Tiểu thuyết TIL MUSIKKEN của Ketil Bjørnstad là tiểu thuyết vừa được trao giải thưởng French Readers’ Award - "Giải Thưởng của Những Độc Giả Pháp" vào ngày 23 tháng 09 năm 2008 với bản dịch dưới tựa đề là La société des jeunes pianistes - "Hội của Những Nhạc sĩ Dương cầm Trẻ tuổi"- tên của một nhóm thiếu niên học dương cầm tại Oslo trong những năm 60 tự đặt ra mà chính tác giả, Ketil Björnstad cũng đã quá quen thuộc vì lẽ chính ông là ứng viên đã đậu trong cuộc thi tuyển những dương cầm thủ trẻ tuổi tại thủ đô Na Uy khi được 14 tuổi.

Ketil Bjørnstad, sinh ngày 25 tháng 4 năm 1952 tại Oslo - Norway , là một nhạc sĩ dương cầm đã được nhiều người biết tiếng, nhà soạn nhạc và làm thơ viết văn . Ketil Bjørnstad khởi sự ra mắt độc giả qua thi tập "Alene ut" vào năm 1972 .
Cho tới nay tác giả này đã cho ra xuất bản hơn 30 tác phẩm đủ thể loại : tiểu sử, tiểu luận, thơ, truyện và rất nhiều nhạc bản, nhạc phim, đĩa nhạc. Tiểu thuyết TIL MUSIKKEN xuất bản lần thứ nhất bằng tiếng Na Uy vào năm 2004 .

Nhân vật chính của TIL MUSIKKEN là Askel Vinding, 15 tuổi.
Cậu nhìn thấy thật rõ rệt mối bất hòa giữa cha mẹ cậu : Một người thì khao khát thành công quá độ và người kia thì lấy nhạc và rượu để quên đi những bất hoà trong gia đình.
Biết rằng vào buổi sáng hôm đó, khi đi píc níc (pique-nique) tại khu rừng sồi cha mẹ cậu đang ở trong một tình trạng căng thẳng tuy nhiên cậu vẫn cố tự giữ sự quân bình nhưng không thể ngờ được rằng diễn biến đã xảy ra một cách thật tàn nhẫn như thế : mẹ Askel đã bị chết đuối !.
Sau tình huống thê thảm đó, Askel bỏ học... Chỉ có một điểm duy nhất làm Askel còn có thể đứng vững được trước những quay quắt, ám ảnh của thảm trạng đã xảy ra đó là tình yêu âm nhạc cổ điển mà người mẹ đã truyền lại . Vì vậy, cậu ta quyết tâm chuẩn bị cho cạnh tranh giải Young Maestro Piano.
Vào năm này, 5 người được vào chung kết : Askel, Ferdinand, Margrethe Irene, Rebecca và Anja rồi sau đó sự quan hệ giữa Askel và Anja có vẻ như là một định mệnh...

Tiểu thuyết được kết cấu như một bản Concerto với khúc dạo đầu thật dữ dội để sau đó với Phần thứ Nhất (First Movement) như dụng ý cho người đọc thấm nhập vào cách phân tiết thật đặc biệt của tác giả.
Ketil Björnstad thuật truyện bằng một nhịp điệu chậm rãi cố tình để những cảm xúc và sự căng thẳng nguy kịch mang lại tất cả sức sống động của nó : Người đọc cảm trước được rằng lộ trình của những chàng nhạc sĩ dương cầm trẻ tuổi sẽ dãy đầy những trắc trở và những móc nghéo đủ kiểu.

Khi Phần thứ Hai (Second Movement) khởi sự, nhịp điệu tăng nhanh và thảm kịch thứ nhất có thể tác động vào. Phần thứ Hai này mặc dù hơi ngắn tuy nhiên người đọc hiểu rằng đây chỉ là điều báo trước cho một kết thúc đau thương nhất.

Trong Phần thứ Ba (Third Movement) , sau cùng tất cả những yếu tố, đã được xếp đặt trước đó, mang đến một âm hưởng, một giải pháp.

Độc giả hoàn toàn bị ngập trong âm nhạc, nín thở để nghe ngay cả sự im lặng của nó, choáng váng vì chuyện kể, thôi miên bởi sự duyên dáng của giai điệu thê lương và thống thiết không ngừng. Ketil Björnstad đã thật khéo léo liên kết chủ tâm của ông với hình thức viết.

Những điểm vừa nói trên có thể giải thích tại sao một tiểu thuyết "nhập môn" như Til Musikken xuất hiện cùng lúc với biết bao nhiêu sản phẩm văn chương khác lại đã đem đến tất cả tầm quan trọng và lý do hiện hữu của nó với độc giả.

Chuyện tình yêu, chuyện tang tóc, chuyện về âm nhạc : đấy chính là một cuộc hoà nhạc, càng lúc càng mạnh, mà nhà văn Na Uy Ketil Björnstad gởi mời người đọc.

Tính đến hôm nay TIL MUSIKKEN đã được chuyển ngữ sang các thứ tiếng : Anh - Đan Mạch - Đức - Pháp - Hy Lạp - Hàn quốc - Nga - Thổ .

Newvietart hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc tiểu thuyết TIL MUSIKKEN qua bản phóng dịch Việt ngữ của Từ Vũ.










PHẦN I

tiếp theo Thác Đổ



RỪNG SỒI


Tôi cảm thấy giòng sông như có một sức lôi cuốn mà tôi không có cách nào cưỡng lại nổi. Ngày lại ngày, tôi lui tới cái vùng đất trũng đó bằng cách lách lỏi qua những gốc cây mọc um tùm phía dưới thác nước, nơi chỉ có sồi và những hòn đá trơn trợt dưới chân tôi, nơi đó mẹ đã nằm hai ngày hai đêm trong một lỗ nước trước khi được tìm thấy - mọi người trong đội cấp cứu quả quyết rằng luồng nước lôi mẹ đi rất xa nhưng ngược lại, mẹ bị giam ngay dưới chân thác nước. Hệt như một chiếc nồi vĩ đại, những luồng nước xoáy đã tung vật xác mẹ từ bên này sang mé kia và hình như là một con chim đã bắt đầu rỉa thịt mẹ. Lập tức tôi nghĩ tới con chim bồ cắt đã theo rình mò chúng tôi ở trên trời vào cái ngày chủ nhật tóc tang đó.

Ngay lúc ngồi ở chỗ này, trong bóng tối , tôi cũng chẳng thấy có điều gì gọi là khổ sở - chỉ duy nhất là một sự trống rỗng, một cái gì bất động trong tôi . Tôi không nói bất cứ một tiếng nào , tôi cũng không tạo ra bất kỳ một tiếng động nào. Tôi im lìm. Lỗ nước nằm ngay phía bờ đê bên kia, bao quanh bằng những cây thông dầy đặc. Về phần tôi, tôi tìm ra được một chỗ dưới những rặng sồi, bên mé của chúng tôi. Từ chỗ ngồi này tôi có thể, dõi mắt ước tính, thăm dò lòng sông, tìm một điểm cạn mà tôi có thể lội qua được. Những tảng đá rải rác đây đó có thể làm điểm tựa cho tôi nhưng giòng nước quá mạnh. Và bây giờ tôi tự bằng lòng ngồi quan sát cảnh trí dưới gốc sồi đen. Ở chỗ tôi đang ngồi tôi thấy thật thoải mái, không bị ướt át chút nào, để lắng nghe tiếng nước cuồn cuộn chảy.

Từ mấy bữa nay trời mưa, mưa buồn, nước trút không ngớt. Thoảng mùi mùa thu đang đến. Chị Catherine và tôi không nói với nhau một tiếng nào. Hai chúng tôi an ủi cha bằng phương cách của riêng mỗi người. Cách an ủi không bao giờ có sự liên hợp. Nếu chị ấy cố sức dẫn cha tôi làm những cuộc dạo bộ dài vào cuối tuần thì chính tôi lại là người có mặt thường xuyên bên cạnh ông mỗi ngày.
Tôi sửa soạn những bữa ăn, những món giản dị mà mẹ thường làm trước kia khi còn sống, cho cả ba người, vì chị Catherine tan học trễ hơn tôi còn cha thì cũng chỉ về nhà gần vào đúng giờ ăn . Lúc chị Catherine lên tiếng nói rằng chị muốn xem truyền hình với cha, trong im lặng tôi lẻn ra cửa, thả bộ dài theo các đường phố hàng giờ đầu óc hoàn toàn trống rỗng .

Mùa thu đó, bất chợt tôi quan tâm tới Anja Skoog. Cô ta cư ngụ phía mé dưới, ở Elvefaret. Những cuộc gặp gỡ của chúng tôi diễn ra hầu hết vào dịp tôi kiếm cớ để lẩn tránh công việc rửa chén dĩa, trùng với giờ mà Anja lấy xe điện. Tôi biết rằng cô ta theo học ở một trường tư thục. Cả hai chúng tôi cùng đi với nhau một đoạn đường ngắn , biết bao nhiêu năm qua chúng tôi đã giản dị trao đổi với nhau bằng những cái gật đầu nhẹ nhàng song tôi chỉ bắt đầu chăm chú nhìn cô từ hôm đó mà thôi, tôi nhìn trong lúc cô ta lon ton chạy thật nhanh. Tôi cũng biết rằng cô ấy học dưới tôi một lớp. Bây giờ là đầu tháng 11 , Anja mặc một chiếc áo khoác ngắn màu xanh có mũ dính liền, đã sờn, lòng thòng dài theo cẳng chân. Anja luôn chào tôi thật phải phép lúc cả hai chúng tôi đi ngang mặt nhau dưới những cây cột đèn. Khi nhìn nụ cười vẻ thận trọng và đôi mắt buồn buồn của cô ta tôi nghĩ rằng cô ấy có thể không biết gì về chuyện mẹ tôi. Ở cái mé này của thành phố, hiếm khi người ta biết được việc gì đã xảy ra ở nhà những người khác. Bí mật của mỗi gia đình giỏi lắm là chỉ người hàng xóm cạnh nhà mới biết được chút ít. Rất có thể đó là điều làm tôi ngạc nhiên. Bởi vì, ngược lại điều tôi đã nghĩ, Anja đã biết chuyện này mà cô ta cũng vẫn chịu khó chào tôi.
Hình như Anja lúc nào cũng vội vã. Tôi tưởng tượng rằng cô ta đi tập chơi bóng ném, học múa hay những bộ môn khác mà những thiếu nữ, đẹp , đong dỏng cao, như cô thường làm. Anja có mái tóc thề, hơi cứng. Chẳng bao giờ tôi thấy cô ta cầm dù theo. Khi trời mưa, những lọn tóc của cô xoắn lại với nhau trước khi tới được trạm xe điện. Nếu người nào có máu nghệ thuật chắc chắn sẽ thấy rằng hình ảnh của cô ta còn đẹp hơn nữa.
Anja theo tôi trong ý nghĩ lúc tôi đi xuống bờ sông và ngồi trong bọng cây sồi. Cô ấy cũng tháp tùng tôi lúc tôi để tư tưởng mình lãng đãng đi vào những ảo ảnh của một chân trời viển vông nào đó trong những phong cảnh không phải chỉ là kết qủa của sự tưởng tượng nhưng là sự thật đích thực ngay cả với chính tôi, trong một tương lai rất gần.
Tôi khởi sự mơ mộng tới những điều gì chưa tồn tại hay tất cả những gì không thể có - mẹ vẫn sống, nhất là sự kiện này . Mẹ không bao giờ nói với tôi. Mẹ đứng đó, quay lưng về tôi . Tôi sợ rằng mẹ sẽ ngoảnh lại. Tôi sợ nhìn mặt mẹ, sợ sự khinh miệt của mẹ. Mẹ đã thường nói :"Cuộc đời của mẹ là vô ích. Nhưng với con sẽ phải khác. Hứa với mẹ điều này, Askel."
Tôi phải hứa điều gì với mẹ chứ ? Mẹ cũng đã nói rằng mẹ sẽ làm tất cả , tất cả để trợ lực tôi.

Tôi ở lại trong đám rừng sồi rất lâu, tôi ở đây để tưởng tượng. Không một ngày nào mà tôi không có mặt bên bờ sông, dưới những tàn cây và không một ý nghĩ nào hiện ra trong trí óc tôi mang lại một hữu ích dù chỉ tầm thường thôi bởi vì tôi mơ mộng những chuyện mà tôi sẽ chẳng bao giờ có cơ hội để làm, tôi cảm thấy như thế, hoặc sẽ chẳng bao giờ được thực hiện trong suốt quãng đời tôi.
Tôi bỏ không tham dự vào cuộc thi tuyển dương cầm vì tự biết rằng mình sẽ không thể chơi hay được. Tuy nhiên tôi tự hứa với tôi là sẽ ghi tên vào cuộc thi năm tới.
Khi mùa đông đến, thời gian chờ đợi đã chấm dứt. Tuyết rơi. Tôi thực hiện những chuyến trượt tuyết để dạo chơi thật lâu đến tận vùng đồng bằng Grini.
Ngày thật khô và lạnh để lộ ra một thứ ánh sáng mầu xanh trên chân trời điểm hồng. Tôi bắt đầu mơ tới những gì có thể nằm trong tầm tay tôi. Tôi khởi sự công việc tập luyện dương cầm. Bây giờ tôi đã mười sáu tuổi. Tôi cố gắng nghĩ đến Anja Skoog càng ít bao nhiêu càng tốt .




TRONG ÁNH NẮNG MUÀ ĐÔNG NHOÀ NHẠT


Giáng sinh sắp tới.
Cha tôi cũng vẫn chưa chịu thu dọn đồ đạc quần áo của mẹ mà chị Catherine thì từ chối làm công việc này.
Sự tương quan giữa mẹ và chị Catherine bao giờ cũng thật gay go . Mẹ tự thấy rằng mình còn qúa trẻ khi mang thai chị, lúc đó mẹ mới chỉ được hai mươi hai tuổi. Ase Bang là một người con gái trẻ nguyên quán tại Moss, ước muốn theo đuổi nếp sống của cha mẹ , trở thành một nữ nhạc sĩ, biểu diễn trên những chiếc tầu thủy du hành hay đệm nhạc cho những phim câm. Nhưng thời kỳ làm phim câm cũng gần chấm dứt và không một ai trong hai ngưòi có phương tiện để dạy mẹ thực hành một nhạc cụ. Mẹ đã yêu âm nhạc lúc theo bà ngoại khi bà đến làm việc trong rạp chiếu bóng. Trong suốt buổi chiếu phim câm, mẹ nhìn những ngón tay của bà ngoại lướt trên những phím đen và trắng. Mẹ gắn mình vào một thời đại đã đi qua.

Tôi sắp đặt lần lượt lại các tủ trong nhà sau khi mẹ qua đời. Tôi nghĩ đến những người cũ, những người đã chết. Đột nhiên, những người này trở thành quan trọng trong tôi. Ase Bang của vùng Moss. Mẹ Ase Bang, bà ngoại Asta, trong suốt bao nhiêu năm đã sống được vì nhờ vào chiếc đàn dương cầm. Chồng bà, Ramus, ông ngoại tôi, chơi vĩ cầm trên những tầu chở khách bằng đường thủy chạy từ Oslo đến New York cho đến lúc gặp một nhà tỷ phú loạn dâm đồng giới người Ai cập dụ dỗ ông rồi dẫn ông vào một cuộc sống trụy lạc trong vai trò nhạc trưởng dàn nhạc trên một chiếc du thuyền trôi dạt khắp các bến cảng Alexandrie, Breyrouth, Athènes, Dubrovnik , Venise. Tất cả những câu chuyện về qúa khứ mà mẹ thích kể lại cho chúng tôi...Ông ngoại tự biến thành một tay ăn chơi chuyên nghệ, một tay vĩ cầm với mái tóc chải gôm bóng mướt trong chiếc áo veste trắng. Hẳn là mỗi buổi tối trong salon tầu ông chơi những bản của Fritz Kreisler hay những bàn cò cưa của những người kéo vĩ cầm khác nhưng sau đó rất nhanh ông mắc cạn ngay ở quày rượu hoặc trong một buồng của một bà goá chồng giầu người Mỹ. Ông khởi sự uống rượu rhum của xứ Cuba . "Rhum làm nẩy nở những tình cảm của mình song lại làm chậm phần kỹ thuật nghề nghiệp", mẹ tôi nhận xét như vậy. Ông ngoại nặng thêm 30 kí lô , tự cảm thấy được rằng mình đã trở nên một người nhạc sĩ tồi , hay rất có thể là một diễn viên bỉ ổi trên sân khấu. Phải có một người chịu trách nhiệm trong chuyện này chứ ! Và ông ngoại uống rượu để tự hỏi ai sẽ là người để ông có thể quy cho cái tội làm cho ông rơi vào tình trạng thê thảm đó.
"Rượu là sức mạnh của sự sáng tạo, mẹ tôi cũng hay nói, rượu cũng tạo ra những kẻ thù số một nữa". Tiếp đó, mẹ thuật lại về phương diện chẳng chút nào rực rỡ về chuyện "thần thoại" của gia đình.
Mười năm sau, ông ngoại trở về Moss . Chẳng chút thẹn thùng ông nện cho bà ngoại một trận đòn nhừ tử . Tại sao mà bà lại dám đi tìm dấu tích của ông sau khi ông đã biệt tăm bởi lý do bà đã cho ra đời một đứa con gái, đó là mẹ tôi. Bà ngoại không hiểu là ông đã đi lạc đường mà thực ra thì ông là một người cha lý tưởng hay sao ? Nếu ngày đó, ông cứ ở lại Moss. Nếu ngày đó ông đừng đi biển thì hẳn ông đã là một nhạc sĩ đúng đắn với công việc vững chắc trong dàn nhạc thính phòng của Moss hay cùng lắm thì ông cũng chơi nhạc trong một ban nhạc tang cho những buổi tang lễ của cả tỉnh Ostfold .
Từ những lý lẽ này, ngay từ bản chất mẹ tôi đã tin chắc là như thế, vì sau đó đến lượt bà ngoại tôi đi trốn. Ở điểm này của chuyện kể, mẹ có thói quen ngừng lại một chút chuẩn bị cuộc hùng biện , đã được nghiên cứu cẩn thận của mẹ, tiếp đó mẹ khéo léo dàn xếp kết hợp phần thê thảm nhất của chuyện.
Bà ngoại chuồn với đứa con trong tay tìm đến ẩn náu tại nhà một người bạn gái ở Rade. Hai tuần lễ sau, người ta tìm thấy ông ngoại bị chết đuối gần quần đảo Missingere, không xa một chiếc xuồng bơi dài hơn 4 thước. Rất có thể là ông ngoại tự tử, cuối tháng 10, theo giả thuyết của mẹ tôi - còn gì khác nữa chứ ?. Nhưng cảnh sát đã không chịu xếp lại hồ sơ vì theo họ thì cái chết của ông ngoại có dính líu đến việc buôn lậu rượu và đó là kết quả một vụ thanh toán giữa hai băng nhóm thù nghịch . Ramus Bang là một người có rất nhiều bộ mặt khác nhau. Người cảnh sát trưởng trong vùng không bao giờ tìm ra được chữ cuối cùng để nói trong câu chuyện và thế là bà ngoại trở lại Moss, ở tại đây bà đã nhằm mắt từ trần trong vị trí một người bán kẹo và chocola tại Parkteateret.
Mẹ tôi chỉ để cập thoáng qua những diễn tiến tiếp theo . Làm cách nào để mẹ sống ? Mẹ đến cư ngụ ở Oslo ? Rồi theo ngày tháng, vì những câu hỏi mà chúng tôi đặt ra cho bà, chúng tôi đã nhận ra được qua một cuộc nói chuyện rằng bà ngoại làm quen với một hội viên đam mê âm nhạc của Nationalheatret, một người đàn ông vóc dáng vững chãi với giọng baryton nhưng ông này đã ưu tiên chọn lựa đường biểu diễn những câu hát ví von trong những vở ca kịch nhẹ để tiêu khiển khán giả hơn là thủ diễn một nhân vật phụ nực cười trong những vở bi kịch thiếu tính chất hài hước và chính vì lẽ đó ông ta xin được đổi về Opéra Na Uy ngay khi nhà hát nhạc kịch dời trụ sở về Folketeateret, nhà hát bình dân. Waldermar Schwacht. Một diễn viên kệch cợm , nồng nặc mùi mồ hôi , rống lên những âm điệu tang tóc trên khuôn mẫu thật đơn sơ đến nỗi mà nhà nữ phê bình Pauline Hall (1890-1969) của tờ nhật báo Dagbladet (một trong ba tờ nhật báo lớn của Na Uy) đã kết luận rằng nghệ thuật âm thanh của Schwatch có thể đương đầu được với tiếng be be của những con dê đực đang rạo rực vào mùa xuân.
Theo lời của cha tôi - người luôn lợi dụng chi tiết này để thêm mắm dậm muối vào câu chuyện - hành động của ông ca sĩ đó trong thời kỳ chiến tranh thật là mờ ảo đáng nghi. Dù thế nào chăng nữa nhân vật có tên là Schwatch đã thành công trong việc gài cho cô thiếu nữ trẻ đẹp Ase Bang, người gốc vùng Moss, mẹ tôi, vào một việc làm ở quán rượu của Nhà hát Na Uy . Tại đây, cô gái trẻ đẹp Ase Bang đã bán rượu champagne và những loại rượu trắng rẻ tiền vào giờ nghỉ chuyển hồi. Nhưng để biết được thực sự rằng đây là một nghĩa cử hay là hậu qủa của hành vi xúc phạm đến sự "toàn vẹn lãnh thổ " của cô gái mà hậu quả có thể dẫn ra trước vành móng ngựa , tôi cũng đã nhiều lần vắt óc suy nghĩ để biết thực giả ra sao. Ở điểm này không tài nào cạy răng mẹ tôi được.

Chính tại Nhà Hát Lớn mà mẹ đã gặp cha. Cha tôi, một chàng nhà quê không tưởng, cái bóng nhạt nhoà của một vở kịch hát mơ ước biến đổi thị trấn Hamar nhỏ bé trở thành một thành phố chính thực thụ. Câu trả lời của Na Uy để đối đáp lại thành phố Chicago của Hoa Kỳ, dù rằng rất xa vùng Hồ Lớn nhưng lại cũng thật gần một chiếc hồ, hãy xem : Mjosa, vùng lớn nhất của cả nước. Vậy thì Hamar là một thiên đàng ruộng đất đã hiện hữu, một khu vực có tiềm lực để phát triển đô thị. Những dãy nhà chọc trời ! Một phi cảng quốc tế ! biết bao nhiêu lời khích lệ cổ vũ làm cho những tá điền ở vùng này phải run sợ mà tháo thân bỏ chạy, những ca sĩ tập sự đang thịnh hành vào thời kỳ này ở Na Uy, tất cả đều tự phồng lên vì thiên hướng nhạc kịch mới mẻ của họ: đa cảm chủ nghĩa của những người này trên sự nghèo khó vừa là một thứ gì thực não nề lại cũng vừa đáng thực buồn nôn . Cha đã mời những người có tương quan thương mãi đến Nhà Hát Lớn với mục đích khắc sâu vào tâm não họ một chút gì gọi là văn hoá. Trong lúc nghỉ chuyển hồi của vở kịch, cha gọi cô phục dịch duyên dáng gốc vùng Moss đem những chai champagne đến. Ông muốn nhìn mọi thứ một cách vĩ đại. Và chỉ trong vòng 3 giờ đồng hồ là ông đã nhìn được rất rõ . Đó là lý do tại sao mẹ có thai trước khi có đám cưới. Việc sanh nở đã diễn ra một cách rất bi đát . Suýt nữa thì mẹ chết. Mẹ kể lại với chúng tôi suốt trong giai đoạn này mẹ ngụp lặn trong những bản nhạc kịch, mẹ say sưa với âm nhạc mà mẹ có thể nghe được trong thời gian cho con bú bằng cách nghe tất cả các đài truyền thanh, bởi lẽ, cũng chẳng có thứ gì khác để mẹ say mê. Cha thì chơi bảnh không thua gì những nhân vật lớn có tiền có của. Mọi thứ đều có thể được lúc mà các ngân hàng thoả thuận những yêu cầu vay mượn tiền bạc của ông. Dù sao đi nữa cũng được một thời gian, cho dù ngắn ngủi, cha tin chắc ăn như bắp vào kế hoạch biến đổi toàn diện vùng Hamar. Tình yêu của cha dành cho mẹ đạt mức vô chừng mực không còn giới hạn nào kìm hãm lại được những ước ao ông muốn thoả mãn những yêu cầu nơi mẹ. Nhưng cha muốn thoả mãn yêu cầu gì cho mẹ, năm 1950, trong khi khu vực Hamar vẫn là khu vực Hamar bất trị không thay đổi và nhân vật Hjalmar Vinding cũng chỉ có trong tay được vài căn nhà đã có được sau khi phải bỏ ra cả một cơ nghiệp kếch sù . Vài căn nhà này bây giờ chẳng đem lại được nguồn lợi quan trọng cần phải có . Khi chị Catherine ra chào đời là số phận của mẹ kể như đã bị niêm phong .
Tiếp đó là đến lượt tôi.

Sự lấp lửng mà mẹ cảm thấy đối với người con gái đầu lòng, chị Catherine, đã kéo dài suốt thời gian tồn tại của mẹ trên cõi đời này. Trong kỷ niệm, mà tôi còn nhớ rất rõ , tôi cảm thấy một sự căng thẳng tiêu cực ngăn rẽ hai người. Chị Catherine luôn tiếp tục đối kháng với mẹ. Sự bất đồng của chị tái diễn rất nhiều lần bằng cách bộc lộ ra qua những cơn tức giận đến độ chị thường luôn ngã lăn quay ra bất tỉnh. Cho tới hôm nay, tôi liên tưởng lại những biến cố đó, khi nhìn chị Catherine nằm liệt dưới đất bất tỉnh, vào những ngày lễ : đêm Giáng Sinh, bữa ăn tối lễ Phục Sinh, bữa ăn trưa ngày 17 tháng 5... Lần này sang lần khác, thường xảy ra đúng vào những ngày trịnh trọng như thế chắc chị hy vọng rằng sẽ đạt được mục tiêu của chị .

Như thể chị Catherine không tìm ra được một tình yêu hỗ tương với người đàn bà đã mang nặng đẻ đau ra mình , chị tìm nơi cha, hỡi ơi! người này cũng lại chẳng có thời giờ dành cho chị . Có một thời gian chị tìm ở nơi tôi, song tôi kinh sợ vì tính tình hung tợn của chị ấy đó là chưa kể đến chuyện từ lâu tôi là một "cậu bé" của riêng mẹ.

Rất có thể chính vì mặc cảm mà mẹ đã gặp phải nơi chị Catherine nên mẹ dồn hết tình thương cho tôi. Đã quá trễ để an uỉ chị Catherine và đứa trẻ mà tôi hoàn toàn chấp nhận không cần suy nghĩ tình yêu mẹ cho tôi.

Tôi liên tục thu dọn những chiếc tủ sau khi mẹ qua đời. Tôi liên tưởng đến những người trước, những người đã khuất. Họ đã mang lại câu trả lời cho sự hiện diện của tôi ở đây. Tôi thường xuyên bỏ lớp học .
Vào phòng ngủ cũng chính là phòng mẹ, trong đó một mùi ngai ngái, mùi của một người già bị bệnh liệt, và ngay cả lúc mà cha tôi đã tìm được một người đàn bà đến giúp việc trong nhà mỗi tuần một lần nhưng mùi của những thứ mà bà ấy xử dụng để lau chùi cũng chẳng một chút hiệu lực nào trên chiếc giường , chiếc giường xấu xa nơi xảy ra bao nhiêu tranh cãi. Một mùi của mồ hôi và thuốc ngủ. Tuy thế , tôi cũng vẫn chẳng một chút thương hại gì cha . Sự giải thích của mẹ về câu chuyện chung giữa hai người vẫn luôn chi phối tôi : chính cha đã đẩy mẹ đến tận chân tường, đã lấy hết tất cả những quyết định của mẹ khi nói dối sự thực về tình trạng tiền bạc của mình. Tôi thu xếp những chiếc tủ của một người đàn bà chưa bao giờ có cơ hội được sống một cuộc sống mà bà muốn sống. Tôi ở lại trong phòng suốt buổi sáng, đổ ra hết chiếc com-mốt, lục lạo đồ đạc, tìm những lá thư mà tôi tin chắc sự hiện hữu của chúng để cuối cùng chẳng tìm ra được gì. Không một dấu tích, hình ảnh cũng không, điều này làm tôi bối rối. Chỉ còn lại quần áo của mẹ. Quần áo và giầy dép và những đĩa hát kể từ nay trở đi cha sẽ ngồi suốt những buổi tối để nghe, như để gợi lại hình ảnh mẹ. Khẩn cầu linh hồn mẹ ? Thật chẳng phải là điều dễ dàng gì .
Mẹ cũng hình như chẳng gần tôi dù rằng tôi cầm trong tay những chiếc robe bà đã mặc , tưởng tượng là mẹ muốn chia xẻ với tôi điều gì đó qua sự vắng mặt của mẹ. Tôi xếp thật cẩn thận tất cả quần áo của mẹ để làm một ba lô gởi cho cơ quan từ thiện. Tôi mường tượng lại bộ đồ này là dành cho dịp này, bộ quần áo kia là dành cho dịp nọ... Chiếc robe màu xanh mà mẹ mặc vào lần đầu tiên tôi xuất hiện trên sân khấu trong buổi lễ ở trường học. Chiếc robe màu đỏ mẹ mặc khi đến ăn tối ở Continental, chính cái buổi tối đó mẹ đã cãi cọ thật dữ dội với cha. Chiếc robe đen mẹ mặc khi tham dự một đám tang và vào một buổi lễ tưởng niệm.

Trong khi tôi xếp dọn tôi nghĩ đến âm nhạc. Tôi mơ đến âm nhạc thì đúng hơn, chỉ có âm nhạc và chỉ âm nhạc, duy nhất có khả năng mở cửa cho tôi hội nhập vào cuộc sống này.
Âm nhạc tượng trưng món quà lớn lao nhất mà mẹ đã cho tôi, và bây giờ tôi hứa là sẽ chơi Debussy cho mẹ, bất cứ mẹ ở nơi đâu, trong dịp thi tuyển vào năm tới.

Kể từ đấy, tôi thấy như mình như được tiến hoá trong căn phòng nơi những bức tranh đắt tiền nhất đã bị hạ xuống đã bị thay vào bằng những tấm thảm với bề mặt lớn màu trắng buộc tôi phải nhớ lại chỗ treo những tấm tranh vẽ đó. Tôi cũng tự hứa là một ngày nào trong tương lai, tôi sẽ treo đúng ngay tại đó những bức tranh mới, đẹp hơn những tranh trước. Căn phòng chắc chắn sẽ không còn nhận ra được . Nhưng dù thế nào chăng nữa thì đấy cũng vẫn là căn phòng nơi mà mẹ tôi đã sống.


Troyes, 22 giờ 21 - tối 01.01.2009 tại La Sérénité .

CÒN TIẾP....
© dịch giả giữ bản quyền.
. lần đầu tiên đăng tải trên Newvietart.com ngày 19.01.2009.
TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM