"BẨM YÊN, EM NHỚ YÊN LẮM !"



Vua Minh-Mạng có bảy mươi tám người con trai và sáu mươi bốn con gái. Trong gia phả giòng họ Nguyễn Phúc tên các vị này được ghi rõ, có chín người chết non, còn lại là sáu mươi chín người. Nhà vua có làm một bài thơ ngũ ngôn tứ cú gọi là "đế hệ thi" -bài thơ về các hệ nhà vua. Lý do là vì các vì vương thời ấy có nhiều vợ và sinh nhiều con quá nên mới nảy ra ý tưởng tìm cách tổ chức để có thể nhận ra con cháu thuộc hàng nào, hệ nào. Bài thơ như sau:


Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quí Định Long Tường
Hiền Năng Khâm Kế Thế
Thế thoại Quốc Gia Xương

Vua truyền cho các hàng hậu duệ cứ theo thứ tự từng chữ của bốn câu thơ trên mà đặt tên lót. Thí dụ ông Miên A sẽ sinh ra ông Hường B; ông Hường B có con sẽ là Ưng C; con ông Ưng C gọi là Bửu D; con Bửu D là Vĩnh E..v..v.. Việc này bắt đầu được áp dụng ngay trong giòng con của tác giả bài thơ, nói cách khác, các người con trai của vua Minh Mạng mang chữ lót là Miên. Người con thứ mười một là Tuy lý vương Nguyễn Phúc Miên Trinh (ông này thì ai cũng biết vì có tên trong văn học sử, cũng như Tùng thiện vương Miên Thẩm). Không hiểu Miên Trinh có bao nhiêu con nhưng trong số đó có một ông Hường sẽ sinh ra ba người con, một gái hai trai. Một trong hai người con trai học một trường gì đó (hình như Hậu bổ thì phải -người viết dốt nát, xin chịu lỗi) đại loại như Quốc gia Hành chánh sau này, nên khi ra trường được cử giữ chức tri huyện, cán bộ hành chánh trên cấp xã. Người ấy tiến đều trên đường công danh, sau tri huyện được bổ tri phủ. Ông có người em gái như đã nói trên, theo ông khi ông về trấn nhậm nơi thành phố của Đạo (lúc ấy Đạo chưa ra đời).

Một nho sinh muốn kiếm đôi chữ thánh hiền, phải lìa quê, quẩy gánh mang lều ra tận miền Bình Định tìm thầy thụ giáo. Nhưng có lẽ hăng máu cách mạng một chút nên thay vì theo đòi chữ nghĩa thánh hiền, chàng lại đi ..làm giặc! Ấy chết, bạn đọc -nhất là những bạn đọc trẻ tuổi- nên hiểu rằng người viết có một lập trường chông chênh, khi đứng bên này khi lại về phe kia, nên cách dùng từ có khi không chỉnh. Từ "làm giặc" là từ của phe chính quyền gọi kẻ chống đối. Vì nho sinh đang học ở Bình Định, lúc có "loạn" Trần khánh Phùng nho sinh bèn gia nhập phe ông Trần. Chẳng biết chàng có làm được gì không nhưng rút cục chàng bị bắt gửi về quê quán chịu tù. Trong tù, nhờ có chút chữ nghĩa thánh hiền nên nho sinh được quan phủ cho lên giữ chân ký lục thay vì hàng ngày phải chịu làm xâu vất vả. Tôi tưởng tượng rằng trong khi làm thư ký tại phủ đường, nho sinh có cơ hội đá lông nheo với người em gái quan tri phủ. Trò đá lông nheo ấy không ngờ đã dẫn tới việc thành lập một công ty to lớn sản xuất ra năm sáu thế hệ tương lai. Đạo là sản phẩm chót của công ty. (Khi xây dựng một cuốn tiểu thuyết, người viết một phần dựa vào kinh nghiệm thực tế của chính bản thân, phần khác nhờ trí tưởng tượng; cho nên mọi nhân vật thường mang một phần hình ảnh của những kẻ có thực cộng thêm một ít tỉa vẽ thêm bớt. Riêng nhân vật nữ tôi đề cập trên đây là một nhân vật hoàn toàn thật, ít ra là theo cái nhìn của tôi. Nó thật vì nhiều lẽ; một trong những lẽ chính là lòng kính trọng, sự thương yêu vô bờ của tác giả, tình thương yêu ấy nhiều đến độ tác giả sẽ cảm thấy như một phỉ báng nếu anh ta bóp méo sự thật) .

..Và như vậy mẹ Đạo dừng lại trên bến mới khi người anh theo đường công danh lìa bỏ bà đi trấn nhậm miền khác.

Vào buổi sơ nguyên, Thượng Đế không tạo ra người đàn ông và người đàn bà riêng biệt; ngài vo tròn họ lại một cục như phụ nữ chúng ta vê bột bắt bánh trôi nước (không phải tình cờ mà Hồ Xuân-Hương ví thân phận mình với bánh trôi nước: Thân em thì trắng, phận em tròn; bảy nổi ba chìm với nước non.. ) không cục nào giống cục nào, cái nhỏ cái lớn cái tròn cái méo cái nhiều đậu cái nhiều đường cái mặn cái nhạt, vô chừng. Thượng Đế đâu có ngu mà làm ẩu tả như vậy! Ngài có dụng ý đó thôi; vì nếu muốn thì ngài sẽ rất có khả năng "úm bà là" một cái là mọi viên bánh trôi kia trở thành tròn như nhau, bằng nhau, giống nhau như đúc. Nhưng nếu như vậy thì đâu có chuyện gì xảy ra! Sau khi vo chúng xong, ngài bèn hạ tay dao chẻ mỗi viên ra làm đôi, ghé tai nói nhỏ với họ rằng: "Hai ngươi chỉ là một, giờ hãy tạm chia tay, sau hẳn tìm cách gặp lại". Thượng Đế ác thật! Ngài làm bánh trôi nước suốt ngày, ngài sản xuất hàng tỉ hàng tỉ những viên tròn mà không tìm cách đánh dấu cho nên những nửa ấy hễ gặp nhau là ráp đại mà cứ tưởng bở rằng kẻ kia là phân nửa của mình ngày trước. Đến đây bạn vỡ lẽ ra chưa? Tôi thiết lập một tam đoạn luận như sau: (a) Mỗi cái nửa ấy là một khuôn mẫu duy nhất không thể có sự trùng hợp; đấy là luận đề một hay nói khác đi, chính đề. (b) Ông A-đam và bà E-và là hai kẻ đầu tiên gặp nhau nhưng họ không phải là hai nửa của cùng một khối mà Thượng Đế bổ đôi ngày nọ: luận đề hai, hay là phản đề. (c) Tổng hợp đề sẽ là gì? (Ông nào rành luận lý học nói nghe coi?)

...Cho nên từ đó, mỗi phối ngẫu là một thất bại ê chề. Nho sinh quê mùa gặp nàng thiếu nữ khuê các, chuyện tình tưởng đâu kỳ diệu, tuy không đổ vở đường đột nhưng cũng chẳng mang lại cho hậu thế áng văn chương lâm ly tuyệt tác nào. Vì vậy một anh nhà văn nhóc con của Tây vào đầu đệ tam thiên niên kỷ này bèn ngẫm sự đời mà triết lý vụn như sau: trong bất kỳ đôi lứa nào cũng có một kẻ mê đắm không thỏa còn kẻ kia thì chán chê; anh ta thêm rằng cả hai đều buồn, kẻ nọ buồn vì không đạt tới và kẻ kia buồn vì quá no mứa. Đạo không hề có kỷ niệm về một phút vui bên mẹ, chẳng hạn hình ảnh mẹ con ôm nhau cười nghiêng ngả. Đạo chưa bao giờ cười với mẹ, mẹ cũng không bao giờ cười với nó, cười thực sự. Cũng có chứ những nụ cười an ủi, những nụ cười khuyến khích, những nụ cười bao dung thương yêu; nhưng không hề nụ cười hả hê sung sướng. Mối liên hệ mẹ con chỉ gồm những phút êm đềm ngắn ngủi và những năm tháng triền miên buồn thảm không tiếng. Nó quá bé nhỏ để mẹ có thể gửi gắm niềm riêng. Đối với nó bà chỉ có thể cho chứ không thể chia sớt; kịp khi mẹ nằm xuống, Đạo tức tưởi. Theo với tuổi tác những ý nghĩ về mẹ cũng đổi thay, nhiều lúc nó quay quắt ước muốn sống lại với mẹ một buổi một ngày, không phải để được an ủi mà để an ủi mẹ và tìm hiểu nổi đau đớn thầm kín qua những năm tháng làm vợ làm mẹ của bà.

Trên bàn giấy của bố có bày nhiều bức ảnh, Đạo chẳng để ý gì lắm, nhưng nó nhận ra trong số đó bức ảnh của mẹ nó chụp chung với bà ngoại và hai ông cậu. Nhiều lần mẹ nó lấy xuống chỉ cho nó: này là bà, này là cậu thượng (cậu thượng tức ông cậu ngày xưa xuất thân là tri huyện rồi lên dần đến thượng thư, ngang với vai trò bộ trưởng thời nay), này là cậu ..đời xưa (chỉ người đã khuất). Đạo thấy bà ngoại ngồi ở giữa, ba người con vây chung quanh, mẹ nó e ấp giữa hai người anh. Những bức ảnh ngày xưa mầu sépia, người ta không in lên giấy mà in lên mặt thiếc tráng thuốc hiển hình; khung thường hình thuẫn chứ không vuông vắn hoặc chữ nhật như ngày nay. Tấm ảnh, cái di tích cuối cùng của mẹ đã mất đi theo ngôi nhà những ngày đầu loạn ly. Phải chờ đến khi không còn mẹ nữa Đạo mới thấy tiếc da diết vì đã không giữ được ảnh mẹ. Không giữ được mẹ thì ít ra giữ ảnh mẹ để còn nhận ra quá khứ ấm êm. Không ai như nó, sống ở hậu bán thế kỷ hai mươi mà không có được bức ảnh mẹ. Nổi đau đớn của nó là đã để vuột dần trong ký ức hình ảnh mẹ. Nổi nhức nhối tức tưởi nơi Đạo to lớn sâu đậm bao nhiêu thì hình ảnh mẹ lu mờ nhạt nhòa bấy nhiêu. Mỗi đêm nó nằm mơ thấy mẹ, sáng ra nó ôm lấy giấc mơ ấy làm thức ăn cho ngày. Nhưng càng ngày thức ăn càng kém, càng ngày Đạo càng đói hình ảnh mẹ. Có một lần tản cư tại một miền quê hẻo lánh, trong giấc ngủ trưa vẳng nghe giọng Huế thân yêu của mẹ, nó hoảng hốt vùng dậy chạy đi tìm, ngỡ mẹ vừa sống lại; nhưng đó chỉ là một người quen lưu lạc qua đấy được tin về gia đình nó nên ghé lại thăm "mệ".

Chưa bao giờ câu "xuất giá tòng phu" lại mang ý nghĩa trọn vẹn như vậy. Mẹ bỏ hết, mẹ cắt đứt những giây mơ rễ má của xứ thần kinh, mẹ phủ nhận đẳng cấp xã hội, mẹ hội nhập hoàn toàn vào nhà chồng. Trong một gia đình xa lạ, mẹ đối xử khéo đến độ mẹ không có kẻ thù, mẹ hiền đến độ mẹ không tìm thấy sự châm chọc dèm xiểm. Mà mũi dùi, ngọn giáo nào đâm được mẹ khi mẹ là giòng nước xuôi chiều, là dịu mềm lá cỏ? Xa gia đình, xa anh, mẹ thỉnh thoảng viết thư cho người anh lớn. Những cánh thư luôn bắt đầu bằng "Bẩm yên"(kính anh); chữ yên ấy nhiều khi mẹ nện thêm chữ g. (Vào thời Nam phong và Đông dương tạp chí hình như mặt chính tả chưa thực sự được quan tâm, người miền nào viết theo lối phát âm của miền ấy nên người ta có thể tìm thấy vô số lỗi chính tả ngay trên trang báo, đại loại: Vì tòa soạn chúng tôi nhận quá nhiều bài lai cảo nên chưa thể giả nhời được ). Cuối thư bao giờ mẹ cũng thêm "Em nhớ yên lắm"... Mẹ yếu đuối, ủy mị, nên đời sống chắc chỉ là những khắc khoải cùng âu lo. Giữa không khí nhiệt đới oi nồng nhưng hể nghe một chớm gió nhẹ thổi về, thấy một giải mây xám giăng thấp là mẹ đã hốt hoảng khuyến cáo: "Trời động đó con, vô nhà cả (kẻo) lạnh". Lên ba, Đạo vẫn hiếm khi chạy nhảy một mình; ấy thế mà nếu có phút hứng khởi, nó vùng khỏi mẹ là mẹ đã hoảng hốt: "Thủng thẳng con ơi, thủng thẳng cả bổ chừ; con bổ mợ chết theo con!" (Chầm chậm con ơi kẻo ngã; con mà ngã thì mẹ chết theo con). Đạo không ngã vì chạy; Đạo ngã vì đòi bát đẹp. Những ngày hè nóng nực, cả nhà ăn cơm ngoài thềm kề sân sau. Mảnh sân xi-măng không rộng lắm bao quanh bởi dãy tường cao và gian bếp (sau gian bếp cửa sẽ mở ra vườn); loại sân bao quanh này không hiểu tại sao đã khiến Đạo liên tưởng đến những ngôi nhà mà Lỗ Tấn mô tả trong những thiên truyện ngắn của ông, có thể là vì ngôi nhà ấy nguyên được xây cất bởi một người Trung-Hoa. Bàn ăn được bày kề sân nhưng vẫn còn trong khuôn viên bậc thềm. Có chiếc ghế đặt mấp mé cạnh bậc thềm cao và khuôn sân thấp ấy. Đạo trèo lên ghế vòi mình sang phía đối diện cố kéo cho được cái bát kiểu của Nhật vẽ hoa rực rỡ nhất. Vì quá bé lại cố chòi cao, chiếc ghế bị đạp bật ra sau ngã xuống sân, kéo theo Đạo. Mủi nó đập vào cạnh thềm máu lênh láng. Mẹ ôm Đạo vào lòng cả một vạt áo dài lụa nhuộm đỏ.

Đối với hoàng tộc, việc ăn mặc chiếm một địa vị lễ nghi. Đạo là con út nên hay kèo nài xin được ngủ trên giường bố mẹ. Mỗi tối mẹ nhẹ nhàng khoát mùng bước vào; khi đã ở hẳn trên giường rồi mẹ mới cởi áo dài treo lên móc (nơi khung treo mùng có sẵn cái móc áo). Những khi trời thật nóng thì mẹ mặc áo cánh tay bên trong (nhưng vẫn có áo dài bên ngoài), đó là phút hiếm hoi Đạo nhìn thấy hai cánh tay trần trắng xanh gầy ốm của mẹ. Tuy vậy Đạo có được biệt ân được sờ vú mẹ, luồn tay vào bụng mẹ, và nhiều khi thay vì sờ vú Đạo mân mê cái nốt ruồi nơi bụng mẹ và thiu thiu vào giấc ngủ. Có lúc giữa đêm khuya thức giấc, Đạo quờ quạng tìm mẹ và ngạc nhiên vớ phải chiếc đùi trần của mẹ: những lúc ấy Đạo không nằm giữa bố và mẹ; có ai đấy đã nhẹ nhàng bế Đạo đặt ra tận mép giường. Và như vậy cho đến khi mất mẹ Đạo vẫn không hề "biết" thân thể mẹ ra sao, ngoại trừ khuôn mặt, tầm vóc, hai vú, bụng và hiếm hoi hơn, hai cánh tay gầy xanh xao. Chỉ có một lần, mãi ở Thuận an nhân một chuyến về quê ngoại, mẹ đi tắm bể, Đạo tưởng sẽ được "nhìn" mẹ thì ô hay, mẹ cứ để cả quần áo như thế mà nhúng nước!

Cuộc cách mạng tháng tám quả thật là một cuộc đổi đời, nó thay đổi hoàn toàn tinh thần người Việt-Nam, những thay đổi có tính cách cội rễ trong mỗi gia đình, trong mỗi con người. Đó là lần đầu mẹ mặc áo cộc khi đi ra ngoài: mẹ tham gia tổ chức một hội chợ từ thiện cùng với một số người khác trong hội phụ nữ do bà tham Ca hướng dẫn. Ông tham Ca làm cách mạng thì bà tham Ca làm cách mạng; bố làm cách mạng thì mẹ phải làm..cách mạng thôi, điều đó hết sức ...lô-gích! Có điều, cũng tựa trong cuộc chạy thi, có kẻ mạnh khỏe hăng hái có kẻ yếu đuối tiêu cực, chóng hay chầy khoảng cách sẽ càng lúc càng xa thêm. Mẹ sẽ dừng lại không chỉ trong một cuộc đua mà mọi cuộc đua, không phải chỉ trong phút chốc mà vĩnh viễn, muôn đời.

Trên ngọn tháp Hời người ta treo một cái bồ làm hiệu. Phải kể rõ hơn để bạn đọc hiểu: ngọn tháp là điểm cao nhất của thị trấn, vậy thì nơi đó sẽ được dùng làm điếm quan sát những hoạt động của kẻ thù. Một khi nhận thấy dấu hiệu khả nghi thì làm gì? Phải báo động chứ. Và đây mới thật sự là một vấn nạn. Ban đầu người ta tưởng chỉ cần treo một mảnh tà-vẹt đường sắt dùng làm kẻng báo động thế là đủ. Hễ thấy địch xuất hiện (địch chỉ có một lối xâm nhập là dùng tàu thủy đổ bộ vào nếu không dùng lực lượng nhảy dù, nhưng đoàn quân viễn chinh Pháp lúc ấy chắc chẳng điên khùng gì mà tung ra một lực lượng khủng khiếp như vậy để chỉ chiếm một mảnh đất nghèo đói và không có giá trị chiến lược chiến thuật gì ráo) anh dân quân thẳng cánh nện một hồi kẻng, bà con chung quanh ngọn tháp hẳn phải nghe rõ mồn một; hồi kẻng thong dong có nghĩa là địch nó xa lắm chẳng đáng phập phồng, nếu dồn dập hơn thì có mòi phải để tâm chuẩn bị; nếu anh gát nện tới tấp thì hãy nhanh nhanh vác chiếu mang nồi mà chạy... Sau một vài lần báo động giả và báo động thật mọi người nhận ra rằng có lúc chẳng hề nghe hiệu báo động. Phải chăng anh dân quân trực đã ngủ quên? Cho điều tra cẩn thận thì không phải như vậy. Thế thì tại sao nào? -Thưa, tại gió, gió làm bạt tiếng kẻng. Những cơn gió Lào cuồng nộ trong mùa hè đã là tòng phạm của giặc. Không có cách trừng trị gió Lào người ta đành tìm phương pháp báo hiệu kiểu mọi da đỏ Mỹ châu, vì thế mới có cái bồ mà tôi nói trên kia. Người ta dựng một cái đài cao, máng cái bồ lên đấy và điều khiển nó bằng sợi giây kéo lên kéo xuống. Tàu địch thấp thoáng ngoài khơi, bồ ở mực thấp; tầu càng đến gần bồ càng được nâng lên, khi bồ tót lên đỉnh thì hãy vắt giò lên cổ mà chạy. Hai phương pháp thính-thị phối hợp sẽ giúp dân yên tâm chờ đợi.. hiểm nguy. Nhưng tại sao tôi lại kể chuyện cái bồ? Chỉ bởi lẽ hôm ấy bồ được nâng lên lưng chừng: có thể là tình thế trở nên nghiêm trọng; cũng có thể là không, tuy vậy cảnh giác vẫn hơn. Mẹ ốm nặng nhưng mẹ lo cho Đạo, mẹ gửi Đạo lên nhà chú gần ngoại ô, nếu có biến Đạo theo gia đình chú; ở đấy địa thế trống trải, trốn chạy sẽ dễ dàng hơn. Đạo ở đấy đến xế chiều thấy yên ổn, nó mò về nhà. Vừa bước vào nhà, nó cảm thấy ngay một báo hiệu bất ổn, đồ đạc bị gom về mé bên và chiếm ngay khoảng trống ấy là cái vật khủng khiếp nhất: chiếc quan tài. Mẹ được đặt nằm ngay ngắn trên giường. Từ lúc ngã bệnh mẹ không nằm được trên giường vì ho oằn người, nghiêng bên nọ không thuận, nghiêng bên kia không thuận, mẹ đành phải nằm võng; bây giờ thì mẹ khỏi nghiêng ngửa gì nữa, người xuôi hai tay duỗi hai chân, nhẹ tênh. Ngay chỗ treo võng, dưới nền đất còn dấu máu, bận thổ huyết cuối cùng giúp người từ giã nhanh cuộc sống. Mẹ mất lúc xế chiều, xẫm tối đã đưa ma. Lý do viện dẫn nghe chừng hợp lý: thời buổi loạn ly nấn ná làm chi; nhưng quá hấp tấp tưởng cũng có chỗ đau lòng, dù sao...

Người lớn không cho Đạo đi theo ra nghĩa trang. Đạo ở nhà nhức nhối vì thanh âm của những nhát búa nện lên áo quan dù áo quan đã được khuân đi từ lâu; nó muốn cãi lời người lớn bỏ nhà chạy theo xác mẹ nhưng nó chẳng dám. Không phải chỉ một phút ấy mà suốt cuộc đời nó chẳng hề tự quyết định làm một việc gì; loại người như nó thường có một cuống họng lớn. Để làm gì? -Thì để nuốt đánh ực mọi uất nghẹn, hờn oán, tủi nhục vì đã không bao giờ dám táo bạo liều lĩnh chứ gì. Trong ký ức của nó bổng hiện ra ngôi nhà bên bờ sông Hương, sân rải đá cuội, có những gốc sứ oằn mình tỏa hoa trắng; ngôi nhà mờ mờ ảo ảo vì nó chỉ trông thấy có một bận nhưng nó yêu tha thiết vì nó biết rằng chốn ấy là chốn thân yêu của mẹ. Nó tự hỏi không biết lúc này mẹ làm gì: mẹ vô tri trong lòng đất hay đã chắp cánh bay lên? Nếu được vậy chắc mẹ sẽ bay về Huế (từ ngày mặt trận Ban-mê-thuột "vỡ" mẹ không còn hy vọng được trở về nữa) tìm người anh và thỏ thẻ: "Bẩm yên, em nhớ yên lắm".












© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải trên Newvietart.com theo nguyên bản của tác giả gởi từ miền Nam Pháp ngày 01.11.2008.