sự xuất hiện của ngoại, nhưng ngoại không để lại một lời nhắn nhe nào. Đêm đêm đèn pha chiếu sáng rực cả bầu trời Đà Nẵng .Máy bay lên xuống các căn cứ quân sự của Mỹ nườm nượp. Sự thật thì Mỹ đổ quân vào miền nam rồi. Trên đài và báo nói sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Đà Nẵng, Chu Lai là sự thân thiện nhằm vãn hồi nền cộng hòa sau bao nhiêu thăng trầm kể từ ngày đảo chính ông Diệm. Thật ra thì bạn của dượng Châu mỗi khi bàn bạc với nhau cũng không hề giữ gìn sự xuất hiện của má và Thư. Thư giật mình khi nhận ra, từ hồi nào má trở nên trầm lặng, dường như ít quan tâm về thế sự ở trên đời , chỉ quẩn quanh với nội trợ, chăm lo cho Thư sách vở, ăn mặc, không tỏ ra dăn dạy về giáo lý, đạo làm người. Khi lớn lên một chút Thư cảm nhận được sự nghẹn ngào trong trái tim của má. Nếu không có sự đau khổ ấy thì má là người tuyệt vời. Cái dáng nhẹ nhàng, nét mặt trầm buồn ấy làm cho người tiếp chuyện phải nể nang, kính trọng. Có lần ngoại đã nói, trong số con cái của ngoại, má là đứa ông ngoại hy vọng, vậy mà cái đời lại đa đoan. Chồng con lại lỡ cỡ một nửa nọ nửa kia. Bà lại tặc lưỡi cái rụp. Nhưng mà cái nước mình nó khổ. Kể chiến tranh liên miên, không ít người chịu cảnh chia lìa. Ngoại nói, từ khi sinh ra làm người, ngoại chứng kiến cảnh chém giết có một không hai. Thời đánh Pháp cũng chưa lần nào cái chết tàn khốc đến vậy. Bom đạn có đấy, nhưng chưa bao giờ có sự đốt phá, mạng con người như cỏ rả. Vùng Quế Sơn quê ông ngoại bom đạn rầm trời. Sang Hòn Tàu, núi Chúa, núi Quế, dọc theo An Hòa, Đức Dục, Kiểm Lâm... đâu đâu cũng pháo dập nát nhừ đất đai. Thuở trước ngoại sang Gò Nổi, mua lụa đóng hàng chuyến đưa xe vào Sài Gòn. Nườm nượp người trên bộ, dưới sông đò dọc, bè xuôi, chở củi về Cửa Đại, Hội An, về Kỳ Hà, chở cá mú ngược lên Thu Bồn, Vu Gia... Bây giờ cả một vùng vắng hiu. Không đào đâu ra tiếng cười. Người mình chết hết rồi hay sao, mà để cho bọn đầu trâu mặt ngựa ma quỹ nổi lên đội lốt người, hoành hoành... Bà ngoại nói, ước gì cậu mầy còn sống. Bà nói cậu ba bỏ nhà ra đi từ hôm đưa má con Thư đi gặp ba hụt... Bao giờ ngoại cũng nói lối, làm cho giấc ngủ của Thư thêm dư vị ngọt ngào, những câu chuyện do ông của ngoại kể lại, làm cho Thư thêm yêu, thèm khát vùng quê máu lửa của mình.
Thư rất muốn bỏ học, muốn rời khỏi Đà Nẵng, nhưng đi đâu thì chưa hề biết, nếu phải xa má, chắc là sẽ thương má nhiều hơn. Thư thương cái Ly Ly hơn. Em của Thư dường như cảm nhận được ý nghĩ thầm kín của chị mà cứ ôm dịt lấy mỗi khi đến giờ ngủ.
Thư rất sợ ngoại không trở lại Đà Nẵng .
Dượng Châu nói, ở Quế Sơn, Chu Lai và An Hòa đang đựơc Mỹ xây dựng thành căn cứ quân sự liên hợp. Ngoại về đó mà chi. Thời buổi rối ren này. Má bảo, ngồi ở trên này không có việc nên má buồn. Vả lại họ đòi cày ủi phần mộ của ông bà tổ tiên đi để lập ấp, xây bốt, má không về sao được. Dượng Châu nói, bây giờ người ta mà phát hiện ra có người tiếp tay cho Việt Cộng là họ có thể bắn bỏ không cần tra xét.
Câu chuyện dượng kể về mụ Cả Độ ở Tam Kỳ làm Thư giật mình thon thót. Mỹ vô Chu Lai là mụ làm thân liền. Chả là mụ có chân trong hội đồng tỉnh. Đi họp có xe đưa xe đón. Mụ đeo khẩu súng lục lủng lẳng trước bộ ngực đồ sộ. Người ta nói, mụ và thằng con út của mụ ép cho ông chồng phát bực mà tự vẫn. Chồng mụ, là người kháng chiến cũ, không đi tập kết. Mụ ngăn không cho ổng đi. Còn ép đi khai báo nhà có người đi tập kết, có người đi kháng chiến cũ. Thằng con đầu vào quân chính quy, học Mỹ về đeo ngay lon thiếu tá. Đi đâu có cả đại đội theo bảo vệ. Thằng con út là Liên trung trưởng của Kỳ Xuân. Hắn bắt được du kích mật mổ bụng lấy gan ra bắt lính nhắm rượu. Chính mụ Cả Độ ngồi uống rượu cùng tụi lính Bảo An và địa phương quân. Mụ nói, đứa nào mà không uống rượu với gan của Việt cộng coi như còn ăn ở hai lòng. Căn cứ Chu Lai mở ra, một hai tháng sau, mụ và tên tỉnh trưởng Nguyễn Hữu Thu vào thăm uý lạo binh sỹ. Sau này thì một mình mụ có thể vào ra như cơm bữa. Mụ thầu tòan bộ rác thải của tụi Mỹ và bán lại cho người khác với giá hời, nên chẳng mấy chốc mà giàu .
Mụ gây ra nhiều tội ác nên rất sợ Việt Cộng trả thù. Mụ chỉ điểm săm hầm, làm chết hàng trung đội nằm hầm bí mật, ém quân chờ đêm đến là thâm nhập vào Chu Lai. Mụ Độ cho xây dựng nhà của mình thành pháo đài phòng thủ có một không hai. Xung quanh mụ cho chở tre pheo từ mạn Duy Xuyên, Đại Lộc về trồng dày hàng mét. Phân đạm Urê trong kế hoạch an sinh của Chính phủ, nhưng mụ không phát cho dân trong ấp. Mụ nói, ăn gạo viện trợ nó sướng, cần chi mấy hạt lúa còi cọc cho nó sâu răng. Mụ cho chở phân đạm về xếp xung quanh thành hàng rào chống B40. Mụ cho đào hào xung quanh và rào sáu bảy lượt dây thép gai. Mụ chống háng tuyên bố: Việt cộng không có máy bay ném bom hủy diệt. Không làm gì được mụ.
Dượng Châu nghe mà rầu ruột, không phải Dượng căm thù chi mụ Cả Đợi. Dượng sợ nhứt là đứa con gái út nhà mụ,theo đuổi dượng từ hồi xửa hồi xưa. Nhà mụ Độ sắm cho nó cả sập hàng trên Hội An. Có lần gặp Châu đi ăn hàng đã úp mở, hắn mà định lấy ai người ấy không chạy thoát. Dượng Châu sợ mẹ con mụ xuất hiện ở Đà Nẵng, tổ ấm của dượng sẽ bị đe dọa.
Thư nhận ra vẻ lo sợ nơi nét mặt của má mỗi khi nghe chuyện của đám bạn của dượng. Thư còn sợ một điều nữa, ngoại mà không quay lại Đà Nẵng, Thư biết nương tựa vào ai. Mai kia dượng Châu phải mở những đợt hành quân trấn áp vùng vành đai xung quanh Đà Nẵng.
Thấp thoáng trong nhà trường có lời kêu gọi, cổ võ động viên thanh niên ra xa trường, chiến đấu vì tổ quốc. Thư sợ phải đến các căn cứ quân sự của Mỹ hát những bài hát giật gân cho tụi chúng nghe. Mơ hồ, Thư nhìn thấy đâu đó những cặp mắt xanh lơ thôi miên của con mèo, đùa với bé Ly Ly.
Ngày động trời sảy ra với má con nhà Nhàn, mụ Cả Độ cho xe đỗ xịch trước căn nhà dài dành cho trại lính. Có phải người khác mà được vị hội đồng tỉnh viếng thăm là một vinh hạnh. Nhưng với mẹ con Thư thì đó là đại họa. Mụ đeo lủng lẳng khẩu súng lục như chiếc đùi lợn, lọt giữa cặp vú đồ sộ chực thoát ra ngòai chiếc xu chiêng mỏng mảnh nhớt nhèo. Đi theo mụ là con "Mỹ giả" mập ú, mặt trát bự phấn, chân chưa chạm đất đã tuôn ra lời nhỏng nhẽo.
- Ang... Châu ơi! Anh đưa con nhỏ Nhàn về tá túc ở Đà Nẵng lâu vậy mà kín miệng quá da!
- Chu... Cha!... Ai như giọng cô Năm Xuân nghe quen mà lâu không gặp vẫn nhớ dễ sợ!- Dượng Châu không dấu nỗi sợ hãi về chuyến viếng thăm của mẹ con mụ Độ.
- Thôi khỏi cần xã giao... Bữa ni được nghỉ họp mẹ con tui vô thăm người bà con, dễ lâu rồi... nghe nói cậu làm ăn tấn tới... Bộ quên vùng Trường Giang mình rồi sao. Mụ muốn nhắc chuyện xưa kia ba Hoan của Thư làm xeo lưới thuê cho mụ. Mụ muốn nhắc bà ngoại có dạo được chồng mụ để ý, muốn bỏ mụ mà đi khỏi làng. Bất cứ chuyện gì không ưng trong mắt mụ cũng trở thành hận thù. Mụ nhìn thấy má, con vợ của cha Hoan mà thoắt chốc thành vợ của cậu tú Châu, một dạo cô Năm Xuân theo đuổi. Vì yêu cậu tú Châu, cha có hàng vài chục ghe thuyền buôn chuyến từ Hội An lên mạn ngược. Con gái mụ mà không đậu cũng tại thời thế, lại do loại cứng đầu, dửng mỡ yêu đương theo tư tưởng của bọn phiến lọan.
Mụ Độ bảo, lâu không được chuyện trò cùng con vợ thằng Hoan, không được thử tài gia chánh nội trợ của tụi bay. Nhất là món rau Phố, thôi thì chiều qua. Mọi hận thù của quá khứ xếp lại mà lo cho vận mệnh của quốc gia. Bây giờ mụ có chân trong hội đồng tỉnh. Ông Mỹ và ông Chính phủ rất muốn mụ cái chân lãnh đạo phụ nữ tỉnh mình. Mụ cũng muốn đứng ra đảm nhận nhưng thiếu người giúp việc. Năm Xuân là đứa ham chơi, đường tình duyên lại không mấy thuận. Chi bằng cậu Châu chuyển vùng về Chu Lai, là nơi quen cũ. ở đó cần những người có học lực và hạnh kiểm như Châu. Không dấu diếm gì, mấy con tụi nhỏ do Độ này sinh ra bị hụt một bộ phận chi đó mà không được sáng dạ. Người ta sai khiến thiên hạ chớ không phải làm thay, hầu hạ cho đám dân vô lại.... Mụ nói huyên thuyên, chân bắt chéo, cái váy toác ra phô cặp đùi béo núc. Mụ cười chống chế, bây giờ mấy người làm việc với nước ngòai, ăn mặc cũng phải cải thiện. Người ta thì giày dớ, bộ mình đi chân đất. Lại mặc đồ nhuộm quả trám thâm sì, khăn rằn trông thật quê. Tức cái cha mẹ không dư dật gì để đi học thêm chút ngoại ngữ.
Năm Xuân thì hết ngó trân trân vào mặt má lại sờ vào mặt Thư. Hỏi Thư học hành ra sao. Hỏi Thư có ưng làm tiếp viên cho tiệm của thị. Dượng Châu lúng túng hầu cơm rượu. Những chuyện kể về mụ và các con đã loang ra khắp bọn lính tráng. Chuyện mụ ra vào dinh tỉnh trưởng như cơm bữa. Mụ còn cặp bồ với tên Mỹ da đen vừa chân ướt chân ráo đổ bộ lên cảng Chu Lai. Chuyện hốt bạc của mẹ con mụ vì thầu được đồ thải của Mỹ. Xây hẳn một khu trại nổi " Bất khả chiến bại" cho quân bố phòng bảo vệ. Không khéo chiều ý mụ thì số phận và con đường tiến thân của Châu cũng khó bề được an tòan. Mụ có thể nhân chuyện lấy vợ của Việt Cộng mà nói với cấp trên đầy đi vùng đang có chiến sự. Chết nữa mụ ghép cho phải hầu hạ, lên giường cùng Năm Xuân, coi như rồi đời. Nghĩ đường tới, đường lui không nổi, đành ậm ừ, nuốt đắng vào trong ruột.
- Dì ơi! không mấy dịp dì qua nhà.... Mà lại không chu đáo xin dì lượng thứ cho.
- Anh Châu lại khách sáo rồi! - Mẹ con em là người thấy sang bắt quàng làm họ chớ! - Năm Xuân nhìn thấy vẻ lúng túng của Châu tỏ ra cởi mở.
- Là có chuyện nầy...Bữa rồi họp Hội đồng. Ông Tỉnh trưởng có nói chuyện cái đám xã Nguyễn Chỉ nó gây loạn xin chia tách xã ra để khỏi sự ảnh hưởng của chính quyền. ổng nói về chuyện ông già nhà này không đi tập kết, rồi không tiến kịp xu hướng và thời thế mà tự vẫn. Lại chuyện bạn bè chi đó ông già vợ của cậu. Nói là tiếc cho ông có học hành mà không tỉnh ngộ, tin vào tuyên truyền của Việt Minh mà chống lại chính phủ mình. Không hiểu ai mách chuyện mà ông ấy có nhắc tới cậu. Dì mới nói, kể tốt duyên thì con nhỏ nhà này đã nên vợ nên chồng với thằng Châu. ổng cũng quyến luyến muốn ngó đến sự tiến bộ của cậu. Dì có nói, ở dưới mình cũng cần người xốt sắng tuổi trẻ làm phận sự....
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 24.01.2009 theo nguyên bản của tác giả từ Thanh Hóa .
VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM KHI TRÍCH ĐĂNG LẠI
|