TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




MẠC CAN








TRUYỆN NGẮN


HÈ MUỘN

























HÈ MUỘN


Phía bờ biển có tiếng nổ trầm, rung chuyển. Một vệt khói trắng kéo dài trên trời. Đầu ngọn khói lóng lánh chiếc phi cơ tiêm kích nhỏ xíu, tiếng động cơ phản lực rền rền vẳng xa. Khói phía sau đuôi nó mờ dần. Nhanh tựa mũi tên bay, con chim sắt đẻ một quả trứng, rồi vút lên cao, nghiêng cánh xoay tròn, lẩn vào khoảng không bao la.

Hẳn chưa có nơi nào mà trời cao khủng khiếp như nơi này, xanh trong, không một sợi mây. Trông rõ những quả bom rơi xuống, như trò chơi.

Làng chài bên bãi biển, khói lửa mù mịt, những ngọn dừa cụt đầu cháy xém ngả nghiêng. Chiến sự ngày đêm, chung quanh, xa gần làng Chùa, làng hẻo lánh ít người nằm buồn trên cát nóng trắng phau. Giữa những náo loạn, cũng có khi lắng xuống, tĩnh lặng. Ngôi chùa màu rêu xanh của làng Chùa hiền hòa này nằm say ngủ dưới nắng vàng rực, trên gò cát. Mù mờ vài thôn xóm xa xa, còn xa hơn nữa, nhìn ngút mắt là cánh đồng cát trắng hoang vắng. Không nơi nào cát trắng hơn, nóng hơn và nhiều miểng pháo lẫn trong cát hơn nơi này.

Toàn cảnh trơ trọi thương tích. Con sông cạn, sông vào mùa nắng dữ, nước dán mỏng trên cát và sỏi. Sông cứ vắt ngang qua cánh đồng, phân chia thành hai vùng. Bên này hay bên kia sông vẫn là cát, màu trắng trải dài tận chân trời.

Có một người nhỏ bé, dẫn chiếc xe đạp thồ đi ngang qua con sông, nhìn xa như có phép thần thông đi trên mặt nước. Người đó leo lên bờ cát với chiếc xe đạp, xa dần, biến mất trong màu trắng. Vẫn là màu trắng, trên nền dải núi xám ngoẹt, màu trắng càng trắng hơn, trắng lóe mắt.

Một vài tiếng nổ bụp bụp giữa lặng im. Vùng trắng. Trái phá từ đỉnh núi mờ xa, chỗ ánh bạc cái chảo ra-đa thám thính, rót xuống, nơi xuất phát còn lơ thơ sợi khói. Đạn cối rơi vãi đó đây, tung trời lẫn đất. Vùng xôi đậu, hiểm nghèo, mìn bẫy, kẽm gai, cát, xương rồng.

Ở đây có những chiếc lá nhỏ, đồng thời cũng là loài hoa vô danh. Lá và hoa cần kiệm, ba mà chỉ là một. Lá vót nhọn. Hoa còn là gai, gai màu xam xám, mũi cứng sắc nhọn màu đen tuyền, như ai tẩm thuốc độc sát thương, xuyên qua đế giày lẫn dép nhựa. Nằm ngụy trang dưới lá là gai.

Cánh đồng cát trắng, chỉ có ngôi chùa là còn chút màu xanh rêu. Người ta gọi chùa là Chùa Gò. Chùa cất lúc nào ít ai biết, cột tròn, mái thấp, nền gạch lạnh. Mỗi chiều tiếng chuông buồn buồn vang xa theo cơn gió. Có lúc cả tiếng chuông chùa và tiếng súng cùng vang vang. Ngôi chùa như một người hiền lành đứng lắng nghe mọi việc va chạm chung quanh mình. Lại có lúc, các gian nhà nhỏ chung quanh chùa, nhà bếp, nhà thụ trai cho bá tánh, và cả chánh điện, trở thành trạm cứu thương dã chiến cho cả hai bên.

Tượng Phật bằng gỗ, thếp vàng ngồi trên bục, vẫn như ngày nào, từ bi nhìn xuống những nỗi đau. Gió nóng đưa những cuộn cỏ khô, lá chết vàng úa, hạt cỏ nhỏ nhoi, từ ngoài kia, vướng tràn ngạch cửa gỗ lim của chùa, một ít hạt cỏ dại và lá úa vượt qua, bối rối nằm im dưới chân tượng Phật.

Những con chim se sẻ bay chui vào cái ngách trên xà ngang trong chùa, làm tổ. Vài chú chim con chờ mồi, đưa cái mỏ mềm ra vành cỏ khô, kêu chíp chíp. Có khi giữa trưa vắng lặng, thứ nắng mùa hè lười biếng, chậm chạp bò tới ngưỡng cửa, vào chùa. Nắng nằm nửa ngoài, nửa trong, cánh cửa gỗ lim dày, bên trong tranh tối tranh sáng, cánh cửa cũng đứng im nhìn nắng. Mọi thứ êm trôi, trừ con chim sắt, kéo theo sợi khói trên nền trời xanh. Nó luôn chểnh mảng, hư hỏng, làm rơi những quả trứng màu xám nặng, nổ tung, có khi lười biếng cắm vào đất, nằm ngủ im ru.

Đêm cũng nóng hầm. Đêm núi biết đi, trông như tới gần bên vách nhà, với tay thì đụng. Trời trong vắt vì ngày nắng dữ, cho đêm lạnh, đất bốc hơi ngoằn ngoèo. Cũng không lạ khi có tiếng súng nhỏ đanh khô nghe chốc chốc đâu đâu ngoài cánh đồng, rồi tiếng vút qua của viên đạn mồ côi. Nó đỏ chóe, bay như là oan hồn, rơi rơi, lạc đâu đó, hết hơi rớt ngoài những cây tre, mà cành và lá cũng đứng im vì nóng.

Vào một mùa hè những năm xôn xao, lần đầu tiên tôi ngạc nhiên, vì bất thần gặp Yến. Gặp chứ không phải là gặp lại, vì thật ra tôi cũng không biết nói cách nào khác hơn. Yến với tôi nào phải xa lạ, chúng tôi là người làng Chùa, hai đứa có lúc ê a trong cái trường cũng không xa mái chùa. Chúng tôi cùng được sinh ra nơi hẻo lánh này, cũng không ai định đi đâu, chưa lúc nào rời lâu hơn một ngày cái làng này.

Thường ngày, hay là một hai ngày, tôi vẫn thấy Yến đi trên mặt sông, qua bên kia bờ cát, đi vào trong núi. Tôi không biết Yến vào trong núi làm gì. Sau đó thì ra Yến gài bẫy bắt những con kỳ đà. Loại bò sát này, trong tình hình lương thực khan hiếm là vàng, với lại nó ngon không thua thịt gà. Tôi chỉ muốn nói hằng ngày tôi vẫn thấy Yến, nhưng chính hôm tôi vừa nói, tôi mới gặp, vì vậy mà tôi ngạc nhiên.

Hôm đó, giữa trưa. Sau khi không chỉ là một vệt khói trắng, con chim sắt xoay tròn trên trời. Một lũ chim với âm thanh cường kích, xé toạc cả tai. Một lũ chim khác, với những cánh chong chóng quái dị xoay nhanh trên lưng, từ trên mặt biển bay tới, tròn vo nhỏ xíu như bầy ruồi lằn. Một lúc sau khi bay thẳng vào làng, chúng lớn khủng khiếp, khạc ra từng dòng đạn lửa, nơi nào có người.

Trong cái bụng phệ của bầy kên kên này, nhảy xuống cánh đồng cát không biết bao nhiêu là kẻ lạ mặt. Trên đỉnh núi ánh bạc những cái chảo ra-đa, tiếng nổ bụp bụp giữa buổi trưa nóng tới nỗi chim còn không kêu. Đạn trái phá rót vào làng Chùa, từ phía những người khách bôi mặt đen vũ trang tận răng. Những người khách này chiếm được một phần rìa làng, bên các hàng tre già. Họ có khoảng chừng trung đội, bắt đầu đào công sự, nằm sát dưới đó, rồi bắn vãi về phía núi, bên kia sông. Đêm sáng trắng. Không hiểu chuyện gì mà họ cứ bắn, gọi điện đàm, và la ó suốt. Tôi chạy về phía trường học cũ. Sau đó Yến tới với các phụ nữ khác.

Mọi sự diễn ra giằng co, chậm chạp tới nóng ruột. Mặt trời mù sao lại cứ ở hoài trên đỉnh đầu. Vào buổi chiều, người ta mang về sân chùa những người bị bom napal đốt cháy khét. Trong số này không thiếu đàn bà, ông bà già và con nít. Các nạn nhân thảm hại là đàn ông trung niên. Vài người bị thương nhẹ. Người chết đắp chiếu để gọn một nơi. Cái chết diễn ra quen thuộc, ngày nào không có người chết mới là lạ. Nhưng cũng như những con kiến thợ miên man làm việc, mọi người yên lặng làm việc của mình. Băng bó, cưa cắt tay chân ai đó. Không ai nói gì với ai. Không có ai khóc. Cuối cùng thì chỉ còn tiếng chíp chíp của mấy con chim non, trên cái tổ nằm trên xà ngang nghiêng đổ của ngôi chùa đang là trạm cứu thương.

Tôi thấy Yến, là một đứa con gái, cỡ tuổi nhỏ hơn hoặc bằng tôi. Không biết nó từ đâu tới, trong cảnh máu me thảm sầu bi kịch, mà nó tỉnh tuồng, sạch sẽ tinh tươm, lành lặn khác thường. Không phải tôi cầu cho ai cũng rên rỉ, nhưng tôi ngạc nhiên vì sao có đứa lành lặn tuyệt đối như nó, buồn cười. Câu chuyện tôi đang nói, rất khó kể cho rõ ngọn nguồn, vì nó như là cát ở nơi này, không thể ví von hay làm thơ màu khác được. Chuyện Yến và cả tôi sau này nữa, không hề đột biến, hay nhiều kịch tính. Một câu chuyện lặng lẽ, bình thường, trong xôn xao loạn lạc khói lửa chiến tranh.

* * *

Còn bây giờ, sau bao nhiêu năm, mỗi ngày tôi vẫn nhìn thấy Yến. Yến gần như không già đi, không khác đi nhiều. Yến làm tôi ngỡ cô như tượng Phật trong chùa, năm tháng qua đi mà ngài vẫn vậy, ngồi thiền, lẳng lặng nhìn mọi việc bằng đôi mắt trầm tư. May cho tôi, từ những ngày xa xưa đó, cho mãi tới bây giờ tôi vẫn mím chặt môi.

Tôi đột nhiên yêu, bất thần yêu. Tôi yêu Yến, chứ còn có cô gái nào mà tôi cứ thấy hằng ngày như Yến đâu. Tôi vẫn yêu Yến, một cách tự nhiên như là cây cỏ, nếu có, như ở quê tôi người ta yêu nhau. Song muôn đời tôi chỉ nhìn Yến mà chưa bao giờ nói anh yêu em. Tôi ngờ rằng nếu tôi nói, thì cũng chẳng khác bóng nắng lười biếng kia, vẫn như ngày nào, và cả bây giờ, nằm nửa trong, nửa ngoài cánh cửa gỗ lim dày. Cánh cửa cứ đứng im nhìn nắng.

Có nơi nào mà thời gian trôi đi trông thấy, mà mọi vật vẫn vậy, như nơi này. Không thay đổi, thay đổi và trù phú hơn, sau chiến tranh, như các vùng khác. Các dải làng sau chùa, và ngôi chùa màu rêu, cũng trở lại những ngày tháng bình yên buồn buồn, say ngủ. Với tiếng con gà trống duy nhất nổi hứng gáy giữa trưa, hai chân cựa dài bươi bới lớp lá mục ẩm, dưới bóng râm của lũy tre già bao quanh chùa.

Yến vẫn cứ không đẹp lắm, vẻ mặt buồn hiu, ít nói và không cười. Yến của tôi như cát. Tôi yêu làng nghèo của chúng tôi, và tôi yêu em chính vì em không đẹp. Yến có vài vết rỗ hoa trên mặt, nhưng cô có bận tâm gì nó đâu. Những cô gái ở vùng khô cằn sỏi đá này, có biết điểm trang soi gương làm chi, cùng lắm cũng chỉ là chải lại mái tóc cháy nắng khi đi cúng chùa. Tôi chợt khám phá ra tôi, tôi cũng là một con người lười lĩnh không khác Yến. Kể từ một ngày xui rủi. Có những số phận khó bình yên khi loạn lạc là chuyện tất nhiên. Nói ít người tin, tôi lại rất khác, hình như không ai để ý gì tới tôi, từ khi tôi là một thằng bé, cho tới lớn, khá lớn. Sau khi hòa bình tôi ở vào khoảng bốn mươi.

Điều tôi lạ nhất, mọi người trong làng Chùa nếu chợt thấy tôi đang cưỡi chiếc xe đạp xuống chợ, khi nhìn tôi, họ giật thót cả người. Tôi như con ma cứ sống sờ sờ trong khi mọi người trong làng Chùa này, người thì chết từ rất lâu, người thương tật. Mà sao chính tôi cũng thấy mình lạ, hơi sờ sợ làm sao. Bom đạn, miểng pháo, bao nhiêu năm, rơi, chém, phạt, nổ tung trước mắt tôi, mà tôi vẫn không việc gì. Mảnh trái phá ở quê tôi thì tôi còn lạ gì. Tôi vẫn thường lượm nó lên từ trong lá hoa gai và cát. Mảnh trái phá, mảnh lựu đạn, mảnh bom thường có màu tím với những cái gai bén ghê người. Cũng không thiếu việc khi không, trên cát và thậm chí dưới màn nước cực mỏng của con sông cạn quanh năm suốt tháng, những viên bom bi, mìn cóc nổ đùng.

Nhiều người đang đi bỗng nổ tung lên, như đùa. Người nổ tung không phải trò xiếc mà là sự chết. Chết cả khi đã hòa bình, kể cả khi không còn tiếng súng. Họ nổ tung khi đi qua cánh đồng sau chùa. Cánh đồng cát bao la vẫn có con sông cạn, nước ít oi trong veo, nằm ngang qua chia hai bờ. Con sông ở xa xa mù mờ, chảy xuống làng Chùa, sông nhỏ lại thành con kênh uốn éo. Bên kia kênh là nhà Yến, bên này là tôi. Muốn qua lại phải đi vòng lên khoảng trên, chỗ những lùm tre gai dày đặc, nơi mới có một cái cầu khỉ cho cả làng.

Vì sao mà con người đang đi, thậm chí bơi dưới sông lại cũng nổ tung. Có người vắt chút ít thịt và tóc trên ngọn cây, có người còn một tay và một chân. Trên cánh đồng và dưới lòng sông làng Chùa đầy mìn cóc.

Trong cuộc đời quá nhiều vô lý, tôi sống bình yên, thậm chí là vô tích sự. Quả thật đôi khi tôi có ngất đi, làm sao mà tránh khỏi cảnh tên bay đạn lạc. Nhưng khi tỉnh lại trong trạm cứu thương trước sân chùa, tôi vẫn không bị một vết sẹo. Tôi mở mắt ngạc nhiên, vì chung quanh tôi nhiều người chết, còn tôi thì vẫn sống. Tôi cũng ngạc nhiên nhìn Yến. Buồn cười chưa, cô bé xíu, rồi cô con gái, cứ vẫn bình thường như tôi, mặc kệ mọi người, vẫn không trầy một chút da.

Nói như vậy cũng tội nghiệp Yến. Thật là trớ trêu. Cô có muốn vậy đâu. Mà chẳng lẽ cô muốn mình bị sát thương. Đó là điều làm cho hai chúng tôi trở thành một cái gì kỳ cục, dị hụ nhất trong làng Chùa. Nói là ngôi chùa tĩnh tại cứ say ngủ là một cách nói. Tường và cửa nhà chùa cũng lấm tấm miểng pháo, cái xà ngang nơi thường có tổ con chim sẻ, vẫn hơi nghiêng xuống vì mái ngói trái của ngôi chùa bị trúng trái phá.

Nhìn vết thương nơi hiền lành, tưởng chừng không thể có này, tôi và Yến suốt ngày bỡ ngỡ ngượng nghịu, tôi và Yến như có phép mầu nhiệm cứu độ một cách vô duyên. Yến và tôi vẫn cứ vậy, mới phiền. Hình như cả hai giông giống một loại cây kiểng, bệnh tật, bị bó lại, kềm thúc không cho sống, mà cũng không cho chết.

Không có gì xáo trộn cho cả hai. Chúng tôi nhìn mọi sự diễn ra trước mắt. Một cách chậm chạp, lười biếng và nhàm chán. Hai chúng tôi là hiện thân cho sự buông tha trớ trêu của chiến tranh, nỗi khổ của sự nhàm chán.

* * *

Tiếng con chim se sẻ ríu rít trên cành tre già. Tôi với Yến treo hai chiếc võng vào thân tre. Yến bên kia, tôi bên này hàng tre đầy gai. Cả hai nằm ngửa mặt, mở mắt nhìn lên trời. Giờ thì lũ chim sắt bị đuổi đi khỏi đây, bầu trời vẫn xanh ngát, cao và vẫn không một gợn mây như ngày nào. Nói cho đúng, khi nằm trên võng, đong đưa kẽo kẹt giữa trưa hè, mắt nhìn lên, cũng không thấy nền trời nhiều cho lắm, nhưng cả tôi và Yến cũng chẳng màng.

Nắng long lanh chui qua cành lá tre dày xanh đậm, dưới đất đầy những lá tre khô vàng lốm đốm nắng. Mặt trời không ở yên một nơi, nắng nóng trên kia tinh nghịch chui vào tai, vào mắt.

Có lẽ tôi đã ngủ một giấc ngắn, bây giờ là giữa trưa. Không gian bốc hơi vắng lặng. Lúc nào cũng vắng lặng. Dưới bóng râm của lùm tre già, con gà mẹ rúc rúc gọi con. Những cô chú gà con chui vào ức của mẹ. Trong khi bố gà trống cồ vạm vỡ cứ dùng hai chân cựa cào bới bươi tung tóe những lớp lá tre ướt mục. Tìm được con sâu cái kiến nhỏ, gà trống oai vệ túc túc gọi vợ và các con, mổ mổ cái mỏ to cứng cáp xuống những con kiến non ngon lành, rồi làm ra vẻ lãnh đạm nhường nhịn.

Nắng từ trên cao đổ xuống, cùng với tiếng chuông chùa vang. Sao lại nghe như có tiếng vút qua của viên đạn mồ côi. Chiêm bao vào ban ngày ư. Không phải là chiêm bao mà tôi bỗng nhớ lại. Dù sao thì vẫn là chiêm bao vì tôi ngủ say.

Tôi phải khoe là tôi rất thú vị, như là đi coi phim, màn ảnh nổi, vì sau mi mắt của mỗi khán giả, lúc này toàn một màu đỏ sáng trưng rực rỡ. Nó là lửa đám cháy dữ dằn của những ngày cũ, chính tại nơi này, với nhiều màu sắc khác nhảy choi choi, giống như các mảnh màu trong ống kính vạn hoa. Trong điệu múa của thần chết, bỗng nhiên tôi nhìn thấy Yến trôi theo dòng sông lửa màu đỏ. Nhưng không, Yến đang nằm trên võng đong đưa lười lĩnh. Con gà trống cứ dùng chân cựa bới, cào sâu vào gốc tre gai.

- Nóng quá.

Lần đầu tiên trong ngày tôi mới nghe Yến nói. Bên này hàng rào tre gai dày, tôi cúi xuống nhìn, vì nghe tiếng ríu rít của mấy cô chú gà con. Mẹ gà xù lông vùng vẫy làm cho những lớp lá tre khô bung ra, lớp lá dưới những chiếc lá vàng giòn rụm. Loi choi một bầy kiến và trứng kiến non trông béo ngậy.

- Nóng quá.

Tôi cũng nói. Sau khi nói được hai tiếng nóng quá, tới giờ Yến vẫn không nói gì. Cho tới khi cả hai chúng tôi đứng lên, toan rời khỏi những cây tre già, rồi lại lười biếng nằm lại trên võng, nhìn nắng chen chúc qua kẽ lá tre đứng im như tranh vẽ.

Khi đó, có lẽ là cả Yến, cô vốn ít khi để ý cái gì chung quanh, bây giờ, hình như Yến cũng nhận thấy, dòng sông dâng ngang ngọn tre già. Vì chúng tôi đang ở trên gò cát cao hơn. Hoàn toàn không phải, dòng sông dâng cao vẫn chậm trôi một cách buồn phiền dưới nắng. Do nắng làm quáng mắt.

- Nóng thật.

Gần như là con sông lên tiếng than phiền. Sông cắt đôi cánh đồng cát từ xa xa, uốn khúc chảy xuống làng Chùa, trở thành con kênh nhỏ quến chặt bùn nhão đen kịt. Yến nói gì đó, tiếng nói bị nắng đốt cháy khi vừa ra khỏi môi. Yến không nhìn tôi mà cứ nhìn dòng sông. Mà Yến đã nhìn từ lúc trưa, rồi chiều, bây giờ thì sẫm tối. Dòng sông bỗng sáng lên khi khung cảnh chung quanh chìm vào tối. Mùa hè tới muộn hơn tôi tưởng, có điều buồn cười, tới nay tôi vẫn cứ suy nghĩ một mình "mùa hè tới muộn hơn tôi tưởng".

Tôi khẽ nhìn Yến. Không biết sao, lúc này nửa khuôn mặt của Yến, phía tôi nhìn thấy, lại chìm trong bóng tối, dù nó thuận hướng về phía mặt trời. Không hẳn vì mặt trời đang tìm cách trốn xuống bên kia núi.

Nửa mặt bên kia của Yến hướng về bên bờ trái của con sông, nơi tôi không thể thấy, mù mờ bóng tối, lại sáng rực lạ thường. Thoáng chốc, tôi vừa mới hiểu kịp vì nó ánh lên một màu lửa cháy nóng của bom napal. Bỗng nhiên tôi khóc mà lần lữa một lúc tôi vẫn không tìm được lý do vì sao lại khóc. Tôi sẽ không bao giờ tìm được vì chính cả khuôn mặt tôi cũng nhuộm một màu đỏ cháy như Yến.

Mặt trời chìm sâu bên kia núi, nửa con mắt lửa nhìn xuống cánh đồng cát. Giờ thì cát như đang sôi. Cát di chuyển, lay động, như dưới nó có một lò lửa khổng lồ.

Trong khung cảnh êm đềm của một chiều hè buồn hiu, bỗng nhiên tôi buồn không kể xiết, không hề vì dòng sông lúc này trông ảm đạm hay là bầu trời về chiều không vui. Tôi chợt thảng thốt, tôi muốn khóc chỉ vì một ngày nào đó Yến sẽ chết. Tôi cũng sẽ chết. Thậm chí chúng tôi có những đứa con. Khi nào nhìn chúng, những đứa con của cát, vui vẻ chơi đùa, tôi cũng nghĩ, không thể khác, rồi đây những khuôn mặt xinh tươi này cũng sẽ mất đi.

Tôi dửng dưng nhìn thấy bầy gà con rúc rích bên mẹ, như những cuộn len nhỏ màu vàng óng. Gà mẹ lo lắng vì chiều dần tới. Nhưng gà trống cha vẫn dùng hai chân mạnh mẽ của mình bới lớp lá ẩm mục. Gà trống lo xa. Làm chủ một gia đình không phải là dễ, tích cốc phòng cơ, trời có khi mưa lúc nắng.

Tôi không dửng dưng, khi bất chợt nhìn thấy màu vỏ đồng thau quen thuộc của cái núm kíp nổ của trái mìn cóc. Không phải chúng chỉ có một thằng, mà một hàng dài sắp đặt. Tên kẻ cướp nào tinh nghịch, trước khi rời làng, chúng chơi khăm. Mìn cóc ư, mìn dĩa, và mìn mặt trăng khuyết. Nó cười khi va chạm bất cứ thứ gì, dù đang trong một giấc ngủ triền miên. Những con kiến trông buồn cười, tức tưởi, hốt hoảng tháo chạy, cụng râu nhau vội vã.

Mùa hè nơi này tới muộn thật. Chiều rồi tối dần mà hè vẫn chưa tới. Tôi gọi Hè như tên của một người.

Rồi tôi không còn kịp làm chuyện gì khác hơn, là bay bổng lên trời. Tôi nổ tung. Yến bay lên trước tôi, hiện ra ở khoảng không trên tôi. Những con gà non vàng óng màu len tươi, với mẹ gà chân tay xáo trộn, bay chung quanh Yến. Tôi thấy cánh tay trái và một phần vai của tôi, lại lơ lửng khá xa tôi.

Yến rơi xuống trước tôi, với chỉ nửa mảnh sọ, và mái tóc rối nùi cháy sém. Tôi chỉ còn kịp, nếu thật sự là kịp, nhìn thấy dòng sông cạn, nơi Yến thường đi qua lúc trước, để vào núi. Nước bị đun chảy, từ dưới cát và sỏi tung mạnh lên cao, như một vòi phun. Trên ngọn nước đỏ ngầu, là một người nào đó bị tùng xẻo. Khi tôi và Yến rơi trở lại mặt đất, trời tối đen...

Mỗi chiều, mặt trời về ngủ bên kia núi.


MẠC CAN


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC