GIỜI CAO ĐẤT DÀY



CHƯƠNG III



Vào một buổi sáng ngày cuối cùng của mùa hè, khi nước triều dâng cao, một cơn sóng thần lừng lững từ ngoài khơi như cái lưỡi của Diêm vương bất ngờ ập vào bờ, liếm đi một vùng sú vẹt, khoét sâu một khoảng biển. Đến chiều một tốp máy bay Mỹ từ ngoài Hạm đội 7 bay vào đất liền ném bom, bắn phá nhà máy điện Phả Lại, khi bay trở ra, một chiếc máy bay bị trúng đạn của bộ đội và bốc cháy liền vội vàng thả nốt một trái bom chúng chưa kịp gây tội ác. Trái bom rơi trúng cái hố buổi sáng cơn sóng thần để lại, tạo thành cái hồ sâu hom hỏm. Hôm sau khi nước triều vào bờ, rồi rút đi, trong cái hồ sâu đó xuất hiện một con vật cũng rất lạ, đầu giống con cá heo, nhưng từ bụng trở xuống lại là một người đàn ông với đầy đủ các bộ phận rất sung mãn, chỉ khác là đôi bàn chân giống như hai cái bàn đạp của người thợ lặn. Con quái vật ngụp lặn suốt ngày trong hồ, nghe đâu nó còn hiếp cả phụ nữ, khiến ngư dân, nhất là đàn bà, con gái không ai dám qua lại khu biển này. Trung đội dân quân của làng Bùi nhiều lần rình bắn nhưng không làm gì được. Nó tinh khôn hơn cả con người, chỉ cần ai có ý định hãm hại là nó đã biến mất tăm dưới cái hồ nước sâu cả mấy chục mét. Thỉnh thoảng những ngày râm mát, khi nước triều rút cạn, thường thì giữa trưa nó nằm phơi mình trên bờ, dạng hai chân như hai khúc bần, ở giữa hai khúc bần đen đúa ấy dựng lên cái đồ thổ tả trông giống như cái chày giã cáy, cá loi choi tưởng gốc sú, leo bám chơi, tức thì nó bật, giống như một mũi tên, con cá bắn ra xa cả trăm mét va vào gốc vẹt chết ngay tắp lự.

Không hiểu sao Thuần cho rằng con quái vật chính là đứa đã hiếp chị Hương và bị trời phạt bây giờ nó hoá thành con giời vật này, nhưng vẫn chưa từ bỏ được thói dâm thú, vì vậy Thuần cứ nghĩ mình phải có trách nhiệm trừ khử cho kỳ được con quái vật khốn nạn.

Từ ngày có cái hồ, các loài động vật trú ngụ ở vùng biển này kéo đến cư trú xung quanh nhiều lắm, chúng vừa là bạn, vừa là nguồn thực phẩm dồi dào để Thuần biến thành gạo, thành áo quần, thuốc men thông qua bàn tay đảm đang của Sa. Nhất là giống cá lác hoa thì rất nhiều. Những con cá lác giống như nàng tiên cá, trên mình hoa văn màu tím, màu xanh biếc, vây xoè dựng lên như cái quạt giấy đủ sắc màu rực rỡ, suốt ngày chúng đùa giỡn trên mặt lầy bên cái hồ sâu. Cá lác mang ra chợ bán dễ lắm, mỗi con một hào, mười con bán được một đồng, một trăm con bán được mười đồng. Có tiền Sa sắm những thứ cần thiết, còn lại giữ hộ cho Thuần. Thuần bắt cá cũng bằng cách rất kỳ lạ. Thuần chặt tre làm những cái bẫy dập nhỏ tíu như bẫy chuột, tìm những lỗ tròn nhỏ bằng ngón tay ở nơi có nhiều phù sa, miệng lỗ xiên xiên có một vệt trườn kéo dài khoảng mười phân như đầu ngón tay miết xuống và giương bẫy đặt ở miệng lỗ trên cái vệt lối trườn của con cá. Thuần đặt chừng năm chục chiếc xong, gỡ áo nằm lăn xuống bãi, miệng kêu “tắc, tắc”. Không hiểu vì lý do gì mà đàn cá lác cứ hễ nghe thấy tiếng gọi của Thuần thì kể cả đêm hôm, giông tố chúng cũng trườn ra khỏi lỗ đến vây kín xung quanh Thuần dường như chỉ để nghe Thuần “ tắc, tắc”. Năm mươi chiếc bẫy là năm mươi con cá lác hoa béo ú bị giắt, Thuần chỉ việc thu bẫy về lều ngồi gỡ mang về để lại một ít kho chuối xanh, còn thì Sa mang ra chợ bán. Ngày nào cũng thế, khoảng chín giờ sáng Sa ra lấy cá đi chợ, mười một giờ về, ở nhà Thuần đã nấu cơm chờ sẵn. Ăn xong hai đứa chỉ ngồi nhìn nhau, không nói được với nhau lời nào. Thuần muốn nói với Sa bao nhiêu lời biết ơn, lời yêu thương mà không thể nói ra được. Cổ họng Thuần ấm ức khó chịu, muốn hét lên thật to cho đã, không thể nín nhịn được và thế là Thuần cứ nói, nói rất nhiều không để cho ai nghe, không cần Sa nghe, miễn là nói ra được. Thấy đôi môi Thuần mấp máy liên hồi Sa bèn ra hiệu là cô không thể nghe được. Sa lấy quả sú vẹt vạch lên cát bảo Thuần hãy viết cho Sa nghe. Thuần đâu có muốn viết, mà đang cần được xả lời cơ mà, miễn là có đối tượng nhìn miệng mình, để mình nói. Nhưng mà Sa có hiểu gì đâu, lẽ ra phải hoảng sợ khi Thuần hét, thì ngược lại cô lại cười, hoặc đáng ra nét mặt Sa cần căm hận để hưởng ứng, thì cô lại ngây ngây. Giống như gửi lời cho gió, bất lực quá, Thuần nhìn vào mắt Sa quát: “Nói! Nói đi! nói, n...ó... i!”.

Tưởng Sa hoảng sợ, ngược lại cô chỉ ngồi cười, bởi vì Sa không thể nói được nên lời nên cô rất thích nhìn miệng người nói, vả lại có người đối thoại với Sa là quí lắm rồi. Người làng Bùi có ai thèm nói chuyện với Sa đâu đến cả người nhà Sa cũng thế, cần thì họ chỉ ra ký hiệu.

Một hôm Sa ra thấy Thuần ngồi mặt gườm gườm, không nói, cũng không cười. Sa không sợ, lại còn ngồi xuống nhổ tóc sâu cho Thuần. Đôi bầu vú cứng nhọn chọc vào lưng cùng hai vế đùi của Sa kẹp vào hai bên mạng sườn khiến Thuần thinh thích, cứ lặng lẽ cảm nhận hai cái núm di di trên lưng tê tê và hơi nong nóng của hai vế đùi. Không hiểu Sa vô tư không để ý, hay cố ý gợi tình? Đã vài lần Thuần thổn thức quay lại định vuốt má Sa một cái xem phản ứng ra sao, nhưng run quá lại thôi, lỡ ra... Sa đi lại đây Thuần còn nhờ vả được nhiều việc, để Sa phật ý cắt cầu không ra nữa là khổ cái đời thằng mục.

Ngoài hồ con quái vật đang lồng lộn bơi lội, tiếng quẫy đạp thùm thùm. Như mọi ngày nghe tiếng quẫy của con quái vật là Thuần chau mày suy nghĩ và tức giận, vậy mà hôm nay mọi âm thanh không còn mảy may ý nghĩa, chỉ còn tiếng thở nhè nhẹ phát ra nơi Sa và mùi hương sả toả ra từ mái tóc đen nháng. Từ ngày Gấm mất chưa bao giờ Thuần được bàn tay phụ nữ chăm sóc; bàn tay mềm mại có sức mạnh kỳ diệu, làm mềm các dây thần kinh, nhường lại cho gân cốt biểu thị sức mạnh. Sự sung sướng được bàn tay của người đàn bà mơn trớn, chăm sóc khiến Thuần thoả mãn và thần kinh dịu dần.

Một buổi chiều Thuần ngồi trên bãi cát trước hồ quái vật, hoàng hôn nhuộm đỏ biển chiều, rừng sú vẹt như một tấm thảm tim tím viền quanh mép nước. Biển cạn, nước co lại dồn ra khơi xa như con đê màu nâu đỏ, đại dương mênh mông, bí hiểm đưa trí tưởng tượng của Thuần đến cõi xa xăm.

Bỗng trước mặt Thuần dưới bãi lầy một con nhệch khổng lồ to bằng chiếc đòn càn, theo sau là một đàn nhệch lớn bé, con nào cũng vàng ruộm béo ú, chúng xoè vây, phồng mang lũ lượt bò trườn như đàn ong quây tròn con ong chúa. Con nhệch chúa dài độ hai mét dựng đứng như con rắn lao vun vút phía trước, đàn nhệch rầm rầm đuổi theo. Chúng cứ rượt nhau như thế khiến cả vùng biển chuyển động rào rào. Cáy còng, cá bớp, cua... hàng ngàn động vật sinh sống trong vùng biển cạn hoảng sợ trốn biệt xuống lỗ. Con quái vật cũng lặn biến xuống đáy hồ, tất cả nhường chỗ cho đàn nhệch lên cơn động cỡn.

Từ đàn nhệch có một con dài gần hai mét, mình vàng sậm, vây trên lưng dựng ngược xéo vượt khỏi đàn, rồi nó lao vút qua khoảng biển rộng đuổi kịp con nhệch chúa, chúng quấn chặt lấy nhau vùng vẫy giao hoan. Khi đàn nhệch đuổi kịp, chúng vây xung quanh hai con nhệch đầu đàn, nhảy múa như thể làm lễ chúc mừng của sự giao hoà sinh thể, tôn vinh hành vi hợp cẩn giống loài, mừng vui cho sự nẩy nở sinh sôi.

Con quái vật từ dưới hồ nhô lên, trần trụi lao như lướt trên mặt biển cạn, xông đến chỗ đàn nhệch đang reo vui làm lễ cho đôi nhệch hợp cẩn. Cả đàn nhệch toá ra chạy trốn, chỉ còn lại đôi bạn tình vẫn say sưa bện chặt vào nhau, xoắn xuýt như chiếc dây chão. Con quái vật tức giận gầm lên, hai chiếc vây trước của nó vươn ra cuộn lại xoắn chặt đôi nhệch vặn cho đến khi máu ở miệng đôi nhệch nhỏ ra từng giọt. Làm xong cái việc độc ác, con quái vật vẻ sung sướng hả hê trở về.

Thuần chứng kiến toàn bộ hành vi độc ác, phũ phàng của con quái vật. Nó đúng là kẻ đã giết cha mẹ, chị của Thuần hiện hình ở đây, Thuần nghĩ thế và trong đầu càng củng cố quyết tâm giết bằng được con quái vật.

Thực ra bao đời nay dân làng Bùi chưa bao giờ chứng kiến một con quái vật ở vùng biển cạn như thế này. Người ta chỉ nghe ông bà kể lại từ xa xưa ở cửa sông Diêm có một con bạch tuộc rất lớn, lớn bằng chiếc nong nuôi tằm đã biến thành tinh. Mỗi năm nó bắt đi một người, có khi người ấy đang bơi lội bỗng nhiên mất hút. Cả làng lao xuống mò mẫm, tìm kiếm vẫn không thấy, rồi mang thuyền ra quăng câu rà cũng không được, mang lưới kéo, rồi cắm đăng nát cả một khúc sông cửa biển mà cứ như ma nó nuốt. Thế rồi bao giờ cũng thế chỉ hôm sau xác nổi lên đúng cái chỗ người ta rà soát, mò mẫm nhiều nhất. Vớt xác lên toàn thấy nhớt nhãi đúng như con bạch tuộc cuộn lại trong miệng mà giữ, mà lẩn tránh. Chuyện không biết có thật hay giả, nhưng đời này qua đời khác người làng Bùi tạc ra biết bao là chuyện rất ly kỳ xung quanh con bạch tuộc.

Bây giờ con quái vật xuất hiện chỉ có Thuần là tường tận về nó. Dân làng Bùi người thấy, người không, vì thế mà một đồn mười, mười đồn trăm, thành ra mọi người hình dung về nó ghê gớm lắm.

♣♣♣

Từ ngày gặp và làm quen với Thuần, Sa cảm thấy cuộc sống của mình có ý nghĩa. Từ sợi tóc, móng tay đến toàn bộ cơ thể, chỗ nào Sa cũng cảm thấy đẹp và có giá trị. Mấy ngón tay mà trước đây đã bao nhiêu lần ông bố dượng cầm roi cứ nhè vào đầu ngón mà vụt, miệng rít : “Sao tao nhìn mấy cái ngón tay vụng về xấu xí của mày tao cứ lộn cả tiết!” Đến nỗi mỗi lần thấy ai là Sa phải giấu bàn tay vào trong áo, thì bây giờ đối với Thuần bàn tay ấy đẹp biết nhường nào, anh mân mê, vuốt ve lại còn đưa ngón tay loang lổ của mình ra so sánh. Anh nhìn miệng Sa đắm đuối thèm khát. Sa làm việc gì Thuần cũng thích thú và tỏ vẻ hàm ơn làm Sa phát ngượng. Sa siêng đi biển hơn và tất nhiên ngày nào cũng về muộn, cơm nước thất thường, bữa đực, bữa cái. Thế rồi người làng đi chợ bắt gặp Sa cũng đi chợ và bán các đồ biển; bán rổ, bán rá, thúng mủng, giần sàng..., cũng chả mấy ai quan tâm lắm, đèn nhà ai nấy rạng, rỗi hơi mà chõ vào việc nhà khác. Nhưng rồi một hôm nào đó có ai ngứa miệng, và bỗng đâu tin này đến tai ông bố dượng, ông liền điều tra và bắt quả tang Sa ngồi trong chợ bán cá lác. Ông lần mò, theo dõi và biết được mối quan hệ giữa Sa với thằng hủi. Thế là Sa được hưởng một trận đòn thừa sống, thiếu chết và bị nhốt ở trong buồng.

Người Sa sưng tím nhiều chỗ, những vết ông đánh bằng roi mây lằn lên rồi tấy đỏ như giời leo, tuy đau và rát nhưng Sa không sợ lắm, mà sợ nhất là những cú đấm đá của ông vào bụng, vào sườn, vào âm hộ nhìn chỉ thấy hơi tim tím nhưng đau nhưng nhức ở bên trong. Sa nằm lịm như chết ở trong buồng, không ai chăm sóc, quan tâm. Mấy đứa em cùng mẹ khác cha cũng được giáo dục để khinh rẻ Sa, rồi lại sợ Sa đã bị lây bệnh hủi nên không đứa nào đoái hoài gì chị. Sa tủi uất quá chỉ muốn tự tử, nhưng Sa chỉ nghĩ và thương Thuần không có ai giúp đỡ, không có ai đi chợ bán chác để mua sắm cho. Mà lạ thế, cứ mỗi khi nghĩ đến Thuần tự dưng Sa cảm thấy quên hết đau đớn và không muốn chết nữa. Thuần ơi nếu mà chúng mình được sống chung với nhau nhỉ? chỉ có hai đứa mình thôi, sẽ không còn đòn roi, không còn lườm nguýt, không còn sự khinh rẻ của mọi người..., mới chỉ nghĩ đến thế Sa xấu hổ quá, đồ con gái hư thân mất nết, ai người ta thèm đến mình... đã câm lại điếc, lại bị thằng thổ tả nó làm thủng mất rồi. Sa có mỗi cái ấy là có giá ngang hàng như bao đứa con gái khác thì đã mất. Nghĩ mà căm thù thằng khốn nạn. Sa nằm khóc thút thít, khóc như để lấy nước mắt tưới cho tâm hồn đỡ héo hắt, khóc để ru ngủ nỗi đau đớn tủi hận của một đứa con gái có số phận hẩm hiu. Rồi một hôm tự dưng Sa nảy ra ý định trốn đi ở với Thuần. Cứ nghĩ, nghĩ mãi, nghĩ đến nóng lên, bất chấp những vô lý, rồi lại tự mình phủ định, lạnh đi, đời nào anh Thuần chấp nhận đứa con gái như mình.

Mấy ngày không thấy Sa ra, Thuần nóng ruột vô cùng, không lẽ Sa ốm đau, hay có sự cố gì? Ngày ngày chừng giữa buổi Thuần vẩn vơ ngoài bãi ngong ngóng xem có thấy bóng dáng Sa ngoài rừng sú vẹt; không thấy, Thuần lại lên mặt đê trông về phía mặt trời lặn. Nhà Sa ở sau lùm tre xanh rì bìa làng xa xa kia. Trong làng lặng ngắt, không tiếng chó sủa, không tiếng gà kêu, lợn rống... Sa không đi biển, chứ không phải Sa không đến chỗ Thuần. Nhất định là Sa ốm rồi. Thuần ốm được Sa chăm sóc thuốc thang, vậy mà Sa ốm mình lại không thể giúp đỡ gì được. Càng nghĩ lòng Thuần càng như lửa đốt, đứng ngồi không yên. Hay là con quái vật đã làm gì Sa? Biết đâu đấy vì hàng ngày Sa thường qua lại vùng biển này. Sa có nói được đâu mà kêu cứu. Nghĩ thế, Thuần quay xuống bãi, phăm phăm chạy ra hồ quan sát, biển cạn êm ru, trên mặt lầy, dưới gốc những cây sú vẹt rì rào, lép nhép tiếng cáy, còng, cá, tôm đùa giỡn. Hồ sâu hom hỏm, phù sa đục ngàu, mặt nước lũm bũm mấy con cá loi choi đang lặn ngụp, bơi lội. Thuần lận lầy đi vòng quanh bờ hồ xem có thấy dấu vết gì đặc biệt. Tuyệt nhiên không có.

Thuần buồn bã trở vào bãi cát đứng nhìn ra khơi xa, phía mặt trời lên, xa xa núi Đồ Sơn in lên nền trời những dãy trập trùng xanh ngắt, ngoài khơi một chiếc thuyền căng buồm giống như cánh của những con dơi đang lặng lẽ chập trùng sóng nước. Trời và nước trăng trắng, mênh mông không có bến bờ, một con bù nông từ mặt cồn đen bùng lên như chạm phải lửa, trải đôi cánh như hai chiếc diều từ từ đáp xuống bãi lầy, lời ru của mẹ thuở ấu thơ như văng vẳng bên tai:

Cái cò, cái vạc, cái nông
Ba con cũng béo vặt lông con nào?
Vặt lông con vạc cho tao...

Nỗi nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ mái ấm gia đình thủa xưa khiến Thuần thẫn thờ, xao xuyến... Gia đình là một tổ ấm, mà mỗi người hạnh phúc đều có được để hàng ngày sau khi chống trọi với đủ thứ cạm bẫy, băng giá trên đời, họ trở về sưởi ấm, lấy lại tình người. Vậy mà bao năm nay họ đã cướp đi tổ ấm rất đỗi thân thương của Thuần. Gặp được Sa, Thuần như tìm lại được hơi ấm thủa xưa, thế mà không hiểu sao Sa bỗng mất tăm, mất tích? Đêm nay Thuần phải vào làng thôi, vào làng để xem sự thể ra làm sao? biết đâu Thuần có thể giúp Sa được gì chăng? Nhà Sa vắng lắm, không đèn đóm, không cả bóng người. Lợi dụng bóng tối Thuần áp sát đầu hè, vạch tấm liếp che cửa sổ, nghển cổ rọi mắt vào trong nhà. Im lặng. Trong lúc Thuần đang căng óc để theo dõi, phán đoán thì có người ngoài ngõ đi vào. Thuần vội lẻn ra bờ rau ngót, nằm ém. Thì ra cả nhà họ - bốn người đi ăn giỗ về, chỉ thiếu có Sa, dĩ nhiên là họ không bao giờ cho Sa cùng đi rồi, vậy thì Sa đi đâu? Lạ nhỉ? Thuần tìm chỗ kín đáo nhất, sau cái đống rạ, nằm ếp vào đó để theo dõi suốt đêm. Tuyệt nhiên không có dấu hiệu Sa ở nhà. Gần sáng, Thuần thất vọng, buồn bã quay trở ra. Sa ơi! Em đi đâu mà để Thuần mong ngóng, lo lắng quá?

Thuần buồn rầu, thẩn thơ, ra ra, vào vào chả thiết nấu nướng, ăn uống gì cả, có bữa Thuần chỉ nướng bắp ngô, ngồi tỉa từng hạt uể oải nhai đi, nhai lại. Rồi vài đêm sau nữa, Thuần vẫn tiếp tục tìm vào nhà Sa, ém bờ rau ngót chờ cho cả nhà họ đi ngủ, đến khi không còn gì để hy vọng thì Thuần mới trở về.

♣♣♣

Vịn vào chạc cây sú, Thuần kéo rút đôi chân khỏi bùn lầy, nước biển mằn mặn cắn vào da thịt nhưưn nhứt. Buông tay khỏi chạc cây, Thuần cúi xuống vuốt bùn ở hai bắp chân, tựa lưưng vào gốc sú vẹt nghỉ một chút cho đỡ mệt rồi Thuần sẽ tóm được nó. Thuần đã mò mẫm trong rừng sú vẹt cả tiếng đồng hồ để lần dò theo vết chân, bỏ qua hai nốt nằm ở hai gốc sú vẹt, đến đoạn này thì vết chân của nó cào xuống lầy còn mới tinh, rõ cả nốt rê của hai cái mái chèo, vết chân dài, đầu nhọn vuốt về phía sau mảnh mai, đích thị là con cua cái. Kinh nghiệm cho Thuần hiểu con cua này ít cũng phải đưược đến bốn lạng. Dò tìm một đoạn thì Thuần lại phát hiện thấy vệt chân con cua khác, chao ôi, những vết chân cua mới tinh nhưư những vết dao chém xuống đất; bên phải ba vết, bên trái ba vết, song song hai hàng cách nhau chừng hai mươi cen - ti - mét. Cứ đo chiều rộng của hai hàng chân là biết con cua lớn lắm, ở mỗi vết, đầu to hưướng về phía nam, đầu nhỏ hưướng về phía bắc, thế là con cua đã bò về hưướng nam. Mỗi vết chém bập sâu, đuôi vết đậm, lại thêm vết kéo lê của hai đầu chiếc càng, đích thị đây là chú cua đực. Cua đực càng to, chân cùn, thì vết chém cũng thô, vết lê của đôi càng rất rõ... Thuần dò tìm đưược một lúc thì vết chân con cua đực mất hút vì có đến ba vết chân những chú cua khác băm nát, rê tứ tung, hỗn loạn như “trận đồ bát quái”, không còn xác định nổi đâu là vết chân của con cua nào, Thuần đành dừng lại phân tích... Con cua đực Thuần đang săn tìm vết kéo lê của chiếc càng bên phải có một vết hơi trũng xuống, có thể đó là một con hà nhỏ bám vào mép dưưới của càng, chỉ có cua lớn cỡ này mới có hà bám. Ba con còn lại, vết càng không rõ, trong đó có một con có lẽ chiếc mái chèo bên trái bị thưương nên vết kéo lê bên trái hơi bai bải. Thuần lùi ra xa cái “trận đồ bát quái”, đi một vòng rộng hơn, quả nhiên Thuần đã thấy lại vết chân của chú cua đực. Chỉ rượt thêm một quãng ngắn, Thuần đã tóm đưược nó đang làm mánh ở một vũng nước.

Trở lại tiếp tục tìm con cua cái, Thuần dò theo thì ả bò một vòng xung quanh gốc cây sú vẹt nữa, rồi vượt qua bãi trống, tiến về khu rừng có bốn cây bần lớn vượt cao hẳn tầm của rừng sú vẹt. ở một gốc bần, lầy hơi trũng xuống và có vẻ nhão hơn vì còn đọng nhiều nưước biển, vết chân của con cua tiến thẳng đến vũng bùn nhão đó rồi dừng lại. Thế là kết thúc một cuộc săn tìm quái quỉ, chỉ một chút nữa, chú cua khổng lồ này sẽ ngoan ngoãn nằm vào trong chiếc giỏ đeo sau lưng Thuần. Kia rồi, Thuần đã nhìn thấy một vết nứt nhưư răng cưưa, hình vòng cung ở gốc bần, ở giữa cái vết nứt ấy, nhu nhú lên hai con mắt màu xanh đen như hai cái trứng kiến, ệp xuống lẫn với màu đục của bùn lầy. Chà, con cua cái mẩy và lớn quá, sao lại nằm quay vào trong? Chưưa bao giờ Thuần thấy cua giấu mình ở gốc sú vẹt lại nằm nhưư thế này? Thưường thì chúng phải hướng hai chiếc “thanh long đao” ra ngoài để sẵn sàng tiến công kẻ thù. Thôi kệ, dù quay vào trong, hay ra ngoài, trước sau cũng phải nằm vào trong giỏ. Thuần lựa chiều nằm của con cua, định chọc sâu ngón tay xuống phía dưưới hai bên yếm, đè ngón cái lên mai của nó, chỉ có cách bắt nhưư thế thì mới tránh bị cắp. Nhưng Thuần vừa chạm bàn tay phải vào con cua, thì vòm trời hình nhưư đổ sập xuống mặt biển. Biển gồng lên quằn quại, nắng, nưước và bùn lầy bị khuấy tung hoà quyện làm thành một thứ màu sắc mê hoặc, rồi bỗng dưng ở phía bộ phận sinh dục của Thuần nhưư có một bàn tay vuốt mạnh. Một cảm giác đặc biệt mà rất lâu rồi nay mới trở lại với Thuần, nó giống cảm giác như Thuần và Gấm ân ái với nhau, nhưng nó mạnh hơn rất nhiều, mạnh đến nỗi làm thần kinh Thuần tê liệt. Thuần vật ra bãi lầy, bất tỉnh.

Khi Thuần tỉnh dậy, thì mặt trời đã đứng bóng, rừng sú vẹt nhưư bị nung nóng bởi cái nắng của mùa hè. Nưước đọng lại chút ít ở các gốc sú vẹt giờ cũng khô cạn, mùi bùn nóng bốc lên ngột ngạt. Thuần cảm thấy rã rời, cạn kiệt nhưư sau một cuộc vật lộn giữa giống đực và giống cái. ở dưới đũng quần ươn ướt, lành lạnh. Chao ôi! Một thứ nước đặc sệt, nhớp nhúa màu trắng đục, có lẽ đó là cái chất tinh tuý mà cơ thể cưường tráng của Thuần phóng ra trong lúc thần kinh bị chấn động và các cơ co bóp mạnh.

Thuần ngồi tựa lưng vào gốc bần, thở nhè nhẹ, gỡ chiếc giỏ lặt lèo bên hông ra ngoài cho đỡ vướng víu. Khi đã tĩnh trí, Thuần mới xoay ngưười nhìn về phía gốc bần, nơi con cua cái đã làm mánh, ở đó chỉ còn lại một cái nốt cua nằm bằng bàn tay đặt ngửa. Con cua đã biến đi bằng cách nào mà không để lại một vết chân cào trên mặt lầy? Thật kỳ lạ! Thuần nhổm dậy, hoảng hốt! Tự dưng toàn thân gai ốc nổi rợn nhưư da gà. Vội vàng nhặt chiếc giỏ, Thuần nhanh chóng rời gốc bần, bước đưược hai bưước Thuần sững lại, bốn cây bần cao lớn chụm đầu vào nhau tạo thành một quầng cây cổ thụ giữa biển xanh. Thuần vịn vào cây sú vẹt bên cạnh, quị xuống, đúng rồi! Đây chính là nơi mà xưa kia Thuần đã trốn làng ra trụ bám để cố sống, bốn cây bần ngày ấy được Thuần chằng buộc lại làm chỗ trú khi nước triều lên cao. Thuần lặng lẽ ngước nhìn ngọn bần tìm lại cảm giác của xa xưa và bỗng nhiên trông thấy trên một cành bần vắt vẻo chiếc khăn vuông đen Sa thường trùm đầu để chui vào rừng sú vẹt bắt cua, bắt cá; chiếc khăn đã bị bùn nước làm nhàu nhĩ, nhưng ở góc khăn Sa lấy chỉ trắng khâu chữ Sa thì vẫn còn rõ.

Thuần ngồi phủ phục ôm lấy gốc cây bần nhưư thể đắm mình vào nỗi đau cách đây chưa xa, nỗi đau cứa vào da thịt, dội vào tâm can của một người con trai mới mười lăm tuổi đầu. Bởi thế, nó nhưư một nhát dao chém sâu, không bao giờ liền sẹo, làm cho đôi mắt của Thuần bây giờ dưường như lúc nào cũng đọng nước với cái nhìn xa xăm, tiếc nuối và thù hận... Thuần biết ơn rừng sú vẹt đã nuôi sống và chở che cho Thuần những năm tháng cam go nhất. Hồi đó Thuần muốn chết, muốn chết với cha, mẹ và chị quá, nhưng Thuần không chết đưược, không biết cách chết. Sau này, khi đã ngắc ngoải sống và no nê đau khổ Thuần mới hiểu sống đưược đã khó, nhưưng chết đưược cũng không phải dễ.

♣♣♣

Sa nằm trong buồng đã một tuần, ngày hai lần người nhà mở cửa cho ăn và vệ sinh cá nhân, song việc lại bị nhốt vào buồng khoá chặt cửa. Sa có buồn đi đái, đia ỉa cũng phải cố nhịn chờ đến giờ, gọi thì không dám gọi, không thể gọi được, đập cửa - tù nhân mà đập cửa thì thôi rồi... có mà đi chầu ông bà, ông vải. Đành vậy, nằm im mà thở, chỉ có thở là Sa được tự do. Thôi thì cái thân Sa từ xưa có bao giờ người ta coi là thân con người đâu. Người ta không giết, còn để cho sống là may rồi. Sa chỉ thương và nhớ anh Thuần thôi, không biết người ta có làm gì hại anh không? Họ mà đốt nhà, đuổi đi thì anh biết sống thế nào? Nghĩ thì nghĩ vậy thôi, chứ nếu Sa được như anh Thuần thì lại sướng. Mà tại sao Sa lại phải khổ như thế này nhỉ? Tại sao Sa không trốn ra bờ biển sống như anh Thuần? Sa cũng có thể trồng trọt; đi biển bòn bới con cáy, con còng để sống chứ, lại còn hơn anh Thuần là đi chợ bán chác được cơ mà. Mọi người không cần Sa, thì việc gì Sa lại phải cần họ, phụ thuộc vào họ. Đúng thế, bao nhiêu năm nay bị tù hãm mà Sa không biết; bị người ta ức hiếp mà Sa phải cam chịu. Bây giờ hiểu rồi, nhất định phải làm gì đấy để chứng tỏ rằng không có họ nhưng Sa vẫn có thể sống được. Sa phải trốn, nhất định phải trốn khỏi căn nhà này; ý nghĩ đó chợt loé lên trong đầu Sa như nồi nước sủi tăm rồi dần dần sôi sùng sục. Sa bật dậy: cả nhà đi vắng hết, ông bố dượng và mẹ đi làm hợp tác, hai đứa em đi học; hàng xóm cũng ra hết cánh đồng. Sa đẩy cửa buồng, cửa khoá chặt. Sa đẩy cái liếp che cửa sổ, cửa bật lên, một khoảng sân vắng ngơ, vắng ngắt chỉ có mỗi con mèo mướp nằm lim dim ngủ góc thềm nơi nắng vàng dọi xuống. Sa loay hoay tìm đường ra, hết đẩy cửa, nhìn lên mái rồi rung vách... nhưng đều không được. Sa bất lực lại nằm xuống giường suy nghĩ. Ước gì Sa có sức khoẻ đạp một đạp, bức tường vách đổ ụp nhỉ. Sa đạp thử, bức tường chỉ rung rung nhẹ, giống như một cơn gió đập vào bức tường xây. Sa leo lên xà nhà, vịn kèo thọc tay lên mái. Mái lợp bằng rạ có thể lôi ra từng nắm, nhưng rui mè ken dày quá, muốn chui lọt phải cưa đứt. Sa không thể làm được điều đó, đành tụt xuống ngồi thở. Thế này thì uất quá, đã không nói, không nghe được lại bị nhốt, khác gì người sống dưới nhà mồ. Sa vật xuống giường tức tưởi khóc; khóc để trút hận đau, hay khóc để rủa mình, rủa đời cũng không biết nữa. Tiếng khóc của Sa nỉ non, hay gào thét nào Sa có nghe. Dù gào thét hay nỉ non thì nước mắt cũng chảy ra, chỉ có lòng Sa là cảm nhận được. Cho đến khi nước mắt dường như đã rửa bớt hận đau, mình và đời cũng phần nào phơi bày ê chề thì Sa cảm thấy tỉnh táo nhẹ lòng, cô ngồi dậy miết hai đuôi mắt, lấy chiếc lược chải lại mớ tóc mềm cho suôn sẻ. Nghĩ một lát rồi Sa đứng dậy bước đến cửa buồng làm bằng cót, lựa tay bưng cả tấm đẩy ngược lên, chiếc cửa bỗng bật ra dễ dàng, thế mà Sa không biết cứ tìm kiếm đâu đâu. Sa lách người tọt ra ngoài, quay lại nâng cánh cửa lắp lại như cũ. Sa quơ luôn bộ quần áo, vài thứ lặt vặt nhét vào chiếc bị cói, nhấc chiếc tích nước tu ừng ực cho đã những ngày đói khát, nhìn quanh xem còn thứ gì cần phải mang đi theo... hết! Những thứ Sa cần cho một cuộc sống mới đều không có, hoặc có thì không thể mang đi được. Xuống chuồng lợn Sa lấy thêm chiếc dầm, chiếc cuốc, con dao, những thứ cần để bới don, bới día và trồng trọt. Sa gói ghém cẩn thận, nhìn trước, nhìn sau tót luôn ra ngõ. Vừa đẩy chiếc cổng bằng tre bước ra ngoài đường thì ông bố dượng vác chiếc cày, dong con trâu cũng vừa về đến đầu ngõ. Sa rụng rời chân tay, hồn siêu phách lạc, cô sững sờ, trân trân như một cái xác chết đứng, chiếc bị cói và chiếc cuốc rơi phịch xuống đất.

Ông bố dượng nhìn thấy Sa xuất hiện đầu ngõ, lại tay xách nách mang hiểu ngay việc gì đã xảy ra. Ông quẳng chiếc cày xuống đường, buông con trâu lao đến túm lấy Sa. Sa run rẩy quị xuống, bàn tay ông bố dượng vồ được cạp quần lôi xềnh xệch vào nhà.

♣♣♣

Lần săn hụt con cua cái ở gốc bần và hiện tượng đặc biệt xảy ra đối với Thuần, không những không làm Thuần sợ mà càng cuốn hút, nhất là chiếc khăn sót lại của Sa lại càng thêm tò mò và khẳng định Sa chỉ luẩn quẩn đâu đó ở rừng sú vẹt, hơn nữa chưưa bao giờ Thuần chịu bỏ cuộc khi săn tìm những chú cua lớn nhưư thế này. Hôm nay mới là bốn con nưước, Thuần phải chờ mười ba ngày nữa, mới có thể tiếp tục cuộc săn tìm.

Mỗi kỳ nưước có mười ba con, đến con nước thứ mười bốn ngưười ta gọi là ngày nước nghén. Sau ngày nghén, nưước lại một con, rồi hai con nước, ba con nước... lặp lại cho đến con nưước thứ mười ba, lại nghén... Từ một đến bốn con nước, triều không vào bờ, cả vùng biển lầy khô dần, khô dần. Những chú cua biển hàng ngày theo triều vào bờ có thể là để lột xác, cũng có thể là do mải chơi, không kịp theo triều ra khơi, đành phải rúc xuống lầy trú ngụ ở những gốc sú vẹt để chờ ngày hôm sau triều vào thì lại theo nước trở ra đại dương. Bỗng có đến mấy ngày liền biển cạn, thế là chúng hoảng sợ bò đi tìm nưước, bò đi đến đâu, để lại vết chân trên mặt lầy đến đấy, và đó chính là dấu vết lộ tung tích. Lợi dụng sơ hở đó của chúng, ngưười ta đeo giỏ lội vào rừng sú vẹt để đi xét cua. Ngưười giỏi một buổi sáng có thể bắt được vài chục con, ngưười kém có khi đi không về rồi.

Một kỳ con nưước đã qua và ngày chờ đợi đã đến. Ngay từ sáng sớm, Thuần đã hăm hở ngoài bãi biển. Mới sáng mà trời đã nhưưng nhức nóng, mặt trời nhưư hòn lửa từ dưới biển nhô lên phóng những tia nắng chói chang xuống rừng sú vẹt, tiếp tục hút khô những vũng nước còn đọng lại. Đàn dã tràng lập loè bãi cát, mẫn cán khuân vác như những người thợ hồ. Một chú cá loi choi màu xám nhỏ bằng chiếc đầu đũa từ mặt lầy nhảy như một con nhái để chạy thoát thân, rồi lao xuống vũng nước lặn ngụp, lại ngoi lên bơi nhưư một con vịt, đến khi nguy quá nó bật vút lên cây sú vẹt, leo tót sang một chiếc cành cao hơn. ở phía dưới, chú cá lác hoa phồng mang, trợn mắt bất lực, đành quay đầu bắt nạt mấy nàng cáy xanh bé nhỏ.

Thẫn thờ một chút rồi Thuần xốc lại chiếc giỏ, xác định lại hưướng lần nữa và cúi xuống luồn vào rừng. Chỉ một lát, Thuần đã có mặt tại khu rừng có bốn cây bần. Trong rừng nóng hầm hập, lại thêm nắng nhưư vãi lửa, nên rừng sú vẹt như một tấm bạt chụp chặt lấy mặt biển cạn. Thuần leo lên một cây sú vẹt lớn để đưược phóng tầm mắt ra trùng khơi và hít thở không khí của trời xanh bao la, cả một rừng xanh rì mút mắt bao bọc lấy xóm làng. Màu xanh lam của rừng sú vẹt hoà với viền xanh lục của rừng phi lao chạy dài trên bãi cát lại điểm xuyết với màu xanh nhạt của những rặng tre tạo thành sắc màu làng quê ven biển mà đi xa mấy cũng không thể nào quên được. Ngắm biển trời một lát rồi Thuần lại phải trèo xuống tiếp tục công việc săn tìm. Lưượn thêm một vòng nữa, Thuần bắt gặp đúng nốt chân con cua cái mà đang săn tìm từ kỳ con nưước trưước. Thuần chắc là thế, bởi cái vết chém của bốn chiếc chân vuốt lại phía sau mảnh mai, và đặc biệt vết chân thứ ba hàng bên phải bao giờ cũng chém xiên sang trái rồi vuốt nhẹ hơi vênh sang phải, có khác trước là cái yếm của nó chắc là đầy hơn, nên thỉnh thoảng lại thấy vết chợt ở mặt lầy - con cua đang thời kỳ làm gạch.

Thuần đã lội lầy, dò tìm, quẩn quanh, băm nát cả khoảnh rừng mà vẫn không tìm được con cua. Nắng gắt. Nóng bỏng. Những chiếc lá sú vẹt bỏng rát, mềm nhũn sờ vào nhưư sờ tấm lá tôn bị nung nóng. Từng chùm trái sú vẹt nặng chĩu nhọn hoắt nhưư những trái bom, tua tủa rũ xuống vì cành cây bị nắng luộc mềm. Thuần nâng vạt áo lau mồ hôi, bứt một chiếc lá sú vẹt đưa lên miệng nhấm nháp, cái vị vừa chua, vừa chát thấm vào tia lưưỡi làm chun các đầu dây thần kinh trong miệng.

Thuần cúi xuống tiếp tục cái việc săn tìm con cua cái. Lạ thật, thưường mấy khi cua vào biển cạn trụ lại đến hai kỳ con nước, vậy mà con cua này... hình như nó muốn chơi trò ú tim với Thuần, và chính như thế lại kích thích tính tò mò, cuốn hút Thuần nhất định không bỏ cuộc.

Thuần tiếp tục theo vết chân con cua, vưượt qua một cái trảng trống, nắng dọi xuống trắng gắt, những con cáy đá mình màu xanh có đôi càng trăng trắng đang nhởn nhơ gắp đất đưa vào miệng, thấy Thuần chúng rào rào chạy xuống lỗ. Không để ý, Thuần lội ào vưượt qua trảng, xuyên vào rừng sú vẹt tiếp cận mục tiêu. Vết chân con cua tiến thẳng đến nơi có bốn cây bần lớn, Thuần hơi chờn chợn, rồi tiếp tục lao đi. Cách bốn cây bần “định mệnh” khoảng ba bưước chân nữa thì chú cua cào lầy tạo thành một vũng nưước, ở giữa cái vũng nưước, nó đào một cái lỗ xiên ngang, đất cào lên màu xám còn tưươi rói. Thì ra mày đi tìm nơi có nưước để đào lỗ lột xác. Cua bấy tuyệt lắm, người đi xét cua mấy khi bắt được, thường đã bắt đưược cua lột xác thì tóm luôn được cả đôi vợ chồng cá bớp. Cá bớp hay đào lỗ bên cạnh, chờ cho con cua vừa lột xác xong, chân yếu tay mềm, chả làm gì đưược, thế là vợ chồng chúng lao xuống, lôi lên xé xác chén ngon lành. “Cua có gọng, bớp có gan” là thế.

Thuần tựa vào một cây sú vẹt quan sát xem có thấy có dấu vết gì của Sa tương tự như cái khăn lần trước và tự thưưởng cho mình một phút nghỉ ngơi trước khi tóm con cua cho vào giỏ. Không có, tuyệt nhiên không có, chả lẽ Sa... ? Bỗng từ phía gốc bần gần đó một con cua đực to bằng bàn tay xoè, hai chiếc càng vàng khựa dữ dằn lao tới tấn công con cua cái đã lột xác mềm bấy nằm bất động trong vũng lầy trưước miệng lỗ. Từ một chiếc lỗ cách con cua cái không xa, hai con cá bớp đen chũi, dựng ngược vây cũng lao tới. Con cua đực dừng lại giưương hai chiếc càng nhưư hai cái mã tấu ra nghênh chiến. Con cá bớp cái lao xuống vũng nưước nằm che chắn cho con cua mềm, con cá bớp đực lừ lừ tiến đến con cua đực. Hai bên nhưư hai võ sỹ chuẩn bị ra đòn. Con cá bớp đực bỗng du mình lao tới, lập tức hai chiếc mã tấu của con cua đực chém rập một nhát, nhưưng con cá bớp đã nhanh hơn lộn ngược trở lại, thò chiếc đuôi vật vờ trưước miệng con cua đực. Chớp thời cơ, con cua đực giơ chiếc càng bên phải phập một nhát vào đuôi con cá bớp. Chờ cho hai chiếc gọng kìm của chiếc càng bập sâu, con cá bớp mới vật mạnh chiếc đuôi của mình, thế là chiếc mã tấu thứ nhất của con cua bị gãy, bắn sang một bên. Con cua đực lùi né phòng thủ. Con cá bớp nhảy sang bên trái tiếp tục lùa chiếc đuôi vờn vào đầu chiếc càng bên trái còn lại của con cua. Mất cảnh giác, con cua đực lại bập hai chiếc gọng kìm vào đuôi con cá bớp. Phập, một nhát vẫy đuôi cực mạnh, chiếc mã tấu thứ hai của con cua gẫy văng ra xa. Bị tước hết vũ khí, con cua đực toan bỏ chạy, nhưưng cả hai con cá bớp đã lao tới, mỗi con bám vào một vết gẫy của hai chiếc càng trên mình con cua ray rỉa, mút cho đến khi con cua chết.

Thuần cứ nghĩ khi chén xong con cua đực thì vợ chồng con cá bớp sẽ thịt tiếp con cua cái bấy mềm, nào ngờ chúng lại trở về lỗ của mình nằm để bảo vệ con cua cái. Thuần cảm phục vợ chồng con cá bớp vừa dũng cảm lại bao dung. Thuần lại cũng cảm thấy thưương thương con cua cái bấy mềm không còn khả năng tự vệ. Thì ra loài vật cũng có nghĩa khí của loài vật... Nghĩ thế nên Thuần không nỡ bắt con cua cái và đôi vợ chồng con cá bớp nữa. Thuần cứ vẩn vơ trong rừng để tìm xem có thấy dấu vết gì của Sa không, lạ nhỉ chả lẽ Sa đã bị mất tích ?

♣♣♣

Phải mất đúng mười ngày Thuần mới dậy đưược vì bị ốm. Tuy không nặng bằng lần trước, nhưng ngưười cứ nhưư bị hút rỗng roãng, chao đảo, mất trọng lượng. Thức thì thôi, cứ ngủ đi là hình ảnh Sa lại hiện ra, đêm qua Thuần mơ thấy Sa và Thuần chung sống như một đôi vợ chồng. Hai đứa ra ngoài bãi cát hái trái sú vẹt xếp chữ để nói chuyện với nhau. Thuần run rẩy xếp một hàng chữ và hồi hộp chờ đợi phản ứng của Sa. Sa nằm sấp, hai tay chống cằm, xoã mái tóc thề chạm cát, để trễ bộ ngực non tơ trắng mịn, miệng nhẩm: “E... m... c... ó... y... ê...”... vừa lúc đó ở dưưới bãi lầy, một con cá nhệch vàng ưươm to bằng cán cuốc, dài đến một mét, dựng đứng, đuôi chạm mặt lầy cất cao đầu nhưư con hổ mang bành, vây xoè căng như cánh chuồn đi như lướt trên mặt biển. Theo sau con nhệch, là hàng đàn nào cá lác hoa, cá bớp, tôm tu, cá loi choi, bo bỏ, còng gió, cáy hôi, hoa bầu, lư, ghẹ... hầu nhưư mọi sinh vật trú ngụ ở cái vùng biển cạn này, mỗi loài một màu sắc, mỗi con một dáng vẻ bỗng bật dậy lũ lượt hành quân, rồi nhảy múa xung quanh con nhệch. Cả một vùng biển chói loà của thứ ánh sáng ma quái.

Sa thích quá đứng dậy từ từ bước xuống bãi lầy. Tất cả đàn cá biển quây lấy Sa nhưư một vòng hoa đủ sắc màu bay lượn xung quanh nàng tiên. Thuần cũng nhưư mê, như sảng, cho đến khi tĩnh tâm trở lại thì cả vùng biển lại lặng nhưư tờ, chỉ còn mình Sa đứng thẫn thờ dưới bãi.

Những rung động của giấc mơ làm Thuần tỉnh hẳn không thể nào ngủ lại được nữa, cứ luyến tiếc ngẩn ngơ. Thuần nhớ và thương Sa quá, người ta giết, hay người ta bán Sa đi đâu? giấc mơ phải chăng là điềm gở? Trời ơi là trời! Nếu như Thuần là người bình thường thì đã sục sạo trong làng để tìm ra tung tích của Sa. Bất cứ ai hành hạ Sa, Thuần cũng sẽ cho một trận, cần thiết Thuần sẽ dựng một túp lều bên cạnh để Sa sống bình yên.

Đợi đến ba con nưước, cũng là lúc sức khoẻ hồi phục, Thuần lại sắp giỏ ra rừng sú vẹt. Hôm nay nhất định Thuần phải săn bằng đưược con cua quái kiệt này, dù thế nào Thuần cũng không lùi bước.

Thời tiết đã chuyển dần sang giữa hè, nắng càng gắt, vì thế mà mặt biển cạn vào ba con nưước như hôm nay rất khô, cua cũng sẽ bò đi tìm nưước nhiều hơn.

Thuần quan sát một lượt, rừng sú vẹt như một dải lụa mềm xanh biếc, xa xa bốn cây bần nhô cao thành một lùm xanh vưượt hẳn mặt rừng. Thuần xác định phưương hướng rồi lội một mạch tới khoảnh rừng có bốn cây bần, cũng chẳng phải mất công gì nhiều, Thuần tia được ngay vết chân con cua quen thuộc. Sau một kỳ con nưước, con cua đã dần dần cứng cáp từ khi lột xác, cũng vì thế mà vết chân của nó tuy có lớn hơn, nhưưng còn yếu ớt, cái vệt chân trễ nải, mảnh mai, lười biếng.

Con cua không nằm lại bất cứ nơi nào nhưư mọi lần, mà nó tiến thẳng đến chỗ bốn cây bần quen thuộc, cách cây bần đầu tiên chừng mười mét, vết chân nó bỗng biến mất. Theo kinh nghiệm, trong trường hợp này thì con cua đã bị người khác bắt, nhưng nếu thế thì người bắt phải để lại dấu chân? không có, tuyệt nhiên không có, vậy thì nó biến đi đâu? Cua không bao giờ leo được cây, cũng không thể nhảy nhưư con nhái, con cóc đưược. Hồi Thuần còn ở trên Phú Thọ nghe nói ở trong rừng có những con cáo tinh khôn, mỗi khi trở về hang cách độ dăm mét là chúng nhảy để giữ bí mật cửa hang. Chả lẽ giống cua cũng tinh khôn nhưư thế? Nhưưng dù nó có tinh khôn đến mấy, cua cũng không thể làm được nhưư con cáo. Hay là Sa đã săn được con cua này? Nhưng nào có thấy lốt chân Sa. Mong và nhớ Sa thì Thuần cứ hay tưởng tượng ra thế thôi, biết đâu lúc này Sa đã bị người ta đưa đi xa lắc, xa lơ rồi cũng nên.

Thuần đi một vòng, rồi quyết định tiến đến bốn cây bần. Quả nhiên tại đó vết chân con cua lại xuất hiện, nó cũng bò vài vòng quẩn quanh nhưư thể xác định một chỗ nằm ưng ý rồi làm mà tại một gốc bần. Con cua không ý tứ gì hết, nó nằm gần nhưư lồ lộ trên mặt lầy, cái mai vẫn còn màu xanh nhạt chứng tỏ mới lột xác chưa được cứng cáp, đôi mắt thô lố ệp xuống, cửa miệng sùi ra một chút bọt. Thế là kết thúc một cuộc săn tìm kéo dài hơn một tháng trời vất vả, một lần phải chết ngất và một trận ốm nặng. Thành công sau một loạt khó khăn khiến Thuần sung sướng.

Thuần gỡ chiếc giỏ đặt ra bên cạnh để chuẩn bị bắt con cua bỏ vào. Khi bàn tay vừa chạm, lại cũng nhưư lần trước, Thuần ngã sấp mặt xuống, quằn quại và lồng lộn. Gió biển bỗng gầm rú, rít lên nhưư giông, tố, rừng sú vẹt ào ào chuyển động. Biển cạn dềnh lên, nghiêng ngả, trời và đất nhưư giao hoà làm một... Thời gian trôi đi nhưư thế không biết bao lâu, đến khi Thuần tỉnh dậy, thì thấy người úp xuống mặt biển, nơi con cua đã làm mà. Trời, biển lặng yên, vài tiếng tốp tốp của những con tôm tu bật càng dưưới lỗ làm cho không gian càng thêm tĩnh lặng. Thuần cố ngồi dậy nhưng không thể nào dậy đưược, phần bụng dưới hình như bị dính chặt xuống lầy. Thuần rút mãi, rút mãi, rồi lật mình trở dậy đưược, thở phào, nhìn lại cái vùng vừa nằm, không thấy vết tích con cua đâu cả, ở đó chỉ có một chiếc lỗ nhưư đầu chiếc cán cuốc xoáy xuống lòng biển. Tò mò, Thuần cúi xuống quan sát, trên miệng lỗ có vưương một giọt máu hồng, và nơi đó phảng phất hưương thơm của mùi mật hoa sú vẹt.

♣♣♣

Sa bị ông bố dượng giần cho một trận nữa, rồi kéo chiếc xích sắt thường để xích chó xích chân Sa vào gốc cột. Ngày một lần đích thân ông bố dượng tháo xích cho Sa đi ỉa, đái; tuần một lần đi tắm giặt. Sa gầy rộc và toàn thân ghẻ lở; đầu tóc, quần áo chấy rận lúc nhúc như sung. Thực ra ông bố dượng chẳng thương xót gì, ông ta chỉ sợ thả ra Sa đi lại gặp gỡ với thằng hủi rồi lây lan mang về gieo rắc cho cả nhà, hoặc lỡ ra bị thằng hủi làm cái chuyện chết người để cho có thai thì vợ chồng ông lại gánh thêm gánh nặng nữa. Nếu như Sa chết đi được thì tốt biết chừng nào, hoặc bỏ hẳn nhà đi biệt tăm cũng được. Nhưng mà thời buổi này đi đâu rồi công an cũng điệu về trao trả. Đồ chó chết, mày như con ma ám, đến bao giờ tao mới hết nợ đời, con đĩ kia, lão gầm lên, giật mạnh chiếc dây xích làm Sa ngã nhào, cổ chân đau nhói vì bị dây xích làm sưng tấy. Sa lồm cồm bò dậy, lại bị lão dùng đầu chiếc dây xích quất vào lưng, Sa oằn người nghẹt thở. Sa muốn thét lên, chửi vào mặt lão mà cổ họng nghẹn chặt cuộn lại trong lồng ngực. Sa uất lắm, người câm thường hay uất và uất kinh khủng hơn người bình thường, bởi người bình thường có thể giải toả bằng cách này hay cách khác, còn người câm chỉ biết cuộn lại trong ngực. Thân phận Sa còn không bằng con chó. Con chó còn được chạy nhảy đi đây đi đó, sống mà như chết thế này thì Sa chết đi cho đỡ khổ.

Lợi dụng lúc được ra đi đái, ỉa khi qua chỗ để rổ bát Sa chộp được cái môi nhôm vội vàng nhét vào trong bụng, cài vào cạp quần. Sa đã có vũ khí để cạy bật tung mắt xích, chỉ một mắt thôi là Sa có thể được tự do. Một đi, quyết không trở lại.

Ông bố dượng từ ngoài giếng chạy vào vồ lấy đầu xích tiếp tục cái việc dắt Sa nhốt vào trong cái địa ngục. Khi bước vào trong nhà, lợi dụng vắng vẻ, lão một tay giữ dây xích, một tay vét vào háng Sa. Bàn tay lão bốc trọn được ngay cái môi, ức quá, lão luồn tay vào trong quần lôi tuốt cái môi ném roảng vào góc nhà. Thuận tay phải, lão túm lấy tóc Sa kéo giật ngược, tay còn lại thọc vào trong quần, lão bốc được âm hộ Sa bóp, móc, ngoáy. Sa đau quá ôm lấy cánh tay lão, thuận miệng nghiến một nhát vào bắp tay. Cơn hận bùng lên, Sa xiết chặt hai hàm răng rứt, xé rách một mảng thịt, máu toá ra đỏ lòm. Lão đau điếng, thét lên như vỡ tim, ôm lấy cánh tay. Lợi dụng sơ hở Sa chạy tọt vào trong buồng đóng sầm cửa lại và cài then chốt chặt. Lão căm tức đạp tung cánh cửa xông vào túm tóc Sa đấm, đạp túi bụi cho hả giận.

Sa nằm mềm nhũn như chết góc giường, thân thể tím bầm, âm hộ đau rát, sưng tấy vì một mảng lông bị lão rứt bật rễ. Thế này thì Sa nhục quá, nhục mà phải chết, không chết trước thì lão cũng hành hạ cho đến chết thì thôi. Sa chết, chết ngay trong căn buồng này cho lão biết mặt, cho mẹ hổ thẹn. Đôi mắt ngàu đỏ của Sa loé sáng khi bắt gặp chiếc đinh thuyền cắm ở đầu cột. Sa vùng dậy, đứng lên đầu giường nắm đầu chiếc đinh lay. Chiếc đinh to bằng ngón tay trỏ đóng vào cột lâu ngày đã bị han gỉ, lại với sức lực gái 17 cộng thêm ngọn lửa bùng hận, nên Sa chỉ lay mấy cái là gẫy. Sa nắm chặt chiếc đinh trong lòng bàn tay phải, máu ở thái dương nóng rần rật, mắt Sa long lên như người điên, miệng nghiến chặt. Sa giơ chiếc đinh nhọn ra phía trước rồi nhắm mắt, nghiến răng đâm phập một nhát vào ngực.




...CÒN TIẾP...
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 27.10.2008 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội .


. TÁC PHẨM CỦA BÙI THANH MINH CHỈ ĐĂNG TẢI TẠI NƯỚC NGOÀI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM