I -
Ngày này của những năm về trước, nếu bạn lang thang trên những phố phường hay một góc làng quê nào đó của Việt Nam hẳn đôi lúc bạn phải giật bắn mình khi nghe thấy tiếng nổ chát chúa bên tai, hoặc ngay trên đỉnh đầu. Để rồi, trong lúc còn đang ngơ ngác chưa kịp nhận ra lũ trẻ đang tụ tập ở một xó xỉnh nào đó, khúc khích cười, thì những xác pháo hồng tươi như những cánh đào xuân đã lả tả rụng xuống mặt đường nhơm nhớp nước. Và những làn khói pháo xanh biếc đang lơ lửng trong không trung sẽ tan, biến, lan, tỏa, xộc vào cánh mũi bạn, râm ran... Cảm được cái không khí đó hẳn bạn sẽ lắc đầu, mỉm cười, thầm trách mình về sự cáu giận vô lý trước những trò tinh nghịch của lũ trẻ - những vị thiên sứ của mùa xuân.
II -
Xuân của Việt Nam bao giờ cũng đẹp, tấp nập và ấm cúng hơn bao giờ hết. Ai đó nhận xét như vậy (có thái quá chăng?), nhưng quả tình là thế. Nếu không tin, tôi sẽ cho bạn mượn chiếc xe đạp Thống Nhất "đểu" không phanh, không chuông, không gác - đờ - bu, cũng chẳng gác - đờ - sen, và hai pê-đan cũng chỉ còn trơ lại hai trục sắt nhọn hoắt như đầu bút chì, để cùng tôi... dạo phố. Nhưng trước khi nhảy lên chiếc xe "đểu" đó, bạn hãy vui lòng xắn hai ống quần cao ngang đầu gối, và lúc đạp xe hãy thật… thong thả. Quan trọng hơn là chớ có gò lưng ôm lấy ghi đông xe mà... gặp hạn.
III -
Nói đến phố tôi, cũng nên sơ qua đôi chút về tiểu sử của nó. Lũ bạn thời phổ thông với tôi đặt cho nó cái tên nghe rất dễ thương: Đường Kẹo Lạc. Chả là nó được hình thành trong những ngày Mỹ đánh phá ác liệt ra miền Bắc. Khởi thổ là một con đường đất, sỏi, gồ ghề như sống trâu, và khá hẹp. Bù lại hai ven đường là hai dãy bàng cổ thụ, xanh rờn, luôn tỏa bóng mát che cho con đường vào những tháng hè oi ả. Thế rồi trong một ngày hè đổ lửa, người ta đã huy động rầm rầm tới mười mấy xe Công Nông trở tới những tảng đá to gấp đôi đầu người lớn, đổ rầm rầm trên cả đoạn đường dài gần 3 cây số. Kế đó là các bà phần lớn đã ngoại tứ tuần, đầu quấn khăn đủ màu, chỉ lộ ra hai con mắt thao láo, cùng búa lớn, búa nhỏ, chia nhau hì hục đập đá, rải đều trên khắp đoạn đường. Một chiếc xe lu hai tấn của Trung Quốc, cả ba bánh đã nứt hoác, nham nhở, ì ì bò tới, chà đi chà lại đôi lần để lấy độ lì cơ bản. Đâu vào đó, cũng lại các bà hò nhau vần những thùng phuy nhựa đường, rồi cứ bốn bà phụ trách một đoạn, đun cho nhựa nóng chảy, kế đó huy động đủ những xô, chậu... thay nhau múc nhựa, đổ đều lên mặt đường và dùng những chiếc vồ đập đất, gạt cho nhựa trôi vào khe đá... Ròng rã tới cả hai năm trời con đường mới được hoàn thành. Bữa cắt băng khánh thành có tặng hoa, có pháo nổ và những tràng pháo tay dậy đất. Ông bí thư đảng ủy khu phố trong niềm hân hoan vô bờ bến, hỉ hả tuyên bố: Đây mới chỉ là bước khởi điểm của công cuộc xây dựng CNXH mà thôi. Ông bảo: Rất có thể đêm nay, ngày mai hoặc một ngày không xa, công trình XHCN này sẽ bị san bằng bởi đạn bom của Mỹ, Ngụy, nhưng với niềm tin tưởng vào tương lai do đảng và bác Hồ lãnh đạo - ông dừng lời, chớp mắt, vẻ xúc động:
Giặc Mỹ phá thì ta xây lại
Lấp hố bom mà dựng nhà cao
Dứt lời, ông bí thư tự thưởng bằng một tràng pháo tay giòn giã, báo hại cả phố phải rầm rầm vỗ theo. Vì "đường kẹo lạc" được làm bằng những phương tiện khá thô sơ, nguyên liệu thiếu thốn, thành thử mới trải qua hơn mùa mưa nắng, nhựa, đá, đã thay nhau tróc đi từng mảng. Đã vậy dân tình hai dãy phố mỗi khi cần nhựa đường, đêm đến lại vác cuốc, thuổng, xà beng rồi tìm những đoạn có nhiều nhựa, thi nhau đào bới. Cũng vì thế "đường kẹo lạc" càng trở nên lồi lõm, nham nhở.
Những ngày đầu, để đảm bảo mỹ quan đường phố, một đội Bảo Dưỡng Đường Bộ toàn các bà được phái đến cùng những thùng sắt tây nhựa đường và đá củ đậu. Họ thay nhau dặm lại những chỗ bị tróc lở. Nhựa cũ, nhựa mới trong lấp loáng ánh mai trông chẳng khác lưng đám lợn lang. Nhưng thiên nhiên vốn ít khi ưu đãi lòng người, thành thử chỗ nọ vừa sửa lại chỗ kia lại lở đi từng mảng. Chẳng biết vì nản hay vì hết nguyên liệu mà đội Bảo Dưỡng cũng biệt tăm luôn. Thấy dân tình ta thán, ông bí thư khu phố triệu tập cuộc họp bất thường. Ông tuyên bố: Công cuộc xây dựng XHCN của dân tộc ta còn phải trải qua nhiều gian khổ, vả lại nhiệm vụ quan trọng trước mắt của đảng và bác Hồ là dồn toàn tâm, toàn lực để giải phóng đồng bào miền Nam thân yêu thoát khỏi bàn tay của chủ nghĩa thực dân kiểu mới và bè lũ tay sai bán nước… Chờ đến khi Mỹ cút, ngụy nhào, lúc đó thì "đường ta rộng thênh thang tám thước", e rằng chỉ còn là một cái hỉ mũi của bác Hồ mà thôi... Đáng tiếc dân phố tôi không có diễm phúc để hưởng cái "hỉ mũi" đó. Sau này, có người nhắc lại chuyện cũ với ông bí thư, ông chỉ cười trừ, chống chế: Chuyện này cũng tại Bác "thăng" sớm, chứ không dăm bảy cái hỉ mũi của Bác có đáng là gì...
IV -
Tôi xa nhà đã mười mấy năm, nhân gặp lại một người quen, anh là nhà văn, trước đây đã từng lên giảng dạy trong một trường quân đội, cách phố tôi chừng 10km. Trong cuộc hàn huyên, tao ngộ, anh vỗ vai tôi bảo: Nghe nói cách đây vài năm có một đoàn làm phim của Trung ương lên lấy cảnh phố chú nhiều lắm. Nghĩ anh đùa, tôi bảo: Phố em là phố "chị Dậu", có chó gì mà ghi cảnh? Anh cười bảo: Chú đừng đùa! Tay đạo diễn đoàn làm phim đó bảo phố chú có nhiều nét giống hệt Khâm Thiên của Hà Nội trong những ngày bị B52 Mỹ hủy diệt. Nghe anh khen tôi bỗng nhớ đến lời thủ thỉ của cô bạn gái thời trung học, nhân một giờ giải lao: Xuống nhà bạn, mình thích nhất là được đi bộ. Được khen, tôi tít mắt cười. Cô bạn cũng tủm tỉm nói tiếp: Vì mỗi lần dắt xe đạp trở về, mẹ mình phải cầm rá nhựa, lọ mọ nhặt ốc lồng xe đạp từ cổng nhặt vào. Thì ra cô bạn gái khen ngược, còn tôi lại tưởng thật. Có lẽ vì thế năm nào Tết đến, lũ bạn cùng lớp sau khi đã đi đủ "ba làng 7 chợ" chúng mới chịu tới "xông đất" nhà tôi vào giai đoạn... cuối. Có đứa còn oang oang từ cổng: Xông đất nhà ông xong, tụi tôi về "mông má" lại xe cộ, đến trường là vừa. Tôi cay lắm, nhưng đành nuốt bồ hòn làm ngọt. Nhưng đó là chuyện xưa, còn lần này tôi biết anh bạn tôi không hề khen "đểu", và lẽ ra tôi phải mừng mới phải, dù gì phố tôi cũng mang được đôi chút dáng nét, cho dù là điêu tàn của một phố cổ Hà Nội. Nghĩ vậy nhưng chẳng hiểu sao lòng tôi vẫn cứ chùng xuống. Hòa bình đã mấy chục năm mà phố tôi mới chỉ mang được dáng vẻ một đường phố Hà Nội trong những tháng ngày đổ nát của hơn 20 năm về trước. Thực sự tôi buồn. Có lẽ đây cũng là nguyên nhân mà tiếng là phố tôi, nhưng dân trong phố chả ai bảo ai, hễ có việc đi đâu lại lặng lẽ dắt xe đạp qua một con dốc nhỏ, sang con đường nhựa đối diện mới nhảy lên xe, đạp đi mọi nơi. Nếu có ai tò mò hỏi, mọi người chỉ cười trừ bảo: Tuy cùng họ "kẹo lạc" nhưng "kẹo lạc" Tây vẫn chuẩn hơn. Chả là con đường đó vốn do Pháp xây dựng...
V -
Những ngày giáp Tết phố tôi cũng tấp nập và tươi tắn hẳn lên, bởi cây cối, vỉa hè hai ven đường đều được phủ lên một lớp vôi trắng toát, cộng thêm dân tình ven phố, nhà nào nhà nấy đua nhau vôi ve, "mông má" lại những bức tường quanh năm tróc ố vì mưa gió. Phố xá sáng choang.
Mẹ tôi cũng như bao năm, lại tất bật nhất nhà. Ngay từ 20 Tết đã thấy bà ngồi nhẩm tính những món ăn, cùng những khoản chi tiêu trong mấy ngày Tết. Món khó quên nhất, đầu tiên tôi phải kể là: dưa hành và dưa cải bẹ. Món này mẹ tôi muối trước Tết cả tháng và được nén rất kỹ trong hai cái vại sành. Gặp những năm trời nồm, dưa chín sớm, mấy chị em tôi lén móc dưa ăn vụng với cơm. Tình cờ mẹ tôi xuống thăm hai vại dưa, thấy chúng vơi trông thấy. Chờ cả nhà cơm nước xong xuôi, mẹ tôi liền hỏi bà chị cả và người anh kế tôi. Thấy cả hai ấp úng, mẹ tôi bảo: Đồ mẹ làm chưa kịp tế lễ vậy mà dám móc ra ăn vụng. Con cái như vậy là mất nết. Bà chỉ nói có vậy, nhưng cả mấy chị em đứa nào cũng sợ xanh mặt. Những năm sau, mẹ tôi thường muối "sơ cua" cho chúng tôi một vại dưa nhỏ, để phá cỗ trước. Món thứ hai cũng phải kể đến là: món cá kho. Ao nhà sẵn có, cá thì đủ loại: Trắm, Trôi, Mè, Chép... vậy là chỉ trông hôm nào đẹp trời, nóng ấm là mấy cha con tôi chia nhau đánh cá. Tôi và ông anh kế thường xí phần mỗi anh em một cái gậy tre, lao xuống nước, miệng hò, tay khua, đập nước loạn xạ. Bố tôi ở trên bờ đặt trước một cái vó. Thằng út cùng chiếc vợt lưới nhỏ chạy lon ton phía sau, phục sẵn. Cá kho ăn Tết thường là cá mè trắng. Loại này thịt mềm, ít béo và dễ đánh nhất, bởi giống mè trắng vốn dĩ rất nhát, lại ăn nổi, và không chịu được bẩn, thành thử gặp động, nước đục là chúng hò nhau lao vào lưới. Có con dại dột đến mức nhẩy vọt lên bờ, nằm giãy đành đạch, hệt như ăn vạ. Trong vòng hai tiếng đồng hồ mấy cha con tôi đã có vài ba cân cá. Trên bờ, mẹ tôi và bà chị gái đã tranh thủ dao thớt. Đâu đó xong xuôi, mẹ tôi xắt từng khúc, xếp vào một phên tre tươi, đan mắt cáo, do bố tôi đan sẵn. Một chậu than củi hồng lửa được nhóm sẵn ngay dưới gốc nhãn già. Chỉ một lát sau, mỡ cá gặp lửa, chảy xuống lèo xèo, thơm lừng. Khi da cá đã vàng rộm, mẹ tôi gỡ ra, xếp chúng vào một chiếc nồi đất. Đáy nồi được lót sẵn một lớp giềng xắt mỏng, bên trên là một lớp thịt ba chỉ, kế đó là một lớp cá. Cứ thế cho đến khi nồi cá đầy ắp, mẹ tôi liền chêm nước hàng và gia vị, rồi chằng miệng nồi bằng mấy tầu lá khoai và buộc chặt lại bằng cái lạt rang, bắc lên bếp. Ròng rã cả 6 - 7 tiếng đồng hồ khi mép lá khoai khô cong, quăn tít lên miệng nồi, cũng là lúc xương cá đã chín nục... Món kế tiếp cũng khó quên là món: thịt bò cuốn lốc. Món này làm cũng khá kỳ công. Trước nhất thịt bò phải tươi và không có gân. Mẹ tôi lát thịt mỏng đều rồi cuốn tròn lại như cái xúc xích và được cuộn chặt bằng những sợi lạt rang, tước mỏng. Một nồi đất (phải bằng nồi đất thịt mới thơm và bùi, mẹ tôi thường bảo vậy) với đủ loại gia vị: húng lìu, tiêu, mắm... được chế sẵn, chỉ chờ cuốn xong là mẹ tôi xếp chúng vào nồi, bắc lên ninh thật nhừ. Cũng như nồi cá kho, khi mép lá khô cong, vểnh lên nắp nồi cũng là lúc nồi thịt bò lốc đã hoàn tất. Hai nồi thịt đông cũng là hai món phải chuẩn bị trước. Nồi thịt đông tôi thích vẫn là thịt ngan. Nhà có sẵn thành thử khi cần thịt, tụi tôi chỉ cần nhốt một chú bự con nhất chuồng vào tối hôm trước. Mẹ tôi vốn rất kỵ chuyện sát sinh nên cứ mỗi lần tính thịt chúng là bố tôi hay ông anh lại phải đảm đương công đoạn cắt tiết. Thường thì chiều tối hôm trước mẹ tôi nấu cho cả đàn một nồi cơm riêng, thật nóng và bảo chúng tôi mang ra cho cả đàn ăn. Bà bảo đỡ phải tội. Chẳng hiểu chúng có linh cảm điều gì mà mặc dù cơm gạo trắng tinh, nóng hổi nhưng chả con nào chịu động đến. Sáng sớm, khác với mọi ngày, chúng nằm ì trong xó chuồng. Đến độ ông anh tôi phải thò tay, lôi cổ từng chú ném ra khỏi chuồng chúng mới chịu chạy ra ngoài nhưng cũng nháo nhác, đứng túm tụm dưới gốc mận trổ hoa trắng xóa trước cửa nhà. Ấy vậy nhưng cũng có năm nồi ngan đông bị vỡ kế hoạch, mặc dù nồi nước làm lông đã sôi sùng sục, chỉ chờ bố tôi cắt tiết là xong. Khổ nỗi thằng út lại cứ ôm ôm chầm con ngan, vuốt ve vào cổ nó, hu hu khóc. Nó bảo: ngan ơi mày đừng chết. Thấy vậy bố tôi cũng phì cười bảo: Cái thằng, cắt tiết thì nó phải chết chứ? Nín đi, để bố hóa kiếp cho nó làm người. Thấy thằng út cứ giãy nảy, mẹ tôi cũng gàn bảo: Thôi, ông thả nó đi. Thiếu đi một món cũng chả chết ai nhưng mình đỡ phải một lần sát giới. Thấy mẹ tôi cũng gàn, bố tôi liền thả con ngan đang đành đạch giãy trên tay. Được thả tự do, cả lũ ngan đang đứng ủ rũ dưới gốc mận trước vườn liền vươn cánh, các các chạy lại đón kẻ vừa từ cõi chết trở về. Mẹ tôi thở dài bảo: Con vật sống lâu tình cảm bầy đàn cũng chẳng khác gì người. Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ mà người đời thường nhắc có lẽ nói lên điều đó chăng?
VI -
Nhà tôi thường gói bánh chưng vào tối 29 Tết. Để chuẩn bị cho công đoạn này, ngày 28 mẹ tôi đã giao cho bà chị cả đảm nhiệm việc cọ lá. Cũng có năm, bà chị tôi nổi tính lười liền gạ ông anh kế tôi làm hộ. Lẽ dĩ nhiên chị cũng phải "đút lót" tới hai hào bạc. Đi chơi chán chê, trở về, thấy tôi đang hì hụi ngồi cọ lá, chị chạy lại cốc vào đầu tôi mấy cái đau điếng mắng: Trời ơi, thằng ngu, ai khiến mà mày làm? Tôi bảo ông anh kế sai. Chị tôi hỏi: Nó đút lót gì không mà mày hăm hở thế? Tôi bảo: Cho 5 xu. Chị cốc thêm vào trán tôi mắng: Ngu ơi là ngu. Tao phải trả cho nó hai hào nó mới chịu làm, vậy mà mới có 5 xu mày đã hì hục. Cốc thêm vào trán tôi cái nữa, chị rút túi, đút lót cho tôi thêm một hào, dặn tôi cấm không được tiết lộ với mẹ, rồi chị nháo nhào cọ lá. Ông anh tôi cũng vừa đi chơi về, thập thò ngoài cổng, nhăn răng cười.
VII -
Những ngày chúng tôi còn nhỏ, tối 29 Tết cả nhà thường ngồi quanh mẹ tôi xem bà gói bánh. Mẹ tôi vừa gói, vừa chỉ cho bà chị gái cánh sắp gạo, đỗ, cách sắp lá, chằng lạt... Mẹ bảo: con gái lớn phải học ăn, học nói, học gói, học mở, không có sau này về nhà chồng chỉ tổ nghe chửi. Lần nào bà chị tôi cũng vâng dạ đủ điều nhưng tôi chưa thấy năm nào chị gói nổi một chiếc bánh cho vuông vắn. Được cái bù lại chị thái hoa trang điểm từ các loại hoa quả để làm nước chấm rất khéo. Có năm nổi hứng chị kéo cổ tôi lại, lên giọng đàn chị bảo tôi phải học hỏi, không sau này về nhà vợ lại tổ nghe chửi. Tôi gân cổ cãi: Chị dở hơi, vợ phải về nhà mình chứ? Chị cười, cốc vào trán tôi chống chế: Đấy là mẹ dạy tao thế.
VIII -
Nhà tôi thường luộc bánh chưng vào tối 29. Mẹ tôi và bà chị gái được ưu tiên ngủ sớm. Nói là vậy nhưng ngủ sớm nhất vẫn là thằng út cùng tôi và ông anh kế. Vào tối luộc bánh cả nhà tôi ngồi quây quần xung quanh bếp lửa hồng. Trong tiếng tí tách nổ của than củi, mùi lá dong, hương gạo nếp bốc lên thơm phức. Thằng út ngồi gọn lỏn trong lòng bố tôi vừa nghe ông kể chuyện vừa nhấp nhổm mong cho cặp bánh nhỏ của nó chóng chín. Chuyện bố tôi thường kể là những năm tháng khốn đốn, gian lao với thế cuộc mà bố mẹ tôi đã trải qua lúc mới xây dựng gia đình... Nhiều năm, nổi hứng ông còn làm thơ chúc Tết cho cả nhà. Giọng ông trầm và ấm áp. Ông vừa ngâm vừa giải nghĩa từng ý thơ cho cả nhà hiểu. Tôi còn nhớ ông rất thích làm thơ và còn làm khá nhiều. Thơ ông thường viết về thế thái nhân tình, về cảnh vật, và về đời sống của chính gia đình... Thơ viết xong, ông ghi lại rất cẩn thận vào một quyển sổ thơ. Thỉnh thoảng rình lúc bố tôi vắng nhà, tôi và ông anh thường lôi sổ thơ của ông ra xem trộm. Chỉ tiếc cả hai chúng tôi chả đứa nào nhớ được một bài cho ra hồn.
Năm tôi chuẩn bị thi đại học, thấy tôi cùng một đứa bạn thân trong lớp xì xào tính xin thi vào trường Sân khấu Điện ảnh, biết vậy ông kiên quyết ngăn cản. Thấy tôi cự lại, ông ôn tồn bảo: Tương lai là của các anh, nhưng cái đích mà các anh chọn nó không có hay ho, sáng sủa gì, bởi nó bạc như vôi ấy. Thấy ông kiên quyết như vậy, tôi đành xin thi vào một khối khác, mặc dù trong lòng còn khá hậm hực. Tình cờ sau này tôi gặp và nói chuyện với anh H, người làm chung xí nghiệp với bố tôi, nghe tôi phàn nàn về sự can ngăn của gia đình, anh bảo: Mày hâm bỏ mẹ. Tao ngày xưa xuýt đoản mạng vì cái nghề xướng ca vô loài đó mà mày lại thích nhao vào. Tôi bảo: Nghề đó ăn trắng mặc trơn chứ đánh đấm gì mà bỏ mạng? Anh H nhìn tôi vẻ hoài nghi: Thế ông già mày không kể gì cho mày nghe à? - Không. - Mà chuyện gì thế? Tôi tò mò hỏi. Anh H lắc đầu: Cụ này kín thật. Rồi anh kể lại nguyên nhân xuýt bỏ mạng của mình. Chuyện anh kể xảy ra vào đầu thập niên 70. Hồi đó trại sáng tác kịch nói Hà Sơn Bình tổ chức một đợt thi sáng tác thơ ca và kịch nói. Anh H bảo: Ông già mày nổi hứng cũng tham gia đợt thi sáng tác đó. Không ngờ vở kịch "may và mặc" của ông già mày viết lại đoạt giải nhất. Ngay lập tức vở kịch đó đã được ông già mày dàn dựng, rồi đi biểu diễn một số nơi và được dân tình cổ vũ như thụi. Riêng ông già mày còn được ban giám khảo và mọi người khuyến khích theo học lớp đạo diễn Sân khấu kịch. Mày biết không? - Anh H hỏi - Trên chặng lưu diễn trở về, đoàn kịch do ông già mày phụ trách đã gặp một sự cố không nhỏ - Anh H gõ gõ vào trán như lục lại trí nhớ - Tao còn nhớ đó là màn gần chót, có một chi tiết anh chủ nhiệm hợp tác xã vô tình cầm tay một cô xã viên, nhân trao đổi nghề nghiệp trong giờ làm việc. Đang diễn ngon lành thì một thằng khán giả len sát lên mép sân khấu ném rầm cái bơm xe đạp dưới chân đôi diễn viên nọ. Cô xã viên hoảng quá tính chạy ngược vào sân khấu nhưng mọi người bên trong lại xua ra, động viên tiếp tục diễn. Không ngờ cô xã viên chưa kịp hoàn hồn thì bọn khán giả hai bên cánh gà đã ùn ùn lao tới, hô đả đảo loạn xà ngầu rồi hò nhau ném lựu đạn vèo vèo lên sân khấu. Vậy là ông chủ nhiệm nọ vội vàng nhấc bổng bà xã viên, chạy thục mạng vào hậu trường, miệng chỉ kịp lặp bặp nói với đám diễn viên đang chuẩn bị đổi vai bên trong rằng: Chạy ngay, tụi nó chơi lựu đạn rồi. Kế đó cứ 3 bậc tam cấp, ông chủ nhiệm ôm chặt bà xã viên trên tay, phóng một mạch ra tận đầu làng. Tới khi vấp chân vào rễ cây đa làm bà xã viên nọ bay vèo tới mấy mét dưới đất, còn ông chủ nhiệm ngã giúi giụi, mặt đập vào rễ cây máu me lênh láng, chân thì tướp mẹ nó mấy cái móng. Họ nằm chết điếng một hồi mới mếu máo vừa bò vừa lết tới nhau, đưa tay lần, rờ, cấu chí lên mặt mũi nhau, tới khi cả hai đều thấy đau điếng, mới hoàn hồn và biết rằng mình còn sống... Nghe anh H kể, tôi bảo anh bốc phét chứ lựu đạn đã rút chốt ném đi thì chỉ có toi mạng. Anh H bảo:
Vậy tao mới có chuyện mà kể. Mày có biết chùm lựu đạn tụi nó ném, sản xuất bằng gì không? Tôi lắc đầu. Anh bảo: Phước tổ nó là "made in bằng tre" (1), chứ không bữa đó lão chủ nhiệm và bà xã viên nọ đã đi gặp cụ Hồ mẹ nó rồi. - Nhưng tại sao họ phải ném lựu đạn? - Tôi thắc mắc. Anh H cười khà khà: Tao còn nhớ đoạn đó lão chủ nhiệm vừa định cầm tay bà xã viên thì bên dưới khán đài dân chúng vừa la hét, vừa chửi rủa ỏm tỏi: Oánh cho chết mẹ thằng cán bộ đĩ thõa, chuyên hủ hóa với xã viên đi. Cùng lúc đó là tiếng lựu đạn ném rầm dưới chân... Sau này nghe mọi người kể lại rằng bữa đó thấy chiến sự nóng bỏng và hỗn loạn, ông già mày liền truyền lệnh rút quân. Vậy là trong lúc loạn 12 sứ, cả đoàn đã vội vã bỏ luôn cả suất diễn, chạy tháo mạng. Kể xong anh H chửi đổng: Đ. cụ bọn dở hơi. Bây giờ nó còn kính thưa các kiểu hủ hóa, chứ "sớt" tay nhau là cái đinh rỉ gì. Anh còn khuyên tôi: Thiếu mẹ gì trường không thi mà chú lại thích đâm đầu vào cái nghề lên voi xuống chó đó. Vậy mà chưa khi nào bố tôi kể lại câu chuyện buồn nhưng cũng đầy kỷ niệm ấy...
IX -
Nhiều năm, trưa 30 tết, khi chúng tôi còn lóp ngóp trong chăn, thì bố mẹ tôi đã hì hụi dỡ bánh chưng, và nén bánh ngay trước hè. Những năm anh chị em tôi còn nhỏ, tôi để ý năm nào nhà tôi cũng gói không dưới 15 ký bánh. Chẳng hiểu sao chúng tôi càng lớn, số bánh lại càng tỷ lệ nghịch. Có thắc mắc, cũng chỉ nghe thấy mẹ tôi thở dài.
X -
Bữa cơm chiều 30 Tết là một bữa cơm ấm cúng nhất trong năm. Trong lúc mẹ tôi và bà chị gái hối hả lo làm cơm thì mấy bố con tôi lo việc đi tảo mộ. Cả nhà thời đó có độc một chiếc xe đạp "đểu". Thằng út được ưu tiên ngồi sau xe. Tôi và ông anh kế lẽo đẽo vác cuốc, xẻng theo sau. Khu mộ tổ của gia đình được chôn cất cách nhà tôi chừng 2km. Tới nơi, bố tôi giao việc cho mấy anh em nhổ những cây dại, còn ông thì kiểm tra vòng quanh mấy ngôi mộ của gia đình. Thường thì năm nào chúng tôi cũng phải bồi thêm những mảng cỏ mới vào những nơi bị sụt lở. Mọi việc đâu đó chúng tôi cùng rửa tay từ chiếc cặp lồng nước bố tôi mang theo.
Trong khói nhang nghi ngút cùng khung cảnh vàng, hương lạnh lẽo nơi nghĩa địa, chúng tôi cùng chắp tay, kính cẩn đứng vòng quanh khu mộ tổ. Như mọi năm bố tôi kể lại tiểu sử của từng người đã mất trong nội tộc. Xong xuôi, ông cùng chúng tôi hành lễ. Điều ông luôn răn dạy chúng tôi là sống sao cho chọn đạo nghĩa cháu con, và điều quan trọng là đừng bao giờ quên đi tổ tiên, dòng họ... Việc tảo mộ đã chu tất, bố tôi thường chia cho mỗi anh em một thẻ nhang và bảo chúng tôi đi dâng hương, làm phước cho những khu mộ lân cận. Ông bảo: Dương sao thì Âm vậy. Sống đâu cũng phải có tình làng nghĩa xóm. Ông anh tôi vốn tính nghịch ngợm, nhiều năm đi dâng hương đã đánh dấu chân hương của mình. Năm sau, đi tảo mộ đã thấy anh săm soi chạy lại nơi mình đánh dấu. Thấy mấy chân nhang vẫn còn nguyên vẹn, anh chạy lại, ghé tai thôi thì thầm: Mả bên cạnh sạt gần hết mà không có ai đến thăm cả. Sao anh biết? Tôi hỏi. Anh nhe răng cười: Hương tao đánh dấu vẫn còn nguyên, chứng tỏ mả này bị mồ côi rồi. Tôi phì cười vì cách dùng từ của anh. Chả cứ riêng ngôi mộ mà ông anh tôi nói, mà xung quanh đó những ngôi mộ vô thừa nhận khá nhiều. Có mộ chỏng chơ xương tiểu, bia đá trên đầu mộ chí cũng ngả nghiêng, mờ tịt. Mỗi lần đi qua những ngôi mộ ấy tôi lại thấy bố tôi lụi hụi thắp hương, thở dài. Những năm sau này khi chúng tôi lớn lên, cuộc sống của dân tình có vẻ khá giả hơn, vì vậy nhiều ngôi mộ trước kia vô chủ, nay lại lũ lượt từng đoàn người mâm to mâm nhỏ, áo trùng áo kép đến thăm viếng, vàng nhang, khóc lóc, kể lể, hệt như phường chèo. Cũng lại ông anh tôi để ý phát hiện ra một ngôi mộ có tới mấy bà tới thắp nhang, khóc lóc. Anh bảo tôi: Mày có nghe mấy bà kia "hát" không? Tôi le lưỡi: Ghê bỏ mẹ! Anh cười: Nhát thế! Tao để ý bà khóc gà, bà khóc vịt - anh ghé tai tôi - thằng cha này chắc "BĐ"quá? Thấy bố tôi để ý, anh xua tôi như xua tà, giục tiếp tục cắm nhang. Sau này nhân một lá thư, anh kể lại chuyện cũ: Hóa ra mộ mấy bà tới khóc là mả Tây mày ạ...
XI -
Chiều 30 Tết, cả nhà tôi ngồi quây quần bên mâm cỗ đầy ắp các món ăn mà mẹ tôi làm sẵn. Món tôi chú trọng nhất là vẫn là cá kho và thịt bò cuốn lốc. Hai món này dùng với bánh chưng thì gọi là tuyệt hảo. Người ngồi sau cùng vào mâm cỗ bao giờ cũng là mẹ tôi. Chờ mọi người yên vị, bố tôi rót rượu, nâng ly chúc sức khỏe cả gia đình. Ngày còn nhỏ, những bữa cơm đón tất niên ấy lẽ dĩ nhiên tôi và ông anh kế cũng được ưu tiên chấm mút chút đỉnh rượu mầu, gọi là đủ tê tê đầu lưỡi. Sau này khi chúng tôi đủ tư cách để ngồi uống rượu với bố thì mấy chị em lại mỗi người một ngả. Khởi đầu là người anh kế tôi đã nhập ngũ theo lệnh tổng động viên năm 1979 trong khi còn học hành dang dở. Gần cuối 85 anh xuất ngũ. Tôi còn nhớ ngày anh trở về trong bộ quân phục bạc phếch. Quần thì ống cao, ống thấp, hai gối vừa sờn, vừa rách tơi tả. Đôi giầy cô - sô - gin (2) của Nga cũng há hoác miệng. Chiếc mũ cối nội trên đầu, không sao, cũng bạch phơ phếch, chẳng kém. Người nhìn thấy anh đầu tiên là mẹ tôi. Bà lập cập chạy ra đón, miệng run run hỏi: Về thật hay về phép mà thảm hại thế con? Ông anh tôi nhe răng cười: Con xuất "nghẽo" (xuất ngũ) rồi, và tiện tay lẳng luôn cái mũ cối cùng chiếc ba lô lộn, lép xẹp xuống giường. Tôi và thằng út bâu ngay lại, tính lục lọi "chiến lợi phẩm" nhưng cả hai đều thất vọng. Riêng tôi vô tình phát hiện trên chiếc mũ cối bạc phơ, rách nát của ông anh còn ghi chằng chịt những dòng chữ: Nhớ mẹ, thương cha, thèm thịt chó; Mẹ ơi đói quá; Ước gì có nước uống... cùng hai câu thơ đã nhòe nhoẹt:
Nay ở trong ta đâu có chất
Khôn hồn đừng có động vào ta
Thấy ngồ ngộ, tôi bèn cầm cái mũ đến bên ông anh, lúc này trên mình chỉ còn độc chiếc quần đùi lính màu cháo lòng, rộng thùng thình, khâu, vá chằng đụp, người ngợm ghẻ kềnh ghẻ càng. Thấy tôi hỏi, anh ngừng tai gãi ghẻ, nhe răng cười: Thơ tao đấy, ngửi được không? Tôi nhăn mặt chê: Thơ mẹ gì mà ngắn cũn, ý tứ thì què cụt. Ông anh tôi đang nhồi thuốc lào vào nõ điếu, châm lửa rít liền giơ tay ra hiệu tôi chờ đợi. Rít một hơi tưởng vỡ banh lồng ngực, anh ngả người vào thành ghế, nhả khói um nhà bảo: Đừng đùa. Bài này còn hai câu nữa, tao làm thể tứ tuyệt, thích nghe không tao đọc cho mà nghe? Tôi gãi tai, vẻ miễn cưỡng: Nghe thì nghe. Anh nhấp một ngụm trà, bồi thêm một mồi thuốc rồi mới nghiêng ngả trên thành ghế, mắt lim dim hệt như đưa hồn vào tiên cảnh, giọng lè phè: Nghe nhớ! Đầu đề là:
Đừng Đụng Vào Ta. Anh ngửa cổ, ư ử đọc:
Ngót 6 năm trời xương bọc da
Cháo hẩm cầm hơi đủ khỏi lòa
Nay ở trong ta đâu có chất
Khôn hồn đừng có đụng vào ta
Tôi đang gật gù thì anh ngồi thẳng dậy, giọng vẻ khá nghiêm chỉnh: Sao? Chơi được không? Tôi gãi tai, cười xòa: Nghe giống thơ bác Hồ quá. Anh búng tay tanh tách khen: Thông minh phết. Nhưng khác chỗ nào, biết không? Tôi lắc đầu. Anh giải thích: Thơ bác Hồ là làm trong tù Tưởng Giới Thạch, chắc thời đó còn được ăn ngon, đối đãi tử tế, nên trong thơ chỉ thấy mơ rượu và hoa, còn bọn tao, lính chốt, nước uống phải bứt lá rừng để hứng sương đêm. Gạo thiếu, lại vừa mốc vừa ẩm, tối ngày húp cháo hẩm cầm hơi. Lính tráng thằng nào cũng đói, mồm miệng thở ra thối khắm. Vậy mà sản được những vần thơ đó là nhất quả đất đấy. Bà chị tôi đang mải mê dọn nhà để chuẩn bị bữa trưa thấy vậy liền dừng tay, tủm tỉm: Nghe mày đọc nó phản động thế nào ý. Ông anh tôi vênh mặt cãi: Bà này giọng điệu giống mấy thằng tuyên huấn quá, hơi tý là vu con người ta phản động. Chị tôi cười, mặt đỏ bừng. Vừa lúc ấy mẹ tôi bê mâm cơm tú ụ lên nhà, nghe câu được câu mất bà liền hỏi: Mấy chị em bay mới gặp nhau làm gì mà thơ thẩn, với phản động thế? Ông anh tôi gắn vội cái điếu cày lên miệng, rít lấy rít để, tay ra hiệu cho bà chị không được tiết lộ, nhưng bà chị tôi đã vội vàng mách: Nó vừa mới ngâm thơ gì đó nghe phản động lắm mẹ ạ. Mặt mẹ tôi thoáng biến sắc. Bà đặt vội mâm cơm xuống bàn, nhìn ông anh tôi lo âu hỏi: Anh muốn rũ tù hay sao mà lại tập tọng mấy chuyện đó? Ông anh tôi nhe răng cười: Mẹ đừng tin bà chính ủy. - Bà này - anh quay sang trách - bà mà làm chính ủy chắc ối thằng rũ tù oan. Chị tôi cười thật thà bảo: Tao không ác vậy đâu. Nhưng làm chính ủy là có quyền bỏ tù người khác à? - Vậy mới nói. - ông anh tôi lý sự - bà không hiểu gì về thơ phú mà lại nhúng mũi vào mấy chuyện phê bình thơ ca chẳng khác nào xẩm sờ chân voi. Nghe ông anh bà chị tôi đối qua đáp lại mẹ tôi lừ mắt cả hai rồi mắng: tiên sư các anh chị, không phải lý sự hão nữa. Từ nay mẹ cấm tiệt không có thơ phú gì hết. Hay ho đâu chưa biết nhưng họa đã sờ sờ trước mắt. Kế đó bà giục chúng tôi chuẩn bị bữa ăn và chờ bố tôi về... Bữa trưa xong xuôi, trong lúc khách khứa đến hỏi thăm chật nhà, thằng út nhà tôi sau một hồi lục lọi ba lô và mũ mão của ông anh nó đã phát hiện ra ngoài tờ giấy xuất ngũ cùng mấy con dấu đỏ loét còn có thêm đôi lon binh nhất bạc phếch và một ngôi sao đeo mũ, gắn ngược bên trong. Nó tồng tộc chạy ra nhà ngoài hỏi: Sao, tiết (3) có, sao không đeo cho oai? Ông anh tôi ngồi tiếp khách mà vẫn sồn sột gãi, phẩy tay bảo: Lính tráng bây giờ trộm cắp như thụi, đeo vào mất công dân tình để ý. Thằng út vẫn không chịu, nó chê ỏng eo: Lính chốt 6 năm trời mà xuất ngũ có binh nhất thôi à? Xoàng thế? Ông anh tôi đang phồng mang rít thuốc lào liền dừng lại, dụi đóm lửa vào chân nõ điếu rồi giơ đuôi đóm gãi sồn sột nơi cổ áo, nhe răng cười, giọng từng trải: Giữ được "gáo" trở về là phước ba đời đấy, còn đời mày nữa, thằng em dại. Thằng út cũng không vừa, nó bĩu môi: Phải chờ hậu xét. Chẳng hiểu sau này thằng út nhà tôi thi đại học đại heo kiểu gì mà rốt cục cũng đâm đầu vào lính. Chẵn 4 năm nó phục viên, biên thư cho tôi, khoe trước khi ra quân được xét đặc cách lên cấp hạ sĩ. Nó bảo dù sao vẫn hơn ông anh tôi những hai cấp. Nó còn khoe giờ em lại tiếp tục trường kỳ bám váy ông bà già. Sợ thằng em về nhà vô công rỗi nghề sinh chán đời, tôi đành bỏ ra 6 "cu" (4) gởi cho nó một bức hỏa tốc, trong đó khuyên răn đủ điều. Ngóng dài cổ đến cả năm sau mới thấy nó hồi âm. Phong bì thư đen thui, nặng trĩu. Tem dán đủ chừa địa chỉ người gửi và người nhận. Cơm nguội chưa phết hết, khô, lổn nhổn. Dấu má bưu điện đỏ loe loét, chồng chéo. Vất vả lắm tôi mới lôi được ruột thư ra khỏi phong bì nhưng cũng phải "hy sinh" mấy dòng phía trong vì bị cơm... dán chặt. Giấy biên thư cũng đen đủi chẳng kém, nhiều chỗ mày gỗ còn nguyên vẹn. Hậu "bọ", một tay miền Trung, giật phắt bức thư từ tay tôi rồi mồm miệng ông ổng, chọ chọe đọc: Thư cho anh mà ruột đau như cắt, nược mắt đầm đìa, chị tiếc thằng em không đụ can đảm để xẹ thịt, lột da, hiến gan, bán máu... nên đành ngậm ngùi xin tiền tem các cụ... Thông cảm nhớ, tem dán hơi nhiều, nhưng nó là mồ hôi nước mắt cụa các cụ cả (chắc nó ám chỉ mớ tem mấy ngàn bạc). Kế đó nó bảo chắc tôi đói chuyện quê hương bèn thống kê dài dằng dặc một trang đủ những tệ nạn xã hội thời "mở cửa". Gần cuối thư, chắc đã mỏi tay, bởi chữ nghĩa ngoằn nghèo như ký tự La Mã, nó mới chịu đề cập đến điều tôi thắc mắc. Hậu "bọ" vẫn ông ổng đọc: Ông anh lạc hậu quá. Lính tráng muốn thăng nhanh thì phải lập công giết giặc. Thằng nào giết nhiều, giết đẹp thì được phong làm anh hùng; tàng tàng củng được lên lon, phọt phẹt thì phát bằng khen, thưởng phép về thăm thằng cu, mẹ hĩm. Khổ nổi thằng em sinh ra thời bình, ngược xuôi đâu đâu cũng là dân Việt, chẳng biết giết thằng nào cả. Hậu "bọ" dừng lời, tặc lưỡi: Cũng có một cách lên chức vừa nhanh vừa hợp pháp là... bợ đít cán bộ, nhưng anh biết đấy, bẩm sinh lưởi em đã sinh dị tật. Nhiều đêm, chờ doanh trại ngủ hết, nằm trong màn, tay xua rệp, tay đuổi muổi, cũng tính chuyện luyện "lưỡi gỗ", nhưng khổ nỗi môi chưa mấp máy đã thấy thẹn đỏ cả mông... đành thôi... Đọc tới đó Hậu "bọ" giúi bức thư vào tay tôi rồi cùng cả lũ cười nghiêng ngả. Hùng "một pha", nguyên trung úy công an biên phòng thời chống quân "bành trướng", vì đạp phải mìn quân ta khi vào thăm một bản dân tộc vùng xứ Lạng nên xuất ngũ chỉ được phong chức "ngộ binh". Mảnh mìn đã cướp đi của gã con mắt phải, và để lại chằng chịt những vết sẹo trên mặt và cơ thể. Gã qua Tiệp theo dạng "xuất khẩu lao động" bữa đó cũng có mặt, vừa cười sằng sặc vừa móc con mắt giả ra tay, vân vê như hòn bi ve, bảo: Mẹ kiếp! Lính tráng thời nay đúng là tội thị nợ...
XII -
Bà chị tôi số phận cũng chẳng may mắn hơn. Năm 80 cũng nhận được lệnh đi "thanh niên xung phong", vào xây dựng khu kinh tế mới Lâm Đồng. Rồi chả hiểu sao khi cả đoàn đi tàu vào tới ga Vinh, chị cùng mấy người bạn đã rủ nhau trốn ngược ra Bắc. Không nơi ẩn nấp, chị cùng lũ bạn lũ lượt rủ nhau ra phường trình diện. Bọn chị đã được "khoan hồng" và bị điều lên công trường xây dựng thủy điện Hòa Bình để giáo dục về tình yêu quê hương đất nước (Sau này trong một lần chị được "về phép" từ công trường Hòa Bình, tôi ngờ ngẫn hỏi: Thế chị tình nguyện đi "xây dựng kinh tế mới" à? Chị nhăn mặt, cốc vào chán tôi bảo: Mày ngu thế. Điên à mà vào trốn khỉ ho cò gáy đó. Đơn người ta làm sẵn, bắt mình ký vào, bút sa gà chết. Chẳng tình nguyện cũng chẳng được...). Ròng rã mấy năm trời, bố tôi mới nhờ được người quen xin cho chị về một công trường xây dựng cách nhà gần hai cây số. Hàng ngày nhìn chị cùng lũ bạn gò lưng kéo những xe bò cải tiến gạch và đá hộc qua nhà, mẹ tôi chỉ biết sụt sùi khóc vì thương con. Cũng may gần cuối 85 thì công trường giảm biên chế để sát nhập vào Liên Hiệp các Xí nghiệp xây dựng, cũng vì vậy bà chị tôi cùng lũ bạn được ưu tiên thất nghiệp, không lương, trở về "đoàn tụ, giáo dục" thêm tại địa phương và gia đình. Được ít tháng thì tôi qua Tiệp. Mẹ tôi bảo cái số bà bạc phước vì đứa nào lớn lên cũng phải sống xa mẹ cả. Bố tôi an ủi bà, ông bảo tôi đi Tây chứ có ra hòn tên mũi đạn đâu mà sợ. Mẹ tôi vẫn sụt sùi khóc, bà bảo trước đây anh chị nó tuy xa nhà nhưng còn thỉnh thoảng quà cáp và nhìn thấy mặt, còn nó - ý mẹ bảo tôi - đi biền biệt 5 - 6 năm trời, biết đến bao giờ mẹ con mới gặp lại...
XIII -
Tôi bước lên máy bay mang theo những giọt nước mắt buồn lo của mẹ. Cũng chẳng thể ngờ được rằng thời gian tôi đi xa đã dài gấp mấy lần khoảng thời gian mà mẹ tôi dự đoán. Nhẩm lại trên đầu ngón tay, thoắt cái đã ngót 20 năm gia đình tôi chưa có ngày đoàn tụ...
Giao thừa năm nay, trong lạnh lẽo hương trầm, chắc chắn mẹ tôi sẽ không tránh khỏi sụt sùi khi chạnh lòng nhớ đến một đứa con xa...
Xuân 1998
Ghi chú:
1. Hồi chiến tranh chống Mỹ, lực lượng dân quân du kích của miền Bắc ai cũng được trang bị lủng lẳng hai quả lựu đạn bằng tre, đeo ngang hông, nhìn rất oách.
2. Một loại giầy của sĩ quan Nga hồi bấy giờ.
3. Ngôi sao và quân hàm đeo trên mũ và áo của lính thời đó.
4. Tiền của Tiệp Khắc.
© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng ngày 24.01.2009 theo nguyên bản tác giả gởi từ Đức.
. Xin ghi rõ nguồn Newvietart.com khi đăng tải lại.