Tranh của cố họa sĩ Tạ Tỵ
























TRẦN THỊ BÔNG GIẤY





"Bút ký NCQC của Trần Thị Bông Giấy đã từng được một NXB tên tuổi ở Tp Hồ Chí Minh đề nghị mua bản quyền in ấn. Dù sự việc không thành nhưng tác giả vẫn giữ nguyên bản đã được NXB này lược duyệt khi cho phép ban biên tập đăng tải trên Newvietart."





BÀI 17



Paris.

“Thức đêm lai rai” để nghe ngóng lòng mình là một trong vài sở thích đặc biệt của tôi. Tại đây, trong căn phòng nhỏ không có lò sưởi, thời gian đã quá nửa đêm, tôi như tìm thấy cho mình một nỗi an bình thật sự. Cả một xã hội quay cuồng không còn vị trí. Và những lo toan phiền não trong suốt ngày dài phải lùi bước bên ngoài khoảng không gian chật hẹp của riêng tôi.

Cái bản chất “ngây thơ” trước cuộc đời vẫn không làm tôi lớn nổi. Tôi nghe sợ những va chạm tàn nhẫn hàng ngày. Sợ những thôi thúc bức bách của một đời sống mà tôi không mảy may biết lấy gì chống đỡ cụ thể. Tuy nhiên, lòng người là thứ làm cho tôi phải ngại ngùng trên hết. Trong một xã hội Tây Phương, cái gì cũng đầy đủ, nhưng tình cảm chân thành giữa con người với nhau, tôi khó lòng tìm thấy. Nền văn minh vật chất càng cao bao nhiêu, sự đòi hỏi tận diệt về tinh thần càng nhiều hơn gấp bội. Vượt trên nhiều hình thức liên hệ chỉ là sự đạp đổ lường gạt nhau để tranh từng bước thắng. Và trong mọi mối giao hảo, điều cuối cùng vẫn chỉ đưa đến những giả trá, đố kỵ để mong tìm lợi ích cho riêng cá nhân.

Giờ đây, một tình cảm thủy chung và chân thành –dù trên khía cạnh nào—cũng là điều vô cùng quý báu mà dẫu có đốt đuốc đi giữa ban ngày cũng không tìm ra được. Cái thuở nào con người đặt giá trị đạo đức lên hàng đầu đã đi vào dĩ vãng xa xăm…

Tôi sợ. Trong nỗi sợ còn pha thêm điều chán chường buồn bã. Chỉ những khi rút về căn phòng lạnh lẽo của mình, thời gian đã quá nửa đêm, tôi mới nghe an bình trở lại.

Đánh lừa chính mình để được thấy lòng thanh thản, tôi cũng cam tâm. Bởi, dù sao trong sự đánh lừa ấy, tôi cũng đã tìm ra một lối thoát cho nỗi suy sụp tinh thần mà tôi đang đứng cạnh bên mép bờ hiểm nguy của nó.


Tháng 5/1980, lưu diễn Huế.

Huế là kinh đô Phú Xuân cũ của nhà Nguyễn. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Huế là tỉnh lỵ chính của tỉnh Thừa Thiên. Sau 1975, tỉnh Thừa Thiên cùng hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị sát nhập làm một gọi là Bình Trị Thiên, Huế là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Bình Trị Thiên kể từ đó.

Năm 1558, Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam đóng trụ sở tại xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị về sau này. Đời Chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691), kinh đô được dời về xã Phú Xuân, huyện Hương Trà, tức là Huế bây giờ. Đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) gọi Huế là đô thành. Gia Long lên ngôi năm 1802, gọi Huế là kinh sư. Tên Huế là do từ chữ Hóa của Thuận Hóa mà ra.

.. .. ..

Tôi được sinh ra ở Huế nhưng từ thuở bé đã sống tại Sàigòn. Kỷ niệm cụ thể về nơi chôn nhau cắt rốn vì vậy mà cũng gần như không có. Một vài lần trước 1975, theo ban đại hòa tấu trường Nhạc Sàigòn ra đây biểu diễn, những cuộc đi chơi tập thể chẳng khiến tôi có một ý niệm đặc biệt nào về Huế. Tuy nhiên, từ đời kiếp nào xa lắc, tôi biết rằng vùng quê hương dân gầy ấy đã chiếm cứ trái tim tôi, như một ảo ảnh, như một giấc mơ không thức tỉnh bao giờ.

Yêu Huế, phần nữa cũng vì tôi đã yêu vô cùng giọng nói mềm mỏng dịu dàng của mẹ tôi theo những câu ru một đời tôi vẫn nhớ:

“Ai về cầu ngói Thanh Toàn
Cho em về với một đoàn cho vui!”

Tôi đồng hóa Huế với bà, đem tất cả những điều chiêm ngưỡng về bà để phủ lên cho Huế. Vì vậy, tình cảm có phần thiên vị khi nghĩ về vùng quê hương mơ màng ấy. Chùa Thiên Mụ, núi Ngự Bình, làng An Cựu hay bến đò sông Hương… đều là những kỷ niệm được cất sâu trong tim tôi từ khi còn bé. Và tôi yêu tất cả những kỷ niệm này như yêu con người đã cấu tạo nên hình hài thân thể tôi, một cách riêng tư ích kỷ!

Ai đó khi nhận xét về Huế, đã nói rằng: “Non bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ da dâm” . Điều này tôi cho là thiếu sót và có phần lệch lạc. Với một khí hậu hai kỳ nắng mưa rõ rệt –mùa hè chói chang, mùa đông lạnh buốt--, một diện tích rộng dưới ba ngàn ki-lô-mét vuông, phía tây được bao bởi dãy Trường Sơn hùng vĩ, phía đông là vùng biển Nam Hải mênh mông, Huế là một cái mốc lịch sử quan trọng trong cuộc Nam tiến của Chúa Nguyễn kể từ đầu cuộc Trịnh-Nguyễn phân tranh; cũng là trung tâm văn hóa và chính trị một thời, kéo dài đến gần ba thế kỷ.

Không thể chối rằng, sống trong một hoàn cảnh địa lý và chính trị đặc biệt của xứ Huế, con người phải trở nên khôn ngoan, mưu lược. Tuy nhiên, làm sao phủ nhận được trong bản chất của người đàn ông Huế còn có sự chân thành, tính hào sảng ẩn khuất đâu đó dưới lớp bề ngoài mưu lược, khôn ngoan? Cũng như cái Đẹp là điều được ưa chuộng hàng đầu, thể hiện từ tinh thần ra đến vật chất trong đời sống người dân Huế; và đối với người đàn bà Huế, cái Đẹp được hình dung qua sự kiểu cách yểu điệu bề ngoài thì ít, mà nổi bật bởi nét sâu sắc kín đáo và lòng chịu đựng hy sinh thì nhiều. Cái Đẹp ấy đã bị nhìn lệch lạc đi, để rồi có phải chữ Dâm được khoác lên cho người đàn bà Huế một cách oan uổng cũng chỉ do từ điều lệch lạc ấy?

Huế thơ mộng, trầm buồn đã đành với chùa Thiên Mụ bên bờ sông Hương do chính tay Chúa Nguyễn Hoàng cho dựng lên từ đầu thế kỷ 17, với giòng An Cựu “nắng đục mưa trong” , với thôn Vỹ Dạ nổi tiếng một thời là nơi vãng lai của nhiều tao nhân mặc khách, mà Huế còn ngạo nghễ bất khuất nữa trong một phạm vi địa lý eo hẹp không có nhiều đất cát phì nhiêu như những vùng trời khác của quê hương.

Nghĩ về Huế là tôi nghĩ ngay đến một cái gì vô bờ nhẹ nhàng nhưng cũng rất mãnh liệt cương quyết. Hình ảnh người đàn bà đứng chờ chồng ra đi biền biệt, mặc cho thông reo, mặc cho tuyết đổ, lâu ngày biến thành bức tượng đá trắng xóa, được diễn tả qua ca khúc Chanson de Solveig của Grieg(1) cũng chưa nói hết được cái đặc tính “vô bờ” này của Huế. Phải là một khúc buồn ở cung mineur bí mật, khó hiểu như trong Symphonie Inachevée(2) của Schubert, hòa điệu nhịp nhàng với bản anh hùng ca Eroica của Beethoven(3) mới phô bày được hết hai cá chất tương xứng đối nghịch ấy. Và tôi yêu tất cả cái vô bờ này của vùng quê hương trầm buồn mà tôi đã chào đời tại đó hơn 30 năm qua.

.. .. ..

Trên toàn giải đất Việt Nam, không nơi nào là không trải qua hơn một lần bị chiến tranh tàn phá. Cuộc biển dâu có thiên vị cho ai bao giờ? Vậy mà sao chỉ với Huế, tôi đã nghe lòng ngậm ngùi thật nhiều trước bao tang thương biến đổi? Có phải vì ở đây, sự việc không chỉ giới hạn trong không gian cụ thể của một thành phố, một tỉnh lỵ, mà còn nói lên sự sụp đổ một nền móng văn hóa lâu đời của cả một triều đại?

Huế đẹp Huế thơ không chỉ là do công trình sáng tạo của riêng Thượng Đế, mà còn có luôn cả sự góp sức của bàn tay Con Người. Những thành trì, cung điện được xây lên nguy nga hùng tráng không thua gì núi Ngự Bình hay dãy Trường Sơn bao vòng phía tây xứ Huế. Nét u trầm nơi các lăng mộ đền đài cũng chứa đầy chất thơ không kém gì sóng nước sông Hương. Ngày hôm nay, những nét đặc thù của Huế đã phôi pha nhiều lắm. Cuộc biển dâu ghi hằn dấu vết ở khắp mọi nơi. Một phần cái Đẹp của Huế là do Con Người tạo dựng, nhưng cũng chính Con Người đã giày xéo lên cái Đẹp ấy không chút nào thương xót. Sự vô tình của chiến tranh chỉ là kết quả sau cùng mà thôi!

.. .. ..

Những ngày trở lại Huế, mối xúc cảm trong hồn tôi dâng tràn lai láng. Vùng quê hương đầu đời đã làm dậy lên biết bao tâm trạng lạ lùng. Ý nghĩ giống như một người bỏ quên lâu rồi một vật gì vô cùng yêu dấu, giờ đây nhìn lại thì điều yêu dấu ấy đã không còn nguyên vẹn như trước. Để rồi, nỗi tiếc thương cứ bốc cao dần trong tâm thức khi nhận định rõ hơn rằng không điều nào khác có thể được yêu nhiều hơn vật dấu yêu đã bị bỏ quên kia.

Đã có bao lần giữa trời đất ấy
Mây gió lặng lờ, bờ cỏ chim kêu
Lăng mộ đền đài, dấu đời nước chảy
Rêu phủ xanh vàng ký ức hắt hiu
Những cây sầu đông, ôi sầu biết mấy!
Một giọt sương rơi giữ một buổi chiều(4)

[]

Paris.

Mẹ tôi vẫn thường phàn nàn rằng sao cuộc đời tôi đơn chiếc quá. Bà muốn tôi lập gia đình, muốn tôi "có một người đàn ông thay mẹ để đỡ đần cho con miếng ăn giấc ngủ" như bà thường bảo. Dưới mắt bà, lúc nào tôi cũng còn là đứa trẻ yếu đuối phải cần có ai khác để tìm nương tựa; và sự cô đơn của tôi đã làm cho bà xót xa phiền não thật nhiều. Tôi thương tất cả những nỗi này trong ý nghĩ bà nên chỉ mỉm cười mỗi khi nghe bà nói đến chuyện ấy. Tuy nhiên, với chính lòng riêng, tôi biết là mình sợ đời sống hôn nhân.

Không phải rằng tôi không thấy sự chia xẻ và nương tựa vào một người chồng là điều cần thiết. Cũng không phải tôi không tìm ra cơ hội để lập gia đình. Nhưng những cuộc hôn nhân tan vỡ trong xã hội Tây Phương xẩy ra như cơm bữa khiến tôi e ngại; và cái hiện tượng ly dị trong cộng đồng người Việt có sĩ số cao chẳng kém gì với dân bản xứ đã ám ảnh tôi.

Tôi có một cặp bạn cũ, ngày xưa phải vượt qua biết bao khó khăn mới kết nên chồng vợ; bây giờ trước một pháp đình ở Paris, cả hai lại trở thành thù địch của nhau. Một cặp bạn cũ khác cùng học chung trong trường Nhạc Sàigòn, nổi tiếng một thời trai tài gái sắc; ngày nay mỗi người đã không ngần ngại giơ ra những móng vuốt trong một vụ án tranh chấp tài sản để chỉ mong dành phần thắng về mình.

Luật pháp tỏ ra rộng rãi trong vấn đề ly dị và lòng dạ con người dễ dàng đổi thay theo nhiều thứ tự do để quên mất cái nghĩa tào khang. Rốt lại, chỉ đám trẻ nhỏ nạn nhân của những cuộc hôn nhân tan rã là đáng thương duy nhất.

Dù sao, nỗi cô đơn trong cuộc sống độc thân vẫn làm con người dễ chịu hơn là trong một đời sống lứa đôi mà cả hai kẻ đồng hành không còn muốn nhìn về tương lai theo cùng một hướng.


Huế, ngày lưu diễn cuối cùng.

Nửa đêm tan hát, chúng tôi một bọn năm người trong tổ Tân Nhạc rủ nhau xuống đò uống rượu thưởng trăng. Ngày mai đoàn sẽ trở lại Sàigòn. Ngày mai tôi cũng giã từ năm năm quá khứ. Cuộc rượu đêm cuối cùng ở Huế đâm thành đặc biệt. Sóng nước sông Hương vỗ vào hai bên mạn thuyền, làm con đò chòng chành dao động. Ngọn gió hiu hiu chao đảo ánh đèn con.

Anh bạn tổ trưởng rót một chung rượu nhỏ, đổ xuống lòng sông, bảo rằng mời thủy thần cùng uống. Rồi anh ngân nga bốn câu thơ:

Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước sông làm rượu, quan hà chuốc say(1)

Đêm thật đẹp. Giòng sông Hương loang loáng ánh trăng vàng, cảnh vật vô cùng nên thơ với những ngọn đèn dầu leo lét tỏa ra từ các con thuyền ngược xuôi qua lại, tựa hồ như những bóng ma chập chờn trên sóng. Tiếng rao nhẹ nhàng của các cô lái đò vang lên, mời mọc khách các thức quà ăn uống nửa khuya.

Ôi! Cái giọng Huế mới dịu dàng làm sao! Tôi mang trong tim cả một giòng Hương giang thương nhớ, nhưng lại không biết nói tiếng Huế. Vì vậy, nghe đâu đó cái âm điệu hao gầy của vùng quê hương mảnh dẽ là tôi lắng tai nghe cho kỳ hết mới thôi.

Trời đêm có gió lạnh heo heo. Ánh đèn đường từ trên thành cầu chiếu xuống, mơ hồ nhòa nhạt. Cuộc rượu đêm trăng mang đầy chất thơ kỳ ảo. Máu Kinh Kha bừng dậy trong người. Một điều thích thú là khi uống rượu vào, mọi sự bỗng trở nên ngả nghiêng khinh khoát. Rượu hâm nóng tâm tư, đem cho mắt nhìn màu hồng, dù thoáng chốc vụng dại. Thứ nước có khả năng nổi lửa đốt những bức thành chắc nịch của khổ đau, mở ra những chân trời ước mơ huyễn mộng.

Người bạn chơi guitare vừa gảy đàn vừa hát. Những âm thanh xoắn ốc làm rung động những sợi tơ trong sâu thẳm tâm hồn:

Tuyết rơi mỏng manh buồn
Ga Lyon đèn vàng
Cầm tay nhau muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng(2)

Không có ga Lyon, không có màu tuyết trắng, cũng không cả ngọn đèn vàng hiu hắt, vậy mà sự chia phôi vẫn hiện hữu đây đó trong không gian. Dưới làn ánh sáng chập chờn ma quái, nhìn người bạn gục đầu trên phím nhạc, tôi bỗng liên tưởng đến bức Au soir de la Vie của Van Gogh(3). Bức tranh vẽ người đàn ông ngồi úp mặt trong đôi tay, trông thật thảm hại, chịu đựng.

Đêm cuối cùng ở Huế, cũng là đêm cuối cùng trong cuộc đời phiêu bạt năm năm, tôi nghe như mình tan mất trong một thứ kỷ niệm đẹp lạ lùng. Cơn hỏa bốc dần trong óc, càng nhiều hơn khi một người bạn đọc lên bài Tống Biệt Hành của Thâm Tâm(4).

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thắm không vàng úa
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

Những câu chuyện được kể cho nghe từ bờ biển dâu nào xa xăm trở về trong trí nhớ. Cái thú đi đò trên sóng nước sông Hương một thời đã là cái thú của giới mặc khách tao nhân. Lòng tôi ngập tràn một cảm giác đăm chiêu rất là huyễn mộng; hình dung ra những-con-người-trăm-năm-cũ qua vóc dáng các bạn tôi.

Gió đêm lạnh, len vào da thịt. Tôi nghe rờn rợn đâu đó, tựa hồ như đang ngồi trong một tiệc rượu ở cõi âm.

Thuyền ai trên sông Hương
Hồn tôi trên sông Hương
Đầy một giòng nắng muộn
Đầy một giòng nhớ thương(5)

Giọng ngâm của người bạn vẫn cất lên sang sảng. Tiếng sóng nước vẫn liên tục vỗ vào mạn thuyền. Trời càng khuya, ánh trăng càng vằng vặc sáng. Không gian thật mỏng manh hao gầy để phải nghĩ đến sự chia cách ngày mai.

Đêm cuối cùng ở Huế, miền quê hương đầu đời một lần chôn nhau cắt rốn, tôi đã muốn mình tan mất luôn trong nỗi êm đềm của tình bạn và của cả đất trời lơ mơ huyễn mộng. Một kỷ niệm góp phần vào đống kỷ niệm của tôi, đáng yêu, bé bỏng. Một ngày nào đó nghỉ ngơi, những cái bé bỏng ấy sẽ được đem ra khỏi kho tàng trí nhớ, và xâu chuỗi để đời sẽ được kết nên, đượm đầy ký ức thời gian.

[]




...CÒN TIẾP...










© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả ngày 22.10.2008.

. Tác phẩm của Trần Thị Bông Giấy chỉ đăng tải trên tranthibonggiay.net và newvietart.com