Tranh của cố họa sĩ Tạ Tỵ























TRẦN THỊ BÔNG GIẤY





"Bút ký NCQC của Trần Thị Bông Giấy đã từng được một NXB tên tuổi ở Tp Hồ Chí Minh đề nghị mua bản quyền in ấn. Dù sự việc không thành nhưng tác giả vẫn giữ nguyên bản đã được NXB này lược duyệt khi cho phép ban biên tập đăng tải trên Newvietart."





BÀI THỨ 18




    XX

Paris.

Ngày xưa, một lần trên Dalat, dưới ánh sáng lung linh của những ngọn đèn cầy, tôi đã thật bàng hoàng khi nghe một người bạn hát lên một bài ca tiếng Pháp của Georges Moustaki. Bài hát có một câu: "Je ne suis jamais seule avec ma solitude...” (Tôi không bao giờ cô đơn với nỗi cô đơn của tôi.")

Câu hát như tiếng sét làm bùng nhanh trong tôi một tình yêu bất chợt. Và cái tình ấy, tôi chỉ dành để tặng cho nỗi cô đơn của tôi. Tôi yêu nó như yêu một người bạn thiết. Người bạn không bằng xương bằng thịt để tôi cầm tay nói lên những điều nghĩ suy trong cuộc sống; cũng không có hình có dáng để chia xẻ với tôi tất cả mọi nỗi niềm. Tuy nhiên, sự hiện hữu của bạn tôi vẫn thường xuyên tồn tại, từ hơn mười năm qua, hay cũng là từ thuở nào xa lắc ngày xưa... Gần năm năm bỏ xứ ra đi, vai trò người bạn ngày càng nổi bật nhiều hơn nữa, trong giấc ngủ, trên âm nhạc, trong quán café làm việc và trên cái nhìn hằng ngày theo một xã hội cuồng loạn, đảo điên.

Không phải lúc nào con người tôi cũng có đủ nghị lực để lướt qua dễ dàng những thúc đẩy, đè nén của đời sống, công việc và cả những tâm tình u uẩn. Cũng có khi tôi ngã gục trong sự chống chỏi một mình. Đêm đêm trở về trên các con đường giá lạnh, tôi cúi đầu đi mải miết như để tìm một cái gì đã mất, đồng thời cũng như chạy trốn một cái gì đó ẩn núp trong sâu kín nội tâm. Tiếng gót giày giữa khuya vang lên như một điệu nhạc chán chường buồn bã. Chiếc bóng đổ dài dưới làn ánh sáng những ngọn đèn đường hiu hắt lạnh tanh.

"Je ne suis jamais seule avec ma solitude."

Câu hát ngày nào trên Dalat trở về với thật nhiều vuốt ve êm ái. Nỗi cô đơn thân thiết tôi nhận ra như một hạnh phúc tìm thấy bất ngờ. Phố khuya đột nhiên ấm lại khi tôi có cạnh bên mình một người bạn thiết. Một người bạn chỉ biết cúi đầu lắng nghe những nỗi niềm của tôi mà không hề mang ý nghĩ bỏ tôi!


Sàigòn. Cuối tháng 6/1980,

tôi bắt đầu hợp tác với một nhà hàng ca nhạc thuộc Công Ty Du Lịch thành phố. Sàigòn đang giữa mùa mưa. Nơi tôi làm việc là một cái quán nằm trên đường Tự Do, trước 1975 có tên là La Pagode, nổi tiếng là nơi lui tới của nhiều nghệ sĩ văn nhân.

Những buổi chiều đứng đánh đàn trên bục trước một số đông thực khách, nhìn mưa rơi qua khung kính, tôi nghe nồng nàn một thứ tình cảm chợt đến chợt đi dậy lên từng lúc giữa tâm hồn. Trong nỗi hân hoan có pha mùi tan vỡ. Trong niềm ngất ngây hạnh phúc có vương nỗi buồn của sự chia phôi. Tình cảm cho Sàigòn những ngày mưa hôm nay là như vậy: tôi vừa nghe thương yêu tha thiết, lại cũng vừa không chối được cái linh cảm sẽ mất nó một ngày nào…

Thời gian này, bộ mặt của Sàigòn có phần khác lạ. Những phòng trà ca nhạc sống dậy. Không khí ăn chơi trở lại rộn ràng. Con đường Tự Do và Nguyễn Huệ ngược xuôi xe cộ; mỗi buổi chiều trai gái tụ tập dọc dài theo các rạp hát và quán café. Dẫu vậy, sự nghèo đói vẫn còn hiện diện khắp nơi trong thành phố; trên các con đường dẫy đầy các túp lều vải của những người dân trở về từ vùng kinh tế mới; nơi các góc phố có những người cùi lê lết sống từng đoàn; tại các khu chợ trời với kẻ bán người mua chụp giựt từng món hàng như một đám ruồi bu quanh giọt mật; và trong các khu xóm tối tăm lầy lội mà thoạt bước vào, người ta đã nghe thấy tiếng la gào của đám trẻ con. Sàigòn có thay đổi, nhưng sự thay đổi chỉ gom tụ vào một khía cạnh xã hội nhỏ và được tiếp nhận bởi một thiểu số cán bộ hay dân chúng kiếm ra tiền dư dả. Gần nhất, giới nghệ sĩ sân khấu là những con người trực tiếp cuốn mình theo giòng đổi mới ít ỏi kia. Nhà hàng ca nhạc nào cũng có riêng một ê-kíp trình diễn; tất cả đều trực thuộc Sở Văn Hóa Và Thông Tìn thành phố. Những bài bản không chỉ giới hạn trên chiều hướng tuyên truyền cho chủ nghĩa như hồi đầu 75, mà còn lan rộng ra theo những bản tình ca Việt Nam đương thời hay một số ca khúc ngoại quốc thịnh hành trong thập niên 70 trở về trước.

Tháng Sáu, trời Sàigòn hay có những cơn mưa làm ướt thành phố. Những vũng nước bẩn ứ lại hai bên đường. Dưới các mái hiên dọc dài trên đại lộ, các người bán thuốc lá lẻ ngồi nhìn mưa rơi, nét mặt buồn thiu ủ dột. Bên ngoài nhà hàng –nơi tôi làm việc-, từng đám trẻ bụi đời tụm ba tụm bảy. Có đứa dán mắt lên cửa kính, đợi chờ các thựïc khách vừa đứng lên là chạy ùa vào vơ vét các thức ăn dư. Đám trẻ xanh xao thiếu máu vẫn nhe răng cười với tôi mỗi khi được tôi phân chia phần cháo dành riêng cho nhạc sĩ. Đám trẻ gầy còm khiến tôi liên tưởng đến một đám ruồi con!

Tôi nghĩ đến bài hát của một nhạc sĩ VN hiện đang sinh sống trên đất Mỹ mà bạn bè vẫn chuyền tai nhau đôi lúc:

“Gửi về cho anh dăm bao thuốc lá
Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay
Gửi về cho mẹ dăm chiếc kim may
Mẹ may hộ con tim gan quá đọa đày
Gửi về cho chị dăm ba xấp vải
Chị may áo cưới hay chị may áo tang
Gửi về cho em kẹo bánh thênh thang
Em ăn cho ngọt vì đời nhiều cay đắng
Gửi về cho cha một manh áo trắng
Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây…”

Có cái gì đắng cay tương phản giữa những lời ca trên và bộ mặt thật hiện tại của Sàigòn? Hình ảnh những đứa trẻ bụi đời dán mắt lên cửa kính các nhà hàng trong cái vẻ thèm thuồng cao độ có phải là một mỉa mai chua xót so với sự “làm dáng trong tình cảm” của người nhạc sĩ nơi phương trời xa khi nhớ về quê hương đau khổ?

Đau khổ, tự nó có một giá trị riêng. Đau khổ cũng là điều không ai muốn nhìn tới. Tuy nhiên, trong nỗi đau khổ đã lên tới cao độ để biến thành câm lặng thì bất cứ những chia xẻ nào cũng đều trở nên vô ích; lại càng vô ích hơn với những chia xẻ giả tạo.

.. .. ..

Những buổi chiều tháng Sáu, đứng trên bục biểu diễn nhìn ra con đường Tự Do mưa rơi ướt át, tôi cũng lại hay nghĩ đến một bài hát vẫn tấu với nhau mỗi đêm trong phòng trà:

Em còn nhớ hay em đã quên
Quê nhà đó nơi em lớn lên
Có bóng dừa, có câu hò, có con đò chở mưa nắng đi
Em ra đi nơi này vẫn thế
Lá vẫn xanh trên con đường nhỏ
Thành phố vẫn có những giấc mơ
Vẫn sống thiết tha, vẫn lấp lánh hoa trên đường đi…”

Tâm sự của người nhạc sĩ miền quê hương dân gầy ấy cũng chính là tâm sự của lớp trẻ Việt Nam hôm nay, những con người sống trong một bối cảnh xã hội và lịch sử đảo điên nhưng niềm tin và nỗi tự hào dân tộc vẫn không mất trong tim óc họ.

Tất cả có thể bị chiếm hữu. Tất cả có thể bị bạo lực làm cho rơi ra khỏi tầm tay nắm. Nhưng còn ước mơ thì làm sao có ai tước đoạt được khỏi tâm hồn họ? Trời Sàigòn vẫn xanh màu lá dưới ánh nắng chói chang gay gắt, và trong trái tim những người trẻ Việt Nam, những ước mơ vẫn được đốt lên như một thứ niềm tin.

[]


    XXI

Paris.

Tôi gặp một người bạn cũ trong buổi dạ vũ do một hội đoàn Việt Nam ở Paris tổ chức. Từ những câu thăm hỏi đầu tiên, tôi đã nhận thấy rằng anh thay đổi nhiều quá. Trông anh thật tự mãn theo một đời sống mà anh may mắn có được chỗ đứng ổn định ngay thời gian đầu đặt chân lên đất Pháp. Vì vậy, ngoại trừ cái nhân dạng Việt Nam, tất cả còn lại, từ cử chỉ, điệu bộ cho đến cách nói năng, hành động, anh đều tỏ ra mình là một người bản xứ chính gốc.

Trong buổi trò chuyện, có một điều anh cứ lập đi lập mãi mãi với tôi là nên thực tế kiếm tìm một nghề nghiệp nào khác để bảo đảm an toàn cho cuộc sống, hơn là bấu víu và kéo dài cái nghiệp nghệ sĩ qua công việc làm với nhóm Daniel. Trước những điều này, tôi chỉ biết cười! Sự lặng im ngay lúc ấy bỗng mang một giá trị vàng ngọc!

Trên cuộc đời này, có việc gì đáng gọi là vững bền mãi mãi? Và có ai dám nói rằng mình được may mắn cho đến hơi thở cuối cùng? Cả một quá khứ với tiền tài danh vọng, cửa nhà đất đai và quê hương xứ sở mà hơn một triệu con người phải bỏ mất, nói gì đến sự tự hào theo nỗi yên ổn một lúc nào trong cái đời đất khách nương thân?

Sự an toàn, theo tôi, không có mặt thường xuyên trên trần thế. Vấn đề chỉ là trong tâm tư con người, nỗi yên bình có tạo được hay không mà thôi. Đi tìm một nơi chốn trú ẩn yên lành thì không đền đài, cung điện kiên cố nào có thể ví cho bằng một tâm hồn an ổn. Mà một tâm hồn an ổn cũng chẳng khác nào ngọn núi cao chót vót, mặc cho thiên tai, mặc cho bão tố, năm tháng vẫn cứ còn tuế nguyệt trơ gan.


Sàigòn, tháng 9/1980.

Từ đầu năm 1978, giống như những người miền Nam có thân nhân ở ngoại quốc, mẹ tôi cũng đã nộp đơn lên Sở Ngoại Vụ để xin xuất cảnh trong diện “đoàn tụ” cho cả gia đình.

Đây là một hiện tượng xẩy ra trong xã hội miền Nam từ sau 1975 nhân việc chính phủ cho hồi hương những người có quốc tịch Pháp, ngày càng lan rộng thêm trong dân chúng. Nỗi ao ước ra đi khỏi quê hương được biểu lộ công khai nếu người ta có một chút hy vọng gì về điều này. Hằng ngày, trước toà nhà của Phòng Công Tác Nước Ngoài hay Sở Ngoại Vụ đã có không biết bao nhiêu người tụ tập ngay từ sáng sớm. Có người tới đây vì những liên hệ trực tiếp với việc xin xuất cảnh, nhưng cũng có người chỉ vì thói quen nghe ngóng mà đến. Người ta bỏ cả việc làm và đời sống để chỉ hy vọng và chờ đợi một cái gì mơ hồ không rõ nét. Người ta có thể phí hoài tâm trí và thì giờ để chạy đuổi theo một ảo ảnh tự do. Việc xin xuất cảnh ra đi phải qua biết bao thủ tục rắc rối và kéo dài hàng vài ba năm để rồi kết quả cuối cùng lắm khi chỉ là con số không vô ích. Vậy mà niềm hy vọng và nỗi phí hoài vẫn không mất trên những con người có những liên hệ hiện tại hay quá khứ với hai chữ “nước ngoài”.

Tháng 9/1980, gia đình tôi nhận được giấy báo của Sở Ngoại Vụ mời lên để bổ túc hồ sơ xin xuất cảnh đoàn tụ. Vậy là trong tôi đổ ập cả một nỗi dày vò. Đi hay ở cũng đều là đau khổ. Khía cạnh nào cũng có những nỗi dằn vặt riêng. Giờ đây, một chuyến đi thẳng tắp xa quê hương không phải là điều mà tôi mong đợi như trong suốt bao nhiêu năm vẫn bị hấp dẫn với các chuyến khởi hành không mỏi. Việc mất tích của đứa em gái út, sự quyến luyến với ba mươi năm kỷ niệm trong quê hương đã là những điều lớn lao làm cho sự phấn khởi ra đi trong tôi đột nhiên chùng xuống hẳn. Tôi cũng nghĩ đến một tương lai nơi xứ lạ mà e dè ngần ngại. Ba mươi tuổi, sự bắt đầu từ còn số không nơi một vùng trời Châu Âu vô cùng khác biệt với quê hương không phải là điều dễ làm mà không tạo ra trong tâm tư những nỗi đớn đau.

Đối với tôi, ra đi không những chỉ là mất tất cả một chuỗi dài quá khứ, mà còn là sự bắt đầu của một chứng ung thư trong tâm não. Theo thời gian, con bệnh phát tác nhanh hay chậm là điều chưa biết được. Nhưng chỉ có nghị lực mới là phương thuốc duy nhất làm dịu đi phần nào cơn đau của chứng ung thư.

Còn sự ở lại? Thời tuổi trẻ sôi nổi trôi qua đã để lại trong tôi những hậu quả dằn vặt mà bà mẹ già và đứa con trai nhỏ là hai nhân vật làm ray rức tôi nhiều hơn cả. Hạnh phúc tôi đem lại cho họ thật quá ít so với nỗi đau khổ họ đã nhận từ tôi. Giờ đây, trước ngã ba đường đi hay ở, làm sao tôi có thể giết lòng họ nhiều hơn theo những ước muốn riêng tư? Làm sao tôi có đủ can đảm tạo ra sự cách chia mà không bị lương tâm dày xéo? Nguồn lệ trong đôi mắt mẹ tôi hầu như khô cạn, nhưng trên khuôn mặt già nua ấy đã vẽ lên không biết bao nhiêu nét đau khổ tận cùng. Sự ra đi biền biệt của đứa em gái út vẫn còn là vết thương chưa lành mủ, giờ đây có thể nào tôi tạo thêm cho bà một vết thương lòng sâu đậm thứ hai?

.. .. ..

Những ngày tháng Chín, trời Sàigòn vẫn còn rào rạt những cơn mưa. Nhiều đêm sau giờ làm việc, đạp xe về trên các con đường hoang liêu ướt át, tôi nghe lòng rũ buồn theo từng vòng quay của hai chiếc bánh xe. Cái quyết định ra đi trong tôi càng lúc càng thêm rõ nét. Lòng thương mẹ già và đứa con nhỏ mạnh hơn niềm lưu luyến quê hương. Tôi không thể tự dối điều này. Sự quyết định nào cũng có những nỗi khổ tâm riêng của nó. Nhưng, tôi thà chấp nhận nỗi đau đớn cho mình còn hơn đổ sang cho những người thân yêu gần nhất. Tôi thà im lặng như hoa lá cỏ cây, còn hơn làm khô héo thêm trái tim cằn cỗi của mẹ già.

Ai đó đã nói: “Ta gặp Định Mệnh trên những con đường ta đi để mà tránh nó.”

Tránh làm gì? Trốn chạy cũng chẳng ích lợi gì. Định Mệnh, một phần do các yếu tố bên ngoài đưa đẩy, một phần do chính mình tạo ra. Thì thái độ hay nhất chính là “chấp nhận Định Mệnh!”

[]




...CÒN TIẾP...










© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả ngày 19.11.2008.

. Tác phẩm của Trần Thị Bông Giấy chỉ đăng tải trên tranthibonggiay.net và newvietart.com