GIỜI CAO ĐẤT DÀY



CHƯƠNG IV



Khoảng mười một giờ đêm, giữa lúc triều cường thì bão đổ bộ vào làng Bùi. Bao nhiêu đời nay ở vùng biển cạn này bão chỉ đổ vào đất liền khi nước triều đầy ắp bờ, vì thế mà nguy cơ nước tràn, vỡ đê càng lớn.
Ngay từ chiều hôm trước, trời như một đứa trẻ đang nô đùa bỗng tự dưng câm bặt. Không một làn gió. Mây trên trời vân vẩn như máu cá, đặc sệt đứng im. Rừng phi lao chĩa thẳng đứ lên trời lặng lẽ như những mũi chông. Không khí oi nồng đến khó chịu. Chiều gần tối mảng trời phía tây áng lên như mỡ gà làm làng mạc, biển cả, không gian như bị nhuộm bởi thứ thuốc vàng khè. Trời như hung thần đang căm giận, nín thở, bí mật làm một bản hiệp đồng với biển cả để tiến hành một trận cuồng phong hòng tiêu diệt mọi sinh linh trên mặt đất, dưới gầm trời.
Thuần như một chấm đen đứng trước đại dương, ngẩng lên nhìn trời cao. Cả một không gian mênh mông, bao la và vĩ đại, ngoài tầm hiểu biết của Thuần. Nghĩ cũng lạ, con người có bao giờ khiêu khích và làm gì đến ông trời? Vậy mà trời cứ tự dưng lên cơn thịnh nộ, hành hạ con người. Bao nhiêu năm sống ở làng Bùi, Thuần chứng kiến cảnh nhà tan cửa nát chỉ vì giông tố, bão lụt. Con người nhỏ bé, hiền lành suốt đời cặm cụi chọc ngoáy tý chút trên mảnh đất, và ơn mưa móc của trời để sinh nhai, nào có gì to tát lắm đâu?
Biển lặng phắc, phập phồng thở giống như nồi nước khổng lồ lăm tăm sắp sôi và sẵn sàng bùng lên, dập tắt tất cả. Mùi của biển động tanh tanh, nồng nồng, ngai ngái bốc lên mà chỉ có người của biển mới cảm nhận được khi biển thở. Biển thở là sắp có bão lớn. Ngoài khơi xa, nước biển tím sẫm dâng cao lừng lững như một đoàn quân vũ khí hùng hậu, nai nịt gọn gàng, đang dàn trận hướng vào đất liền. Rừng sú vẹt lặng lẽ và hiên ngang cũng chuẩn bị đối đầu với trận cuồng phong của thiên nhiên.
Khoảng mười giờ đêm, gió bắt đầu nổi lên. Lúc đầu còn nhẹ, sau rồi cứ mạnh dần và rắc rắc mấy hạt mưa. Mưa không dày hạt và liên tục, nhưng hạt mưa lớn, lại ràn rạt từng đợt nhỏ. Thuần chạy ra bãi nhìn lên bầu trời. Trời đen kịt như một chiếc vung lớn đang từng phút, từng giờ chụp chặt lấy mặt đất. ở phía chân trời ngoài khơi xa dội vào bờ những tiếng bập bùng, bập bùng như ở đó đang có một trận hỗn chiến. Thuần chạy lên đê trông vào chân trời phía tây nơi làng Bùi. Phía đó, trên bầu trời đen đục, vẩn lên như khói bom.Trong làng tiếng trống, tiếng kẻng và cả tiếng chuông nhà thờ, nhà chùa báo động ầm ỹ. Dân quân, thanh niên rầm rập chặt tre, gỗ đi hộ đê. Bão lớn thật rồi, lớn lắm. Ngay từ sau tết Nguyên đán, Thuần thấy những chiếc lá của cây cỏ gừng thắt lại làm ba đoạn, nghĩa là năm nay sẽ có ba trận bão đổ vào làng. Đoạn thắt lại đầu tiên lớn nhất, thì cũng có nghĩa là trận bão đầu tiên sẽ rất lớn.
Nước triều đã đầy bờ, chỉ khoảng một tiếng đồng hồ nữa là nước đứng. Sóng bắt đầu có giọng nói khang khác, không oàm oạp như bình thường, mà mỗi đợt sóng đổ vào bãi cát vang lên tiếng roàm roạp, rồm rộp, rồi lại lặng phắc khi sóng giật ra, và đánh ầm một cái thúc mạnh vào chân bờ. Nửa đêm, gió lớn dần, mưa thêm dày hạt, rồi gió như hung thần quất ràn rạt, lao vun vút, túm lấy rừng phi lao lay giật, quay tròn, vật lên, vật xuống, gãy đổ răng rắc; cát bị gió xới lên ném tung quất rào rào xuống bờ dứa dại hai bên chân đê. Một cây phi lao lớn như chiếc cột buồm bị gió hành hạ vặt trụi bộ tóc, vả cho tơi tả rồi vật đổ gãy rắc đè nghiến xuống chiếc lều bé bỏng của Thuần.
Chiếc lều nép mình trong rừng dứa dại tưởng như an toàn, nhưng đến khi cây phi lao lìa đời thì chiếc lều sập xuống. Thuần chỉ kịp thu gom một số vật dụng cần thiết và lương thực nhét vào chiếc bị, chui vào gầm giường, sẵn sàng sơ tán nếu như đê vỡ, hoặc nước triều tràn qua.
Bầu trời quay tròn, xoáy dựng lên như chiếc vỏ ốc chổng ngược. Gió hun hút, hông hốc và với một tốc độ hơn trăm ki- lô-mét một giờ, tức là gió khoảng cấp mười hai, giật trên cấp mười hai làm Thuần giống như chiếc diều chỉ chực đứt nèo bay quăng quật đâu đó.
Hung thần như có trăm nghìn bàn tay đẩy cả đại dương mênh mông ập vào đất liền. Nước ngập trắng rừng sú vẹt. Từng đợt sóng từ ngoài Cồn Đen, lớp lớp xô dạt rồi hoà vào nhau lớn nhanh thành một con sóng thần dựng ngược lên trời đổ roạp xuống bãi cát. Nước triều bị gió bão xô đuổi, dồn ép dâng cao, dâng cao dần. Một cơn sóng thần bốc trọn chiếc thuyền gỗ cùng cả gốc lẫn ngọn một cây vẹt mà người ta ràng nó với số phận chiếc thuyền, ném vỡ tan ra từng mảnh trên mặt đê bên cạnh chiếc lều. Nước biển mặn chát táp vào mặt, vào miệng, nhấm nhứt da thịt Thuần. Không ngờ bão tiến triển nhanh quá ngoài tính toán của Thuần. Phải rút ra khỏi chiếc lều thôi. Thuần quấn chiếc áo mưa rồi bò ra ngoài quan sát, trời nước mông mu quá. Cả một vùng biển cạn rồ lên cơn động kinh, hú gào như ma quái. Một cơn gió lớn luồn xuống bụng Thuần móc lên để vật xuống, ném đi. May quá, Thuần quơ được gốc phi lao ghì chặt dán xuống cát. Nước biển mằn mặn táp vào mặt Thuần, rồi một đợt sóng oà lên phủ xuống khoét một mảng cát nuốt trửng vào bụng đại dương. Nước triều như một đoàn chiến binh ở mũi tiến công mặt đất đã bắt đầu tiến sát đến gần chân đê. Con đê vững trãi, im lìm chuẩn bị gồng mình lên tuyên chiến với đại dương hung dữ.
Đoàn chiến binh của mũi tiến công mặt đất đã tràn vào chiếc lều của Thuần, chúng thò bàn tay ma quái túm gọn chiếc lều giật tung, rắc! Chỉ một nhát cả một công trình đời Thuần tung lên trời, tan như mây khói.
Thuần ôm chiếc bị bám vào mặt đê bò nhích từng tí một. Thuần bấu chặt vào cỏ, bấm xuống đất, chờ khi nào gió sơ hở thì lại nhích thêm một chút. Chỉ cần buông lơi là hung thần bốc trọn Thuần ném đi như chiếc thuyền gỗ đã vỡ tan tành. Gió gầm rú xoáy tròn lay, giật, một bụi dứa dại bị trốc tận rễ cuốn tung lên trời cao mất hút. Nước hung hãn thúc vào chân đê, từng đợt sóng quật mình thí thân vào đê rồi tung dựng ngược lên nhìn trong đêm trắng xoá.
Thuần đã vượt được mặt đê tụt xuống dốc bên kia khuất gió, nhanh chóng chui vào rừng dứa dại. Dứa gồng mình lên như những con rồng tạo thành hang hốc che chắn gió bão. Thuần mò mẫm trong đêm tìm được một nơi nhẵn và rộng, cuốn tấm áo mưa trọn người nằm xuống, mặc nước mưa tuôn, mặc gió gầm, triều réo Thuần cứ ngủ. Những lúc như thế này Thuần ao ước được vào trong làng quá. Ôi làng Bùi nhỏ bé đau khổ mà mến yêu của Thuần, vào làng dù không ở trong nhà mà được cùng dân làng chạy lăng xăng giúp đỡ mọi người, chống trọi với giông bão cũng sung sướng rồi. Thế mới biết, dù phải chửi nhau, thù hằn nhau, đánh nhau, thậm trí giết nhau nhưng được sống cùng đồng loại vẫn còn hơn bị đồng loại xua đuổi.
Thuần nằm thế mặc cho giông bão, đại dương giận dữ, gào thét gầm rú, mặc cho số phận rủi may. Gió càng lớn, mưa càng to, thỉnh thoảng từng đợt sóng đập vào lưng đê tung mình lên đổ xuống rừng dứa dại quất vào tấm áo mưa bao tròn lấy Thuần kêu ràn rạt. Mặc, Thuần vẫn nằm khoanh tròn mơ lại những ngày cha con, anh em quây quần đầm ấm thuở ấu thơ trong những ngày giông bão.
Trời tang tảng sáng. Gió mệt mỏi chuyển sang hướng tây nam rồi nhẹ dần, đại dương cũng dường như nhụt chí, rời rã, uể oải bỏ lui dần trận tuyến. Con đê vẫn hiên ngang lầm lỳ vững trãi, rừng phi lao bị đánh tơi tả, đổ vật nhào, nhiều cây hy sinh, nhiều cây bị thương gẫy gập, còn lại vật vờ xơ xác. Mũi tiến công trên không của trời cao thất bại. Không còn yểm trợ, mũi vu hồi dưới đất của đại dương mênh mông cũng rời trận tuyến rút lui dần. Rừng sú vẹt, đội quân âm binh tiền tiêu, đội quân đặc công nước của làng Bùi ló đầu lên mặt nước mừng chiến thắng. Làng Bùi vẫn hiên ngang trụ vững, tuy những luỹ tre tiền tiêu đầu làng và những bụi chuối bị đánh tơi tả, xác xơ. Người trong làng hò nhau ra sông, ra đồng bắt cá, dựng lại lúa, khơi nước, tháo cống để cứu hoa màu. Sau trận chiến thắng, khuôn mặt ai cũng tươi rói, nói cười thăm hỏi nhau xem có nhà ai tổn thất gì không?
Thuần lặng người đứng trước cảnh hoang tàn của căn lều. Không còn gì, không còn gì hết, thậm chí tìm một nhúm cành khô, đốt lên sưởi ấm và nướng một củ khoai để đưa vào bụng cũng không thể.Giận trời, giận đất, giận đại dương? biết giận ai bây giờ? Trời cao kia, đất dày này! sao mà nỡ hành hạ một con người vốn đã khốn khổ, côi cút.
Thuần đói quá, đành lấy một nhúm gạo đưa vào miệng nhai cho đỡ cồn cào. Thôi thế là bao nhiêu công lao gây dựng một cơ đồ nay chỉ trong chốc lát tiêu tan như công dã tràng sau một lớp sóng biển.
Tự dưng Thuần ứa nước mắt. Không chỉ Thuần mất trắng, tiếc công ứa nước mắt, mà vì còn tủi cái thân con còng đực cô đơn. Sau mỗi lần con người vượt qua được cái chết, trở lại cuộc sống, sự trơ trọi, cô đơn là điều đáng sợ nhất. Sự mất mát đó đối với Thuần vô cùng khủng khiếp.
Thuần ngồi trút tủi hờn một lúc bỗng dưới bãi lầy, nơi chiếc hồ có con quái vật sinh sống vang lên một tiếng kêu tựa hồ như biển thét. Thuần giật mình nhìn ra, con quái vật, mối thù của Thuần đang vật mình trên bờ hồ, nó đang đuổi theo một người đàn bà toan hãm hiếp. Thuần nghiến răng rút con dao trong chiếc bị chạy ra để xả thịt nó. Như có hung thần mách bảo, con quái vật lao ùm xuống hồ biến mất tăm. Thuần đứng lặng như cây gỗ nghiến, bao nhiêu căm thù uất ức chất chứa trong đời giờ dồn lại nơi con quái vật, như thể nó là hiện thân của thần dâm loạn và độc ác, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm cuộc đời Thuần bất hạnh. Con quái vật – cô Bi – Đội – bệnh hủi, tất cả đang hoà quyện trong đầu Thuần, nóng lên, lạnh đi, nổ tung.
Gì rồi cũng phải sống, có sống mới làm lại được bao nhiêu cái tiếp theo. Việc đầu tiên Thuần vơ những lá phi lao bị gió đánh dạt trên mặt đê đem hong gió cho khô để nấu được nồi cơm. Khi lửa đã cháy lên rồi thì lửa lại hong khô những thứ để lửa tồn tại, cứ thế Thuần cũng gom được kha khá đồ đun cho những ngày trước mắt. Rồi Thuần lại hỳ hục gần một tháng trời dựng lại căn lều đúng cái chỗ nó đã bỏ Thuần tan vào biển cả.

Một buổi chiều, khi cơn bão đã đi qua Thuần ra đứng trên đê dõi mắt vào làng Bùi. Làng vẫn im lìm trù phú, ở phía đầu làng nơi có con đường mòn mà mọi người và Sa vẫn từ đấy đi ra có con trâu đang đủng đỉnh gặm cỏ, một tia nắng chiều đột kích vào rặng tre ngà ánh lên một màu vàng le lói. Tự dưng Thuần nhớ Sa quá, nhớ quay quắt, phảng phất, mênh mang. Những lúc khó khăn như thế này có Sa giúp đỡ thì hạnh phúc biết mấy, Thuần đang cần Sa đi chợ bán và mua sắm một số thứ mà cơn bão đã cướp đi. Sa ơi! Em đi đâu, hay có ai ngăn cấm em? mà sao không báo cho anh biết.
Đêm đó Thuần lại bò vào trong làng nằm ở bờ rau ngót để tìm cho ra tung tích Sa, vẫn không hy vọng. Biết tìm Sa ở đâu bây giờ? Trở về chiếc lều côi cút, Thuần nằm hóng ra khơi đếm buồn cho khuây khoả. Gió nam mát rượi rót từ ngoài khơi vào khiến Thuần nhớ tới những buổi chiều cùng cha đua diều chơi sáo. Cứ chiều chiều cha cầm dây, con đua, diều lên cao, cha con ngồi hóng mát mà ngắm, đã lắm. Phải rồi, tại sao Thuần không làm diều để chơi với trời, với đất cho đỡ buồn, để nói chuyện với dân làng Bùi, để gọi và báo cho Sa biết rằng Thuần còn đây và đang nhớ em da diết. Thuần nghĩ mình phải tìm mọi cách để làm một chiếc diều thật lớn, chiếc diều sẽ thay Thuần tiếp xúc với mọi người, đưa tiếng nói của Thuần đến với họ.
Ý nghĩ làm một chiếc diều để tiếp xúc với mọi người khiến Thuần thổn thức suốt đêm không ngủ được. Cái khó nhất đối với Thuần bây giờ là khoét một chiếc sáo làm sao để khi diều cất lên trời thì tiếng sáo phải gọi được tên Sa. Âm sa thuộc loại âm ro của tiếng sáo, từ âm ro khoét thành âm so, rồi lại từ âm so khoét thành âm sa. Như thế thì miệng sáo phải choãng ra, bụng sáo phải thót lại, đúng như con người khi phát âm sa. Thuần phải thử biết bao nhiêu lần, cho đến lần thứ mười bảy mới tạm được. Thuần trèo lên ngọn một cây phi lao cao nhất buộc sáo vào đó chờ cho gió nồm nam thổi lên, nghe thấy sáo phát đúng âm sa thì Thuần mới yên tâm chằng buộc vào bụng chiếc diều dài ba mét, rộng một mét. Cuộn dây vót bằng sợi tre dài đúng hai nghìn mét hy vọng khi cất lên diều của Thuần sẽ vươn tới giữa làng. Đêm nay là đêm trọng đại đối với Thuần. Lần đầu tiên Thuần công khai sự hiện diện của mình trên cõi đời này đối với làng Bùi; là đêm Thuần cất tiếng nói của mình để toàn dân làng Bùi phải nghe, dù sang hay hèn, dù giàu hay nghèo, dù có quyền lực hay không có quyền lực, từ già trẻ, gái trai đều phải nghe tiếng nói của một người mà bấy lâu họ không chịu thừa nhận, khinh rẻ. Đêm nay cũng là đêm Thuần cất tiếng gọi thiết tha yêu thương đối với Sa. ở trên trời cao Thuần gọi Sa, dù ở đâu thì cũng nghe được tiếng nói của Thuần.
Từ chiều Thuần đã nấu nướng, ăn uống sớm, rồi kiểm tra lại toàn bộ mọi thứ đã thấy yên tâm. Thuần ra mặt đê ước lượng cự ly từ đê vào làng, ngóng ra khơi, trông ngọn phi lao để xem chiều gió. Trời vẫn xanh trong, mây trắng lãng đãng mấy vệt dưới chân trời phía tây. Gió cào nam đã bắt đầu nổi lên, cứ đà này thì tối nay nhất định gió trời sẽ mạnh. Quả nhiên vừa chập tối từng vệt mây trắng đục trên trời cao chuyển động từ đông sang tây với tốc độ mạnh. Thuần mang diều ra chỉnh lại dây nèo, rồi từ trên đê Thuần buông diều theo chiều gió. Thật là may mắn cho Thuần, không một lần trục trặc, chiếc diều lao vút lên bầu trời xanh, cùng với tiếng sáo ngân lên trong trẻo. Thuần từ từ thả dây cho đến khi chiếc diều đậu tới giữa làng thì ghìm lại, dong dây về cột lại bên lều và chạy ra đê nghe ngóng. Trời tối Thuần không còn nhìn thấy diều nữa, nhưng tiếng sáo diều thì rõ mồn một. Tiếng sáo vang lên trong đêm âm vực “sa... sa... sa...” vừa tha thiết, vừa xót xa. Tiếng sáo loang ra, ngân vang dội từ trên không trung xuống làng Bùi, lan toả khắp góc cùng, ngõ hẻm, lan vào từng căn nhà góc chợ... đâu đâu cũng âm vang tiếng Thuần. Thế là tất cả dân làng Bùi phải nghe tiếng nói của Thuần; mọi người phải ngước lên trời để chiêm ngưỡng mà bàn luận về Thuần, Sa cũng đang nhìn lên và nghe Thuần gọi tên. Đã bao nhiêu năm trong lòng họ không có bóng hình Thuần, tiếng nói của Thuần họ chẳng coi là gì, thậm chí Thuần chửi họ cũng không thèm chấp, vậy mà hôm nay, đêm nay tất cả dân làng Bùi đều nhất loạt phải vểnh tai lên trời mà nghe Thuần nói, nghe Thuần gọi tên người yêu, phải nghe, nghe một cách say sưa, không bàn luận thành lời, thì cũng phải suy nghĩ trong đầu. Thuần đứng lặng trên đê tận hưởng niềm sung nỗi sướng, lòng hân hoan như người thắng trận, và rồi tự dưng nước mắt rơi ra từng giọt. Cha ơi, mẹ ơi và chị Hương ơi!trước đây người to nhất làng Bùi, có quyền lực nhất làng Bùi nói chưa chắc cả làng Bùi đã nghe hết, vậy mà hôm nay cả làng Bùi đã nghe con nói.
Suốt đêm Thuần không ngủ, nằm dõi theo tiếng sáo diều rót vào đêm trong; hình dung ra biết bao tình huống. Thuần sung sướng như một ca sỹ mang giọng hát của mình đến với mọi người, và làm cho mọi người say đắm. Tiếng hát chẳng qua là tiếng nói có giai điệu làm say đắm lòng người. Tiếng sáo diều là tiếng hát do Thuần làm ra, và dĩ nhiên đó là tiếng nói của Thuần, nhưng là tiếng nói hay, không muốn cũng cứ phải nghe.
Gần sáng thì Thuần dậy thu diều về vì sợ trời hết gió diều rơi xuống làng sẽ mất. Chờ cho mọi người đi làm đồng Thuần lại ra mặt đê nhìn xuống, theo dõi xem có thấy ai bàn tán gì không. Họ cặm cụi, miệt mài trên từng thửa ruộng, khi có kẻng báo động họ chạy xuống những chiếc hố cá nhân đào bên bờ sông, hết báo động họ lại tiếp tục làm việc, không thấy có dấu hiệu bàn tán gì về sự kiện tiếng sáo diều của Thuần đêm qua.
Thuần hơi thất vọng và quyết định đêm nay phải bò vào trong làng xem phản ứng của làng Bùi với tiếng sáo diều; xem hiệu lực “lời nói” của Thuần đối với dân làng Bùi thế nào? Kẻ nói phải có người nghe, nói không có người nghe khác gì gió vào nhà trống.
Thuần bò vào nằm trong bờ cây dong của một gia đình, nếu chiếu thẳng lên trời là nơi chiếc diều đậu lại.
Nhà chỉ có một ông cụ, một cô con dâu và một đứa cháu trai khoảng mười tuổi. Cô con dâu đang giã gạo ở chái bếp, ông cụ và đứa cháu nằm trên chõng tre giữa sân, họ đang nghe và bàn luận về tiếng sáo diều của Thuần. Ông cụ nói:
- Làng này ngày xưa chỉ có bố con ông Địch chơi diều là giỏi nhất. Diều của họ có thể đậu trên trời cả tuần lễ mà không rơi ; tiếng sáo thì không lẫn vào đâu được, nghe cứ như trời đang hoà nhạc... Sáo diều có bộ của nó, vậy mà chưa bao giờ ông nghe được một tiếng sáo lạ như thế này, nó không nằm trong bộ sáo mà người ta thường chơi; nghe vừa thao thiết như tiếng than ai oán của đất dày, tiếng gào thét căm hận của trời cao lẫn vào đó như tiếng gọi của lòng yêu thương con người. Không biết diều nhà ai hở cháu?
- Ông ơi, sáo diều làm bằng gì mà sao nó hát hay thế ông nhỉ?
Ông cụ như không nghe thấy lời của đứa cháu, mắt bay vào trời xa, giọng ông xa xăm từ cõi âm dương vọng về:
-Nó chỉ là một đoạn trúc...Người xưa đề cao trúc lắm, ví trúc với người quân tử : thân thẳng, đốt cứng, mình óng, đầy chất vẻ thanh cao tiết trực. Ruột trúc rỗng, biểu trưng của đất trời hư không. “Trời đất hư không mà không kiệt”. Trúc được dùng làm sáo. Lòng rỗng, để nguyên thì thật “hư”, thả hơi vào phát vang lên tiếng lại thành “hữu”. Mà hơi khí cũng vốn là thứ vô sắc, vô hình... Tiếng sáo đúng là thứ “tượng” của trời...
Ông nói như để cho lòng mình nghe. Tiếng ông trầm bổng hoà vào thứ âm thanh huyền diệu trong đêm của trời cao khiến cho Thuần xúc động. Lần đầu tiên Thuần được nghe lời một cụ già nói về tiếng sáo diều hay đến thế. Thế mà Thuần chỉ nghĩ tiếng sáo diều chẳng qua là thứ âm thanh nói hộ lòng người, cao hơn một chút nữa là tiếng nói của Thuần ngân lên rót vào làng Bùi hoặc tiếng lòng của Thuần gọi Sa tha thiết. Bây giờ Thuần còn hiểu từ tiếng lòng đã trở thành âm thanh của trời cao, như ông cụ nói nó là “tượng” của trời. Thế thì Thuần sướng quá, từ nay Thuần không còn can cớ gì mà tủi nhục nữa. Tiếng nói của Thuần là tiếng nói của trời khiến cả làng Bùi phải nghe. Thuần nói cho cả làng nghe, họ say sưa nghe và thán phục Thuần.
Người con dâu vừa bưng thúng gạo từ chái bếp ra vừa góp chuyện: - Con nghe người ta nói đó là tiếng sáo diều của thằng hủi ngoài biển đấy ông ạ.
Ông cụ lặng yên. Một lát ông nhỏm dậy, giọng chậm rãi vẻ xúc động:
Cháu tôi phải tội với đời
Bây giờ đưa sáo lên trời kêu oan...
Thuần nghẹn ngào, lặng đi trong vườn dong vì cảm động.
Ngồi nhấm nháp lời cụ già được một lúc, Thuần tìm đến nhà Sa. Nhà tối om lặng như tờ, có lẽ họ đã đi ngủ. Thuần ngồi bờ rau ngót đến cả giờ cố moi móc lấy một tia hy vọng nhưng vô hiệu. Tiếng sáo diều nỉ non trên không trung gọi Sa thao thiết. Mỗi lần chiếc diều chao là mỗi lần tiếng “sa” lại gào lên như khóc, vậy mà Sa ơi, em ở phương trời nào hãy về với Thuần đi, đừng để anh thơ thẩn mãi tìm.
Đêm ấy, Thuần trở về túp lều tranh nằm nghe tiếng lòng nỉ non trên không mà sót xa cho phận mình, phận người. Trăng sáng quá, sáng đến nỗi làm mê mẩn lòng người. ánh trăng lại làm Thuần nhớ người vợ hiền đã mang đến cho đời mình những tháng ngày hạnh phúc. Thuần nhớ cũng vào một đêm trăng sáng như thế này Gấm đã trao cho Thuần nụ hôn đầu tiên, chưa bao giờ Thuần quên nụ hôn nóng bỏng đầu đời ấy.
Đó là một ngày giữa tháng, nhớ lời Gấm dặn, nên Thuần không ăn cơm thợ, mà trở về nhà Gấm để cúng rằm. Cúng cáp, ăn uống xong xuôi, Thuần mang chiếc chõng tre ra sân nằm ngắm trăng. Trăng đẹp quá, trăng như lòng đỏ trứng gà in lên bầu trời xanh trong ngắt, không một gợn mây, chỉ có trời trong bao la. Thuần ngắm cây đa mà tưởng tưởng trên mặt trăng có một cuộc sống thanh nhàn và tốt đẹp lắm. ở đó chắc không có bệnh hủi, không có kẻ sang người hèn và không có sự đối xử phân biệt như ở làng Bùi. Thuần ao ước chỉ có Thuần và Gấm được lên sống ở trên đó để cùng nhau xây một cuộc đời thật hạnh phúc. ở đó Thuần và Gấm sẽ sinh những đứa con thật đẹp và chỉ dạy cho chúng những điều tốt đẹp, không đố kỵ, không độc ác, không bon chen, biết thương yêu con người. Ao ước được cộng hưởng với cảnh tươi mát, đẹp đẽ trên cung trăng làm cho trí tưởng tượng của Thuần càng thêm hưng phấn. Gấm dọn dẹp nhà cửa xong mang chiếc ghế đẩu ra ngồi bên.
Gấm như chị Hằng trong trăng bước ra ngồi chải tóc. Mớ tóc dày mướt óng lên khi được gội trăng làm cho hình ảnh đẹp của Gấm càng thêm huyền ảo. Rồi nhát lược bỗng dừng lại giữa mái đầu nhường chỗ cho im lặng và suy tư. Thuần phải co một chân lên để che đi cái đàn ông dậy thì đang cựa quậy. Như vô tư, đầu gối Thuần tỳ vào lưng Gấm. Toàn thân Gấm như có lửa truyền sang, tê tẩn. Thế rồi bàn tay cầm chiếc lược đang ngưng giữa mái đầu như bị triệt tiêu hết năng lượng, rợi phịch xuống ngực Thuần. Chỉ chờ có thế Thuần lùa hai cánh tay khoá chặt bụng Gấm. Người Gấm mềm đi, suối tóc thơm mùi hương sả phủ trùm kín ngực Thuần. Hơi thở dồn dập và họ quấn chặt lấy nhau, họ vật nhau để đổi chỗ cho đúng vị trí mà trời đã sắp đặt. Trời ơi! Thuần nhớ lúc đó sao khuôn mặt Gấm đẹp biết nhường nào, đẹp đến mức Thuần cứ mê đi ấp đôi môi nóng hổi của mình vào cái nụ hoa nhú nở rười rượi trên khuôn mặt tuyệt mỹ của Gấm. Họ hôn nhau, những tưởng chỉ có một lần, họ khao khát muốn dâng hiến cho nhau, nhưng bản năng gìn giữ của người con gái còn ngăn lại được. Chính bức ngăn đó càng làm cho năng lượng dâng hiến bùng nổ. Đúng cái lúc tưởng rằng cả hai người nổ tung, xẹp lép thì Gấm bằng bản năng gìn giữ của người phụ nữ đã thoát khỏi cái gọng kìm của Thuần, chuồi ra vội vã đi vào trong nhà, chả để làm gì và cuối cùng thì cô cũng mang ra được cho Thuần ca nước. Ca nước đã giúp Thuần dịu đi phần nào bỏng rát. Nhưng mà trăng vẫn sáng, lại sáng một cách nhã nhượi hơn, lẳng lơ hơn cũng như Gấm vẫn đẹp lại đẹp một cách quyến rũ hơn làm Thuần không thể nào cưỡng nổi đành ném ca nước xuống sân khoạc đôi cánh tay qua bụng Gấm và bế xốc ngồi vào lòng mình. Họ cứ ngồi thế cho đến khi Gấm thấy cái đàn ông của Thuần đang lớn dậy mau chóng, cứng như một cục sắt nguội, nóng như một thanh sắt nung đang lừng lững nằm ém bên mép bờ lối đi vào trong Gấm. Trời ơi! Điều mà Gấm ao ước bấy lâu nay, ao ước với một người mình yêu đã đến, vậy thì còn có gì phải suy nghĩ, đắn đo. Anh Thuần yêu mình, và mình cũng yêu anh ấy, chúng mình sẽ có con và sống hạnh phúc bên nhau suốt đời. Gấm phải cho anh thôi. Gấm cho anh cũng là Gấm được anh cho. Trời ơi! Gấm chết mất... nó ướt hết ... nghĩa là nó sẵn sàng... lại đúng vào thời điểm Gấm đầu hàng bản năng, sẵn sàng mở lối cho Thuần đi vào thì lúc đó Thuần bỗng dừng lại, lặng yên.
- Anh sao thế? - Gấm hổn hển hỏi.
- Phải để dành thôi.
Không hiểu thế nào, lúc đó Gấm lại buột ra một câu vô tình mà sau này thành vợ thành chồng rồi Gấm cứ ân hận mãi. Gấm bảo:
- Để dành thằng Bành nó ăn mất.
-Thằng Bành nào? - Thuần chỉ vào ngực mình - Thằng Bành đây chứ còn đâu nữa.
Chỉ một lát sau khi hai người đã bình tĩnh lại, họ bàn đến việc phải làm một mâm cỗ cáo gia tiên và tự tổ chức cho mình một đám cưới.
Thuần bảo:
- Mai mười sáu ta, đẹp ngày chúng mình sẽ tổ chức lễ cưới hẳn hoi em ạ. Em mua một đôi chiếu mới, dọn dẹp gian buồng làm phòng cưới. Chúng mình mặc quần áo mới, chọn giờ đẹp, anh đón dâu về, vái tổ tiên rồi đưa em vào buồng cưới... không có ai dự đám cưới của chúng mình, nhưng mình cũng cứ phải đàng hoàng em ạ.
Gấm ngả vào lòng Thuần rấm rức khóc. Gấm đã hiểu ý, vì Thuần và Gấm bị người đời khinh rẻ, nên Thuần muốn tất cả mọi việc của đời Thuần và Gấm phải vinh quang, phải đàng hoàng không kém ai.
Thế là ngày mai Thuần và Gấm sẽ làm lễ hợp cẩn, tối mai họ sẽ thành vợ, thành chồng và từ ngày mai cùng với hạnh phúc tột đỉnh họ tự nguyện cùng nhau lĩnh một trách nhiệm nặng nề của tạo hoá ban cho sẽ gánh hết suốt cả cuộc đời: Sinh con đẻ cái, chống trọi với bao khó khăn gian khổ, kể cả thương đau, chết chóc để tạo dựng hạnh phúc. Thế là ngày mai...đêm mai...




...CÒN TIẾP...
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 23.11.2008 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội .


. TÁC PHẨM CỦA BÙI THANH MINH CHỈ ĐĂNG TẢI TẠI NƯỚC NGOÀI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM