GIỜI CAO ĐẤT DÀY



CHƯƠNG V



Mùa hè năm nay nóng hơn nhiều so với mọi năm. Ngọn phi lao bạc trắng, lá dứa dại bỏng rộp héo quắt, rừng sú vẹt tuy có được ngụp lặn dưới nước, nhưng ban ngày với cái nắng như chảo lửa cũng làm từng mảng rừng vàng bủng như cây bị úng. Buổi chiều gió cào nam mang hơi muối mặn thổi rin rít làm cho người nhơm nhớp rất khó chịu. Buổi sáng, vừa mở mắt đã thấy những tia nắng chói gắt như những mũi kiếm từ lòng biển xiên vào trong đất liền, rôm xảy cắn nhưng nhức.
Không hiểu sao sứa năm nay nhiều thế. Nước triều lên chở theo hàng đàn sứa bập bềnh vào bờ. Người ta lấy một cây nứa vót nhọn một đầu, đầu còn lại dùng đoạn tre buộc ngang, lội ra tít Cồn Đen tìm những con sứa to xuyên đầy cây nứa như xuyên chả rồi chờ cho triều lên kéo vào bờ. Nhà nào có thuyền thì bắt được hàng tấn.
Cả làng kéo nhau đi bắt sứa đông như hội. Chiều về mọi người vật sứa lên bãi, dùng cát biển đánh cho hết nhớt nhãi, xẻ ra từng mảng trắng trong như tấm thuỷ tinh, cho vào vại sành, trộn với trái sú vẹt đã được đập giập nấu chín. Sứa muối chừng một tuần thì lên men chua và ăn được. Họ thái từng miếng sứa trong vắt như pha lê đặt lên đĩa. Sứa chấm mắm tôm vắt chanh, nêm ớt, thêm vài cọng lá kinh giới cuộn vào miệng thì hết ý.
Một buổi sáng, Thuần dậy sớm ra bãi rình để giết con quái vật thì thấy một chiếc thuyền gỗ nhỏ (loại thuyền của người đi đánh lưới găm) bị sóng đánh dạt vào bờ. Chiếc thuyền gỗ tốt, lại còn cả mái chèo, Thuần chỉ chặt một cây tre đực làm cây sào là chiếc thuyền có thể tiếp tục ra khơi được.
Thế là từ đó Thuần có phương tiện để lênh đênh trên mặt nước. Không gian hoạt động của Thuần được mở rộng, không còn bó hẹp trong cái túp lều cỏn con bên bờ biển. Biển thật bao la và dữ dội, nước biển ngoài khơi xanh trong không màu phù sa nâu như ở trong bờ. Từng đàn hải âu trắng lao vun vút chao lượn xung quanh những chiếc thuyền lớn đang căng buồm rẽ sóng.
Mải ngắm trời biển nước non, đến khi Thuần giật mình nhìn xuống mặt biển ngay bên chiếc thuyền nhỏ của mình, trời ơi sứa, sứa nhiều quá. Những con sứa bập bều trên mặt nước như những chiếc dù đủ sắc màu rực rỡ... phía dưới chiếc dù là những tay hình tua bao quanh lỗ miệng. Bỗng từ những cái tay của một con sứa phóng ra một chất gì màu trắng làm một con cá đối bằng ngón tay út đang ở gần trúng độc chết ngay, rồi chính các tay của con sứa quơ lấy con cá đưa vào miệng. Hoá ra con sứa mà bấy lâu nay Thuần vẫn bắt, vẫn ăn mà cứ tưởng nó chỉ là một sinh vật hấng phù du của biển để duy trì sự sống.
Thuần gác sào ngồi trên thuyền buồn bã nghĩ phận mình thui thủi không được bằng thân con sứa. Tuy nó cũng không nhà không cửa, nhưng nó bình đẳng và được sống cùng đàn bầy và tự do phiêu du khắp năm châu, bốn bể. Nếu như Thuần được sống có bầu, có bạn, được tung tăng khắp mọi miền như những con sứa kia thì thích biết nhường nào. Thế là hàng ngày Thuần ra khơi, ngoài cái thú hòa mình với thiên nhiên, biển cả còn có một công việc khiến Thuần say sưa đó là đi nghiên cứu về con sứa. Cũng thú vị ra phết. Bình thường Thuần cứ nghĩ con sứa chuyển động bằng cách co bóp tán dù. Thực chất việc co bóp chỉ là để tạo lực đẩy lên cho mình khỏi bị chìm xuống thôi, còn thì di chuyển nổi trôi là phó mặc cho sóng gió đưa đẩy. Khi gặp mưa bão, giông tố, sứa lập tức khép cánh dù lại, chìm sâu xuống đáy nước để tránh bão tố. Loài sứa có bản năng cực kỳ nhạy cảm, Thuần quan sát chỉ cần trời thẫm lại khi chiều gần tối là sứa chìm ngay xuống nghỉ ngơi và tiêu hóa lượng thức ăn bắt được trong ngày. Sáng hôm sau, khi có ánh mặt trời là sứa lại từ từ nổi lên để tiếp tục cuộc phiêu du tưởng như vô định.
Một hôm trong khi Thuần đang lang thang cùng đàn sứa, bỗng thấy một con cá chuồn to dưới biển nhảy lên lưng một con sứa, loay hoay một lúc, rồi từ bụng con cá chuồn phọt ra từng chùm trứng vàng óng ánh. Đẻ xong, chú cá chuồn lại nhảy xuống biển. Để ý nhiều ngày liền Thuần mới hiểu ra rằng, hóa ra cá chuồn đã khôn ngoan gửi theo sứa những chùm trứng của mình, để tới một vùng biển xa xăm nào đấy, cá chuồn con chào đời mà không biết mẹ chúng ở cách xa muôn trùng.
Thuần nghĩ ngợi mãi, khác với con người lúc nào cũng muốn ôm con cái của mình ở trong lòng, cả khi đứa con đã trưởng thành nên ông nọ, bà kia, còn con cá chuồn ngay khi đẻ ra đã muốn con mình bay xa tự lập. Có lẽ chính điều đó mọi con vật thích ứng nhanh với thiên nhiên hơn so với con người.
Rồi một lần, Thuần phát hiện những chú cua xanh bé nhỏ chỉ bằng đầu ngón tay, chúng láu lỉnh đã tận dụng con sứa to lớn như chiếc tàu buồm để đi lại trên "boong tàu" thoải mái, đêm thì ngắm trời sao, ngày thì nép vào chân buồm tránh nắng. Khi đói, cua xanh mò xuống bụng tàu, chỗ sát kề miệng sứa, và ăn hóng các thức ăn mà sứa bắt được. Sứa cũng vui lòng cho cua xanh ăn thỏa thích, âu cũng là cần có một bạn đồng hành cho đỡ cô đơn giữa đại dương Nhưng đâu có phải lúc nào ai cũng là hành khách tốt bụng của chiếc tàu buồm. Có lũ cướp biển đóng giả làm hành khách. Đó là một con ốc to bằng ngón chân cái, trông giống như con cá cóc bụng tròn như những cái phao trôi lập lờ mặt biển. Gần đến chỗ con sứa trắng, con ốc tưởng như cái vật vô tri, vô giác bỗng bật vút nhảy sang bám chặt trên thân con sứa. Khi đã bám chắc rồi con ốc bắt đầu thè chiếc lưỡi màu xám ra gặm thân sứa ăn ngốn ngấu. Chỉ trong nháy mắt thân con sứa đã bị con ốc khoét sâu. ở một con sứa hồng khác đã bị con ốc tương tự ăn hết chỉ còn trơ lại bộ tua và chìm xuống đáy biển. Đến khi đó tên “cướp biển” lại rời khỏi thân sứa tự tiết ra một chất dịch và thổi phồng lên như chiếc bong bóng. Nhờ nắng gió chiếc bong bóng cứng lại như chiếc phao, tên “cướp biển” bứu trên chiếc phao đó tiếp tục cuộc đi nhờ ăn cướp.
Chứng kiến cảnh cướp biển của con ốc tàn ác, Thuần bỗng hiểu ra một điều cái ác ở đâu cũng có. Sống có nghĩa là chiến đấu với cái ác để tồn tại, nếu không liên tục đấu tranh để tiêu diệt cái ác thì có nghĩa là tự sát. Nghĩ thế Thuần chèo thuyền xông vào giữa bãi sứa tìm diệt tất cả những tên “cướp biển” hoặc đang trên mình sứa, hoặc đang trôi lập lờ trên mặt biển.
Thuần ngậm ngùi khi hiểu ra một điều, thân sứa nổi trôi, cuộc sống mong manh là vậy mà sứa sinh sản thật chậm chạp, khó khăn theo một chu trình dài lê thê. Tuyến sinh dục của sứa nằm trong dạ dày. Khi trứng chín, tuyến sinh dục vỡ ra và trứng theo miệng tràn ra ngoài. Lập tức những súc tu đón lấy chuyển vào các túi nhỏ ở thùy miệng. ở đó trứng được thụ tinh, thành ấu trùng, rồi ấu trùng rời khỏi mẹ, rơi xuống đáy biển, và mấy ngày sau biến thành thủy tức. Phần thân trên của thủy tức hình bầu như chiếc ly. Cạnh ly mọc ra những súc tu để thủy tức tự kiếm ăn . Một thời gian sau thủy tức tự mọc ra nhiều cái chồi, những chồi đó chính là những con khác tương tự. Qua một mùa đông lạnh giá, đến mùa xuân biển ấm lên và nhiều thức ăn, thủy tức lớn nhanh như thổi. Lúc đó, thân chúng tự cắt ra thành những lát mỏng như những chiếc đĩa nhỏ. Từ những mép đĩa lại mọc ra những chiếc tay, rồi lần lượt lật úp lại và từ từ nổi lên mặt nước. Bây giờ chúng mới thành những con sứa con thực thụ.
Ngẫm nghĩ, Thuần thấy nực cười. Con sứa thật đơn giản, nhưng sinh sản lại cực kỳ phức tạp. Trong khi con người phức tạp, nhưng sinh con lại không có gì phức tạp lắm. Chỉ cần đàn ông, đàn bà vướng víu vào nhau mươi mười lăm phút, chín tháng mười ngày sau, phọt một cái đã có một đứa con đầy đủ các bộ phận.

Cũng như mọi buổi sáng, chờ cho nước triều đầy bờ, Thuần lại chèo thuyền ra khơi đi chơi, nghiên cứu đàn sứa và bắt tiêu diệt những tên “cướp biển” để cứu đàn sứa và ngắm mây trời non nước, chán lại ngồi trên thuyền nghêu ngao hát một mình, hát thật to cho thoả thích. Ngoài biển Thuần cảm thấy được tự do, phóng khoáng hơn, và nhất là được hát giải phóng năng lượng tù hãm ở trong lòng. Thuần hát hết những bài hát đã thuộc, thì bịa ra để hát. Những bài hát Thuần bịa để ca ngợi cha, ca ngợi mẹ và ca ngợi Gấm, ca ngợi Sa, không có vần điệu gì phức tạp, cứ thích sao hát vậy cốt để thoả mãn lòng mình.
Say mê hát mà một cơn giông kéo đến lúc nào Thuần không biết. Gió bất ngờ nổi lên, rồi xoáy tròn và sóng cuồn cuộn như hung thần, chỉ vài trận xoáy chiếc thuyền nhỏ bé của Thuần như cái vỏ trấu trên mặt đại dương bị bốc gọn, ném đi và nhận chìm xuống đáy đại dương.
Thuần bị sóng biển cuốn phăng, nước biển mặn xộc vào miệng mũi đắng ngắt. Thuần thoáng nhanh một ý nghĩ kết thúc cuộc đời. Giữa bốn bề mênh mông biển cả, người có phao còn chết huống hồ Thuần chỉ có chiếc thuyền con, mà ngay cả chiếc thuyền con cũng bị thần biển cướp đi rồi. Trong óc Thuần thoáng qua hình ảnh cha, mẹ rồi Gấm, rồi Sa. Các hình ảnh đó nhoè nhẹt dần, đầu óc quay cuồng, choáng váng.Thuần đã cố gắng không để cho nước ộc vào miệng, và cố nhoi lên mặt nước, nhưng nhoi mãi mà không thấy mặt biển đâu. Lồng ngực Thuần căng phồng rồi hóp lại, rồi lại phồng lên. Những cơn co bóp của lồng ngực khiến nước biển mặn xộc vào mũi, vào miệng, lan vào trong óc. Mọi cố gắng giằng lấy sự sống của Thuần đã hết. Thuần buông xuôi… Vĩnh biệt Sa, Thuần đi gặp cha mẹ và Gấm của Thuần đây, nếu như Sa còn sống, một ngày nào đấy em hãy ra bờ biển đến túp lều hạnh phúc của đôi ta thắp cho anh một nén hương nhé. Vĩnh biệt...
Khi những ý nghĩ thoáng qua trong đầu chuẩn bị kết thúc, cái chết đã cận kề thì như có phép lạ, Thuần được ông thần biển đội ngược lên khỏi mặt nước. Đúng là “chết đuối vớ được cọc”, Thuần bíu chặt lấy lưng ông thần biển khạc nhổ rớt rãi và hít thở để giành lấy sự sống.
Cơn giông của biển cũng nhanh chóng chấm dứt. Biển trở lại hiền hoà vốn có của nó. Thuần đã tỉnh táo và chợt nhận ra ông thần biển mà Thuần đang ngự trên lưng hoá ra là một chú cá heo khổng lồ. Có lẽ đây là con cá mà mỗi lần Thuần gõ sào trên mạn thuyền ngêu ngao hát thì nó xuất hiện, lộn nhào như làm xiếc.
Con cá heo lầm lũi, thận trọng đưa Thuần vào tới bờ biển, đặt Thuần đứng xuống bãi rồi mới lặng lẽ quay ra. Thuần đứng lặng một lúc, và như chợt tỉnh ào xuống nước bơi theo con cá, ôm lấy đuôi nó vuốt ve để thể hiện lòng biết ơn kẻ đã cứu sống mình. Con cá heo cũng tình cảm, nó quay đầu cọ cọ chiếc vây vào má Thuần và nhẹ nhàng cất lên lưng rẽ nước chở đi một vòng. Thuần vừa ngồi trên lưng con cá, vừa vỗ về âu yếm.
Chừng như đã đến lúc phải tạm biệt, chú cá heo đưa Thuần vào bờ đặt xuống và cất cong chiếc đuôi như chiếc cờ đuôi nheo chào rồi rẽ nước tiến thẳng ra khơi.
Thuần thẫn thờ đứng trên bãi biển ngóng ra đại dương nơi con cá heo vừa rẽ sóng, trong đầu Thuần xới tung bao ý nghĩ buồn vui. Sự việc hết sức nghiêm trọng vừa xảy ra như một giấc chiêm bao có một không hai trong đời Thuần. Ngày trước còn nhỏ Thuần nghe ngư dân kể khi ra biển gặp cá heo phải lấy dao băm vào thớt thật mạnh để xua đuổi đàn cá hung dữ, nếu không sẽ bị nó lật đổ thuyền mà ăn thịt người. Vậy mà hôm nay nếu không có chú cá heo thông minh, nhân nghĩa này thì Thuần đã chầu Diêm vương rồi. Hung dữ như con ốc biển, lại nhân từ như con cá heo. ở đâu cũng thế cái thiện và cái ác song hành bên nhau và khó mà nhận dạng ngay được. Con cá heo to lớn trông hung dữ là vậy, nhưng lại nhân từ, cứu người hoạn nạn, còn con ốc nhỏ xíu trông như vật vô tri vô giác mà sao nó độc ác dữ dằn. Cũng như cô Bi ai cũng tưởng ngu đần thế mà hiểm độc.
Thuần còn đang đứng suy nghĩ, bỗng từ ngoài khơi xa xuất hiện một vật gì to lớn màu đen nhô lên khỏi mặt nước và lù lù tiến vào trong bờ. Lúc đầu Thuần tưởng con cá heo, nhưng khi vật đó rõ dần thì nhận ra đó chính là chiếc thuyền của mình đã bị thần biển cướp đi. Chiếc thuyền trôi đến gần chỗ Thuần thì dừng lại. Chú cá heo chui từ trong lòng thuyền và lùi ra. Trời ơi! Thuần không thể tưởng tượng nổi, tại sao trên đời lại có “người” tốt với Thuần thế này? Chú cá heo đã cứu sống Thuần, giờ lại tìm trao trả chiếc thuyền. Chờ cho Thuần nhận lại chiếc thuyền, con cá heo giơ đuôi có hình chiếc cờ đuôi nheo chào và lao vút ra khơi.
Sau buổi sáng bị chết hụt bởi cơn giông dữ, Thuần sợ không dám chèo thuyền ra khơi chơi nữa. Biển ứ đầy nước thì Thuần ở nhà chăm bẵm hoa màu và đan lát rổ rá. Nhiều khi nhớ đại dương, nhớ con cá nhân từ Thuần ra bãi biển nhìn ra khơi xa mênh mông, và rồi một hôm chừng như con cá heo nhớ bạn, nó đã vào gần bờ quất chiếc đuôi thùm thụp như báo hiệu cho Thuần biết. Ngồi đan lát trong nhà Thuần cầm con dao chạy ra những tưởng con quái vật hành hung ai, hoá ra chú cá heo vị cứu tinh của Thuần đã tới. Thuần ném con dao xuống bãi, gỡ áo quần nhào bơi đến ôm lấy con cá heo vuốt ve đùa giỡn. Con cá heo đẩy Thuần lên lưng và chở ra khơi chạy một vòng cho thoả thích rồi lại đưa Thuần vào bờ. Để trả ơn chú cá heo Thuần ca liền năm bài hát. Chú cá heo dường như thích nghe Thuần hát thật, nó cứ phe phẩy hai chiếc vây và chiếc đuôi thì nhẹ nhàng quạt nước.
Thế là Thuần có thêm một người bạn thân thiết. Lâu lâu nhớ bạn Thuần lại chèo thuyền ra khơi, gõ sào lên mạn thuyền nghêu ngao hát, chỉ một lát sau chú cá heo tìm đến và nổi lên nhào lộn. Kết thúc “chương trình ca nhạc”, Thuần gỡ quần áo nhào xuống biển leo lên lưng cá bay vài vòng, rồi mới lên thuyền trở về đất liền, và bao giờ cũng thế con cá heo bơi tiễn cho đến khi nước cạn thì nó mới giơ đuôi chào quay trở ra.

Từ ngày Thuần rắp tâm tiêu diệt con quái vật, lẽ ra nó phải biết điều mà chùn bước, ngược lại càng ngày nó càng hung hăng, dữ tợn. Hôm qua, một cô gái đi bắt cua lạc trong rừng sú vẹt, khi tìm vào được bờ thì đúng chỗ cái hồ mà con quái vật ở, nó đã hiếp chết cô gái ngay tại miệng hồ. Tiểu đội dân quân có một người chỉ huy mang sáu khẩu súng CKC ra chĩa xuống hồ bắn không biết cơ man nào là đạn. Ai cũng nghĩ con quái vật sẽ phải đền tội, nhưng đến đêm Thuần vẫn nghe thấy tiếng quẫy đập thùm thùm của nó. Và ngay hai ngày sau, không dừng lại hoạt động khu vực quanh hồ nữa mà nó mở rộng vùng gây tội ác, tiếp tục đuổi định hiếp một chị phụ nữ bắt cáy ở vùng biển xa hơn, nếu không có Thuần ra kịp thì có lẽ chị ta khó mà thoát.
Tiểu đội dân quân mang một ki lô gam thuốc nổ TNT ra giật nụ xoè rồi ném xuống hồ. Khối thuốc nổ long trời lở đất, nước dựng lên thành cột, ở trong làng nhìn thấy, những cây sú vẹt quanh hồ chết hết; còng cáy, cua tôm...nổi trắng hồ. Vậy mà không biết nó trốn đâu, chỉ một ngày sau lại lặn ngụp thùm thụp. Có người bảo hồ sâu, chắc là ở dưới lại có hang nên nó trốn thoát được.
Nhưng từ khi có con cá heo thỉnh thoảng vào bờ chơi với Thuần, thì dường như con quái vật có phần đỡ hung hãn hơn trước, vì vậy mà Thuần cũng ít chèo thuyền ra khơi, để cho con cá heo siêng vào bờ hơn, dân làng Bùi đỡ phải bị con quái vật gây tội ác.
Để chấm dứt tội ác nhất định phải tiêu diệt con quái vật và Thuần quyết định dùng thuốc độc trừ khử. Thời kỳ này nhà ông đội trưởng đội sản xuất nào cũng có chai thuốc trừ sâu DDT hoặc 666 treo ở gốc chanh, gốc cam để hàng ngày bà con xã viên lấy pha chế mang ra đồng phun trừ sâu cho lúa, cho bèo hoa dâu. Vì vậy không có gì phải khó khăn lắm Thuần đã có trong tay một chai thuốc độc 666. Thuần tẩm thuốc vào một con cá rồi đặt miệng hồ. Con quái vật quá tinh khôn đã không thèm đếm xỉa đến miếng mồi. Bực quá, Thuần đổ cả chai thuốc xuống hồ, nhưng không hiểu sao con quái vật vẫn không chết. Sáng ra nước triều lên tràn ngập, hồ nước lại trong lành. Đáp lại hành động của Thuần, ngày hôm sau con quái vật rình mò mãi bãi bắc hiếp một người con gái nữa, may mà có người đến cứu nên chị ta thoát chết.
Thường thì mỗi lần nước lên biển lại cung cấp tôm cá cho cái hồ này, do đó mà con quái vật không bao giờ thiếu thức ăn. Ngoài thức ăn nó bắt được dưới hồ, có khi ban ngày nó còn lên bãi cạn đuổi bắt cá lác, nhệch và các loại động vật khác để sinh sống. Thuần đã nhiều lần trông thấy, toàn bộ phần trên của nó chỉ là một con cá màu trắng hơi tía, trông không có gì đáng sợ, phần dưới là một người đàn ông, bình thường cũng không thấy tởm lợm lắm, chỉ nhỏ bằng quả ớt. Nhưng khi nó chuẩn bị giở trò đồi bại với phụ nữ thì cái giống đực của nó thật kinh tởm, bỗng lớn dậy vùn vụt trông như của một con ngựa đực. Những cô gái bị nó hiếp chết chủ yếu bị vỡ toang, máu xối ra như giáo đâm. Nếu không phải là Thuần hoặc dân làng Bùi chứng kiến những tội ác nó đã gây ra thì khó có thể nhận biết nó là con quái vật. Đã là quái vật thì bao giờ cũng dư mánh khoé, thủ đoạn, diệt được nó không phải dễ.
Thế là vùng biển này trở thành một vùng cấm kỵ. Trên bờ có một người hủi sinh sống, dưới biển thì một con quái vật luôn rình rập hãm hiếp đàn bà con gái. Thỉnh thoảng giặc Mỹ lại ném xuống một quả bom thừa khi bay qua gây tội ác ở đâu đó. Người đi biển vắng tanh, thuyền bè nếu có ra khơi vào lộng chủ yếu theo cửa sông Diêm, hoặc cửa sông Trà. Dân bắt còng bắt cáy, xét cua, cào don, bắt día v. v...thưa hẳn.
Thuần đã buồn, nay lại càng nẫu ruột. Nỗi buồn tủi nhục của người bị đồng loại bỏ rơi, nỗi buồn của người tìm cái ác để trả thù mà bất lực, nỗi buồn của kẻ để mất người mình yêu mà không sao tìm lại được, nỗi buồn của con người nhưng không được sống làm người. Tất cả nó cộng lại, nhân lên bởi cảnh vật nơi vùng biển heo hút vắng lặng, khiến cho Thuần u uất, căm tức đến nghẹt thở. Ai cho ta làm người đây? Ai cho ta tự do đây? Ai! ai!
Thuần hét lên, hét toáng lên trong đêm. Căn lều u tịch, giữa đêm khuya sau tiếng thét không lời đáp lại chỉ bị nuốt sâu vào thinh không giữa biển khơi càng làm cho thêm u mịch. Thuần ức quá, ức mà không làm gì được. Thế thì Thuần phải chửi, chửi cho hả lòng, hả dạ. Nhưng mà Thuần phải chửi để cho chúng nó nghe thấy, chửi thế mới đã, chứ Thuần chửi một mình ngoài biển thì cũng như không. Thuần phải chửi đứa nào làm tan nát gia đình Thuần, để đời Thuần nên nông nỗi này. Ông Đội thì Thuần không biết tên, và hình như không có tên thì phải, cả nước chỉ gọi nó bằng một cái tên chung “ông Đội”. Vậy thì Thuần phải khoét hai chiếc sáo, dùng sáo diều để chửi bố con con mẹ nhà Bi. Bi, Bô. Đúng rồi! Phải chửi cho bố con nhà nó biết Thuần còn sống đây và đang đòi nợ máu, chứ đừng có vội mà nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.





...CÒN TIẾP...
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 10.01.2009 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội .


. TÁC PHẨM CỦA BÙI THANH MINH CHỈ ĐĂNG TẢI TẠI NƯỚC NGOÀI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM