Dũng bảo:
"Tao có bốn giờ trong tuần. Mày hãy chuẩn bị trám đủ bốn tiếng đó cho tao. Không cần theo đúng thứ tự chương trình, nhưng nếu tao chưa về kịp thì phải soạn bài ít nhất cho hai giờ vào thứ ba tuần tới nữa. Và nên nhớ là hai lớp đệ nhi lận; vị chi là tám tiếng tuần này và bốn tiếng phòng hờ cho tuần tới".
Nó đã ra đến cửa còn ngần ngừ:
"Hay là để tao kiếm tên khác dạy thế, còn mày thì lên với tao, làm phụ rễ?"
Đạo phát hoảng, thối thác:
"Đã có thằng Chúc, tại sao tao phải lên? Như vậy mất lòng nó lắm, tao chịu thôi!"
Đạo rất cần tiền sống, chàng nhận làm bất cứ việc gì và bất cứ lúc nào; vì vậy sự học bị chểnh mảng nhưng chàng chẳng thể làm gì khác. Dũng là một người bạn cùng ăn cơm tháng, nhờ đó họ quen nhau. Dũng đã có cử nhân và đã dạy ở nhiều tư thục khác nhau. Nhờ Dũng, thỉnh thoảng Đạo kiếm được một ít giờ dạy bất hợp pháp như vậy để có thể sống, sống lây lất và nhìn tham vọng của mình, tương lai của mình thu nhỏ lại, rơi rụng dần. Đại học văn khoa Sài gòn, nhất là những năm dưới, hơi giống khúc ruột già của chúng ta (xin lỗi quý vị cựu sinh viên vì lối ví von mất dạy này; riêng ông Đạo thì tôi ít ngại mất lòng vì ông ta và tôi là chỗ quen biết). Bậc trung học đệ nhị cấp chỉ có bốn ban: ban khoa học, ban toán, ban văn chương và ban..cổ điển. Theo nguyên tắc thì chỉ những học sinh đỗ tú tài ban C mới được thu nhận vào trường, thế nhưng các cậu tú thuộc các ban khác khi quýnh quáng không biết chọn lựa hay không còn cách chọn lựa, khi bị tẩy chay vì không đủ khả năng vào các trường chuyên môn, hoặc sau khi đã phí phạm đôi ba năm thử lửa nơi này nơi nọ mà vẫn không tìm được nghiệp dĩ của mình, các cụ ấy đều tấp vào khám lớn ráo. Đạo, trái lại, văn chương là sở trường của chàng. Nói vậy chứ cũng không chắc; chẳng qua Đạo nghe mọi người bảo rằng chàng
có khiếu,
rằng chàng viết hay, rằng chàng đọc nhiều, rằng chàng có một hiểu biết đáng kể trong lĩnh vực đó; nhưng ngẩm kỹ thì những kẻ nói ra đều là bạn bè quen biết của chàng nên nhận xét của họ chưa chắc đã đủ khách quan. Dù sao, có một điều xác thực: Đạo yêu văn chương và bản chất rất mơ mộng đến độ nhiều khi chàng chịu đánh đổi một sự thực (không đến nổi tệ) để giữ chút mong manh ảo giác. Một thí dụ cụ thể: sau ngày dạy thay Dũng ở trường trung học nọ, chàng cảm thấy có vài con cá cắn câu nên một buổi rảnh rỗi, chàng thả rểu trước cổng trường giữa hai giờ học khi bọn học trò ùa ra sân. Một cô gái xăm xăm đến, chàng nhận ra là Kim Xuyên, cô gái ở lớp đệ nhị A. Kim Xuyên:
"Thầy, thầy đi đâu đây? Chắc là chờ cô nào phải không? Chờ ai, nói đi thầy."
(Phân tích: một, thay vì chào một cách lễ độ
thưa thầy
hoặc
chào thầy,
Xuyên chỉ gọi thầy trống trơn, vô lễ thì có vô lễ nhưng thân mật thì phải nhận là có chiều thân mật hơn một
chào thầy
cung kính. Hai, là thái độ chào: không trang nghiêm, Kim Xuyên cười nụ cười tươi hơn bao giờ hết; cặp sách nâng cao che ngực, đầu nghiêng về một bên, một món tóc rời khỏi vai, đong đưa để Xuyên nắm lấy cuốn vào ngón tay mân mê. Ba, lối hỏi có tính cách thẩm vấn, Xuyên tự cho phép Xuyên giữ vai trò nào trong cuộc sống Đạo? Bốn, Đạo rất chậm chạp trước mọi phản ứng và bởi không biết trả lời sao nên chàng càng ngần ngừ lâu hơn). Đạo càng ngần ngừ không trả lời được thì Xuyên càng nghiêng đầu đến gần, chàng nói liều:
"Chờ kẻ đứng trước mặt tôi"
vì nhận ra hai má Kim Xuyên hồng và mịn như một trái cây vừa ửng chín. Nàng hứ một tiếng dài, dài như đôi mắt nguýt có đuôi (hỗn!) nhưng Đạo rất lấy làm thú vị. Tiếng chuông rung báo hiệu giờ học sau vang ra tận cổng, Kim Xuyên trông trước nhìn sau rồi kéo tay Đạo tránh vội về phía hàng cây khuất cửa ra vào. Nàng ra lệnh:
"Em khát nước, thầy cho em giải khát không?"
Khi ta cô đơn, đi ngoài phố, nhìn nhửng đôi trai gái âu yếm bên nhau hay nhìn những thiếu nữ xinh đẹp ta có cảm tưởng rằng tất cả những thứ đó đều ở ngoài tầm tay; nhưng khi ta có bên cạnh một người như Kim Xuyên chẳng hạn, ta bổng lên mặt làm bộ ngon, tự bảo: "Nhằm nhò gì đâu, mọi sự dễ hú!" Đó là ý nghĩ của Đạo lúc này. Chàng không biết rằng đấy là
hậu quả
của sáu giờ dạy thay Dũng. Chương trình việt văn của các lớp trung học ngẫm đi ngẫm lại thì chỉ năm đệ nhị là hấp dẫn thôi; năm đệ tứ quá sơ sài, năm đệ tam với những Cung oán ngâm khúc rầu thúi ruột; trái lại năm đệ nhị thì Kiều, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương đã thấy phấn khởi, lại còn được nói đến thời kỳ đầu của chữ quốc ngữ và nhất là giai đoạn Tự Lực văn đoàn, thơ mới.. hồ hỡi biết bao! Đạo không soạn bài, Dũng đã chẳng bảo chàng muốn trám thế nào thì trám miễn đủ sáu giờ để nó được yên hàn hưởng trăng mật sao? Hôm đầu chàng còn thận trọng gắng tiếp nối bài giảng bỏ giở của Dũng, bài phú Hàn nho phong vị của Nguyễn Công Trứ, nhưng hôm sau chàng làm bước nhảy vọt về sau, nói đến văn thơ cận đại. Trong khi huyên thiên với cái nhìn có tính cách tổng thể, Đạo nhắc đến Xuân Diệu; bọn học trò thích ý khuyến khích: "Thầy giảng về Xuân Diệu đi thầy". Chàng làm như bất đắc dĩ phải chiều ý bọn chúng nhưng kỳ thật là chàng cũng đang hứng muốn chia xẻ với đám trẻ những cảm xúc mỗi lần đọc thơ của con người tài hoa ấy. Chàng bèn mang bài Thu ra làm thí dụ. Đạo phân tích tỷ mỷ say sưa:
"Đối với chúng ta, khi nói về nắng thì ta bảo nắng nhạt, nắng tươi tưởng đã là văn chương lắm rồi; nhưng với Xuân Diệu ta có nắng to, nắng nhỏ. Nắng to là nắng rực rỡ, nắng hồng hào, nắng khoẻ mạnh, nắng sắc nét, nắng áp đặt, nắng trực diện; còn nắng nhỏ? Nắng nhỏ tất nhiên phải bâng khuâng vì chỉ e dè, len lén, chạm nhẹ ởm ờ; mà nắng đã bâng khuâng khiến nên chiều lỡ thì! Oái oăm thay những phẩm từ mang dấu Xuân Diệu. Cái bất ngờ duyên dáng trong cách sử dụng ngôn ngữ là vậy. Một phẩm từ đặt đúng nơi nhưng vượt ra ngoài ước lệ đã giúp ta nhìn sự vật với đôi mắt khác, với cảm xúc khác. Vì làm mới ngôn ngữ, Xuân Diệu làm mới ý tưởng: ông "tình cảm hoá" thiên nhiên, biến buổi chiều thành cô gái, tia nắng thành sinh vật. Nhà ảo thuật ngôn ngữ ấy hơn người ngay khi sử dụng cái cung cách tầm thường nhất mà tay ngang nào cũng sử dụng được, thí dụ như sự ngập ngừng lắp bắp của một cảm xúc không thành lời. Trong bài Tình kỷ nữ, cô gái nhìn người khách ra đi sau lúc truy hoan: y gở tay nhưng nàng bịn rịn; thái độ y lạnh lùng dứt khoát; nàng yếu mềm kéo níu. Nàng run lạnh vì đêm tàn trăng nhạt nhưng cũng bởi một mất mát sắp sửa. Nàng bàng hoàng với tiếng gà gáy sớm, run rẫy vì trăng ngà buốt lạnh, nhìn giòng sông trôi như nhìn khách ra đi không trở lại: trước viễn kiến Héraclite ấy nàng kêu lên thảng thốt: Du khách đi... du khách đã đi rồi."
Và Đạo bịa chuyện tưởng tượng thay kết luận để ..hù bọn học trò:
"Một lần xuống phi trường Đài Bắc, vì lạc hành lý nên tôi phải vào văn phòng khiếu nại với người chịu trách nhiệm về chuyển vận. Có bức tranh thủy mặc treo trên tường sau lưng bàn giấy của ông ta. Ngày nay, trong hội hoạ (và ngay cả nhiếp ảnh) người nghệ sĩ thường đánh lận một chút xíu luật viễn cận, mang cái gần thêm sát lại và đẩy cái xa đi xa hơn. Cận cảnh là một cành cây khẳng khiu cho ta thấy một chú chim nhỏ thu mình trước gió cạnh những giọt sương đọng rất hợp với lời thơ: "Hư vô bóng khói trên đầu hạnh/Cành biếc run run chân ý nhi". Màu giấy bản vàng nhạt với những vết mực mờ ảo theo chiều thẳng đứng khiến ta có cảm giác nhìn thấy những giọt nước đọng và rơi từ cành cây khô dài ngoằn ấy chiếm hết chiều ngang khung tranh. Viễn cảnh là núi là nhà là đất là những hàng cây khác nhạt nhoà qua nét bút lông với rất nhiều nước và rất ít mầu. Khối lượng nước ấy pha với chắc chỉ một giọt mực tàu đọng nơi đầu bút, tình cờ dừng lại một góc nào đó và loang xa ra cho ta cái cảm giác bát ngát của không gian. Tôi mê mang ngắm và định bụng sẽ cố tìm một bức tranh như vậy, nhưng một hôm, thình lình sực nhớ bài Thu của Xuân Diệu, tôi ngâm đi ngâm lại một mình rồi tự bảo sẽ không bao giờ tìm được bức tranh nào đẹp hơn bài thơ kia".
Chàng đã dứt lời nhưng không khí trong lớp yên lặng đến vài phút sau mới nghe có tiếng thở dài và lớp học ồn ào trở lại. Khi thầy trò bước ra khỏi lớp có đứa đặt câu hỏi: "Chừng nào thầy Dũng trở về?" và một đứa khác phụ họa để làm rõ nghĩa: "Thôi thầy dạy tụi em luôn đi!"
Ngồi với Kim Xuyên trong quán nước, chàng kể cho nàng nghe rằng ở lớp đệ nhị B có cô gái viết vào mảnh giấy rồi xoay ngược về phía chàng để chàng có thể đọc dễ dàng. Mảnh giấy chép hai câu đầu của bài thơ Ronsard mà nàng đã chửa chữ
mignonne
ra
mignon:
"Mignon, allons voir si la rose/Qui, ce matin, avait déclose...
" Kim Xuyên nghiến ngầm:
"Em cấm anh từ nay không được léng phéng với nó nữa".
Sự việc diễn tiến nhanh như gió. Mới đó mà Kim Xuyên đã "em anh" với chàng tỉnh khô, lại còn tỏ ra ghen tuông như mụ vợ chính thức. Đưa Xuyên trở về trường để kịp giờ học chót, nàng còn gắng bàn định: "Anh chịu đến thăm em ở đây hàng ngày không?" Chàng muốn thối thác nhưng Xuyên đã giải thích rành rọt:
"Em muốn mang anh về nhà nhưng hãy cho em một thời gian chuẩn bị tư tưởng ba má em đã".
Con gái thực tế hơn con trai nhiều mặc dù đứa con trai già dặn hơn về tuổi tác. Chàng không ngờ mới mười bảy, mười tám tuổi và nhất là trong giây phút bồng bột mà Kim Xuyên có thể nghĩ xa, sắp đặt công việc có đầu có đuôi như vậy. Dù chính chàng chịu một phần trách nhiệm trong cuộc gặp gỡ sấm chớp này, Đạo vẫn thấy có một điều gì không ổn. Đó là quan niệm yêu đương, phải yêu đã rồi mới tìm cách chinh phục chứ không làm ngược lại cho dù rằng nếu chàng tiếp tục gặp gỡ chuyện trò tìm hiểu nàng, có thể Đạo sẽ yêu nàng vì nàng dễ thương duyên dáng biết mấy!
Mặt đối diện của ngôi trường có một quán nước và mấy chiếc bàn bi-da. Chàng chọn chỗ ngồi khuất trong góc, ly bia trước mặt và điếu thuốc trên tay. Nhiều ngày như vậy, yên lặng, thẫn thờ nhìn sang bên kia, ngóng tiếng chuông rung. Bóng những chiếc áo dài qua lại ra vào, chiếc nào là chiếc áo dài Kim Xuyên? Giờ ra về, bao giờ Kim Xuyên cũng ở lại sau rốt, đi một mình, chậm rãi như vẫn hy vọng bắt gặp chàng đâu đó. Đạo cũng vậy, có khi chàng tưởng như không chịu đựng được nữa, chàng chỉ muốn đứng lên, chạy theo nàng, ôm nàng trong tay bởi mỗi ngày cưởng lại ý muốn mình là mỗi ngày chàng cảm thấy gần nàng hơn, nghĩ dến nàng nhiều hơn. Có phải như vậy là tình yêu chăng? Có phải như vậy là "lộng giả thành chân" chăng? Ngụm bia càng lúc càng đắng, khói thuốc càng lúc càng làm khản cổ nhưng thân thể chàng nặng dần, buộc chặt chàng xuống mặt ghế; rồi một lúc sau, vị bia thành ngọt, khói thuốc nhấc chàng bay bổng, chàng khám phá ra một thú vị của đắng cay. Phải chờ anh bồi bàn đến khẩn khoản nài nỉ Đạo mới chịu đứng lên ra về...Những thanh niên thuộc thế hệ của Đạo có một quan niệm về yêu đương khá đứng đắn và xây dựng. Họ tìm kiếm, tán tỉnh các cô nhưng chịu đựng thử thách nhiều hơn là vượt hàng rào luân thường. Quan điểm cực đoan tây phương không phải là không đến với họ; thập niên 60 đánh dấu những biến động xã hội to lớn kéo theo những cởi mở táo bạo trong phạm vi tình dục và quan hệ gái trai mà người ta sẽ tìm thấy qua phong trào hippy và cuộc đại hội ca nhạc trẻ Woodstock. Thế nhưng ảnh hưởng tây phương chỉ được tìm thấy nơi người trẻ Việt-Nam trong phạm vi trang phục: chiếc quần chân voi, chiếc áo sơ-mi lòe loẹt bó chặt thân mình, các đầu tóc dài không chải gở của các cậu, chiếc váy ngắn trên đầu gối (rất cao) của các cô. Đó là dấu ấn của thế hệ trẻ nhưng không chắc là bộ vó bên ngoài ấy có dính líu gì đến cung cách sống, ít ra là riêng trường hợp Đạo và những bạn bè trong cùng giai tầng xã hội của chàng. Trước khi Kim Xuyên đến, Đạo có một người con gái khác. Mối liên hệ giữa họ kéo dài khá lâu mặc dù chàng không say mê lắm. Họ tìm đến nhau qua đụng chạm thân xác hơn là trao đổi tình cảm. Từ chỗ đến thăm nhau, ngồi trên ghế nói chuyện, họ tiến nhanh đến chỗ tìm góc tối để đứng sát vào nhau, hôn và vuốt ve nhau. Chàng vòng tay sau lưng nàng, luồng dưới lần áo, hướng về phía trên để nhận ra không bị vướng dây nịt vú, rồi quay về phía dưới; nàng chống trả một cách thụ động nghĩa là ngồi bệt xuống mỗi khi chàng tỏ ra liều lĩnh hơn. Chàng cho phép sự thân mật đạt đến một mức độ tự do đôi lứa nên chàng đã đến với nàng bất cứ giờ giấc nào. Một lần chàng đến khi nàng sửa soạn đi làm. Nàng vào buồng thay áo, chàng ở nhà ngoài quanh quẩn tới lui mò mẩm vật này vật nọ; bổng chốc chàng nghe nàng gọi nên bước hẳn vào buồng nhá nhem tối: nàng đứng đấy trước tủ quần áo, tay cầm hai ba tấm ảnh, mình trần, chỉ vận có chiếc quần, mắt nhìn vào ảnh ý như khoe với chàng mấy bức mới chớp. Vì nàng tỏ cho chàng rằng mấy tấm ảnh là mục tiêu chính chứ không phải thân mình trần của nàng nên Đạo...đành tuân theo -chàng là kẻ có kỷ luật, mặc dù chàng cũng biết lý luận (
một
, nàng chuẩn bị đi làm, vậy thì nàng..đi làm;
hai,
sự việc nàng chỉ có quần là tại nàng chưa kịp mặc áo và chợt nhớ rằng phải khoe chàng tấm ảnh; rõ ràng là nàng chuẩn bị đi làm chứ không phải chuẩn bị làm tình;
ba
, người ta có thể bỏ phắt buổi làm việc để làm tình ư?...); mãi rất lâu sau, Đạo mới biết cãi lại mình (
một,
nàng không mặc áo là nàng muốn kêu gọi chàng;
hai,
việc khoe ảnh chỉ là một cái cớ để chàng bước vào phòng;
ba,
người ta rất có thể bỏ một buổi làm để yêu đương lắm chứ!). Tóm lại chàng đã để lỡ cơ hội vì không phải lúc nào người con gái cũng sẵn sàng, lúc chàng tiến thì nàng lùi mà lúc chàng lùi thì nàng xấn tới. Trò chơi giằng giai ấy với những nhủng nhẳn nhùng nhằn giữa hai kẻ đang độ thanh xuân nhiều khi làm nàng nản lòng. Có hôm nàng ghé tai chàng:
"Hoặc anh là ông thầy tu, hoặc anh có...điều gì không ổn"
rồi nàng cười ngặt nghẻo:
"không, anh không là thày tu
(việc đó em biết),
anh cũng chẳng có điều gì bất ổn
(việc đó em cũng biết),
vậy thì tại sao..."
Hai gò má nàng càng lúc càng hồng, cái nhìn càng lúc càng long lanh nhưng bổng nhiên mầu hồng biến đi, thái độ cười cợt tắt hẳn, nàng trở nên buồn rượi buồn não và phán một câu khô khan:
"Thôi anh về đi, khuya lắm rồi!".
Đạo chợt hiểu đó là lời chào giã biệt, kể từ ngày ấy chàng thôi không tìm đến nàng nữa. Lối kết thúc xuôi chèo mát mái đã cho phép chàng tự bằng lòng mình vì đã không gây ra điều gì đáng tiếc cho cả hai. Ngoại trừ trường hợp các cô cố ý "bẫy" các chàng 3G (cách nói lóng của các cô: 3G có nghĩa con nhà giàu,
học giỏi
, đẹp giai)
, nếu có những đáng tiếc xảy ra giữa các đôi tình nhân, phần nhiều là do họ rơi nhằm vào những hoàn cảnh quá "thuận lợi". Đạo không con nhà giàu, không học giỏi, không đẹp trai nên nàng chẳng tìm cách "bẫy" chàng, chẳng qua là đôi khi chúng ta không cưởng nổi những đòi hỏi thân xác. Nàng đã không tự bảo vệ được nàng thì chính Đạo phải che chở nàng bởi qua một thời gian đến với nhau chàng thấy chàng không yêu nàng theo như chàng quan niệm; dù vậy dứt nhau cũng không phải là dễ mà tiếp tục lối mèo vờn chuột thì cũng có ngày lãnh đủ. Chúng ta sinh sau Nguyễn Du đến hơn hai trăm năm nhưng tư tưởng chúng ta không rộng rãi bằng thi sĩ:
Chữ trinh còn một chút này.
Các cô khi đã liều thì liều hết cỡ, vậy mà sau đó phần nhiều lại hay khóc kiểu ăn vạ ra điều là tại anh; cũng có những nàng anh hùng hơn chấp nhận việc có ăn có chịu nhưng cái xen gửi tối hậu thư thì hầu như nhất thiết phải có. Đại loại là khi đã ráo mồ hôi mồ hám rồi, nàng vuốt lại tóc mà rằng:
"Anh tính sao đây? Phải về thưa thiệt với ba má rồi lo gấp việc cưới xin cho xong".
Trường hợp chàng toan bài quất ngựa đuổi gió cũng có thể xảy ra nhưng hiếm, và sự đó đòi hỏi chàng một bản lĩnh hơn đời: liều lĩnh và lì lợm. Trong trường hợp tốt đẹp nhất, chàng chấp nhận việc cưới xin như một cách tái xác nhận tình yêu của chàng đối với nàng; nếu không thì như thái độ hiên ngang nhận trách nhiệm kể cũng đáng khuyến khích nhưng hay hơn cả là suy nghĩ kỹ nếu quả yêu thương nhau thì sống đời mà hể không khá thì thôi, tại sao ràng buộc để đau đớn suốt một cuộc sống? Chúng ta, lớp thanh niên nghĩ sao thì nghĩ, nhưng xã hội vẫn ngàn năm xã hội Á đông nên các cô vẫn tiếp tục liều và tiếp tục thút thít bởi mấy chấm đỏ trên chăn.
Đối với Kim Xuyên, Đạo chưa kịp có một phản ứng thích hợp thì một biến cố lớn đã đến với chàng. Cuộc đảo chính 1/11/1963 đã đánh thức một số người: nhờ cuộc đảo chính này mà người miền Nam ý thức được vai trò công dân của họ trong một chính thể dân chủ, nhất là giới sinh viên học sinh. Điều đó có mặt tốt mà cũng có mặt xấu; mặt tốt là thái độ dấn thân của đa số các bạn trẻ vì họ nhận ra rằng những phản ứng của họ có ảnh hưởng lớn trong đường lối xử sự của giai cấp cầm quyền, họ bắt đầu có niềm tin vào chế độ dân chủ tuy chỉ là một chế độ dân chủ quá trẻ trung và sơ đẳng, phải được cải cách rất nhiều mới có thể xứng đáng mang danh hiệu; mặt xấu là chưa kịp có thái độ dựng xây thì đã có kẻ đánh được mùi quyền lợi riêng tư và tìm cách thừa nước đục thả câu. Dù vậy hào khí của tuổi trẻ bốc cao, các phân khoa đại học đặc biệt là văn và luật khoa luôn đóng vai đầu tàu trong các cuộc biểu tình tỏ thái độ ủng hộ việc này bài bác việc nọ. Cuộc biểu tình hôm ấy nhằm phản kháng chính phủ Nguyễn Cao Kỳ và đồng thời ủng hộ các phật tử ở Huế và Quảng nam. Nhóm sinh viên văn khoa (trong ấy có Đạo và Hà Thế) lặng lẽ cuốn cờ và biểu ngữ đi dọc đường Gia Long hướng về phía Duy Tân để đến điểm hẹn với đoàn sinh viên trường luật theo kế hoạch của ban điều hợp liên trường. Sự phối trí lúc ban đầu xem ra khả quan; hai bên gặp nhau đúng hẹn, không có sự can thiệp của lực lượng an ninh, mọi người bắt đầu quây quần chung quanh khán đài bỏ túi, trưởng ban tổ chức vừa lên tiếng nói đôi lời gìải thích lý do họp mặt thì bổng từ góc đường nhỏ một toán thanh niên ùa ra hô hoán phản đối và tiếp liền sau hai chiếc xe bít bùng của cảnh sát đô thành ập lại. Đám người ở vòng ngoài chạy tán loạn tránh gậy gộc của cảnh sát nhưng số ở bên trong thì không kịp rút lui đành chịu lùa lên xe cây về tổng nha. Suốt ngày hôm ấy những kẻ bị bắt lần lượt bị gọi lên hỏi cung, không ai rõ là người ta sẽ đặt những câu hỏi nào và nên đối đáp sao cho khéo để đừng sinh thêm chuyện cho mình và cho bạn bè, bởi kẻ nào sau khi được gọi lên sẽ không trở lại nữa. Ngoài sân thân nhân, bố mẹ, bồ bịch dàn hàng đứng chờ. Hà Thế được gọi trước Đạo, hắn bước ra với một cảnh sát viên đi kèm; biết sẽ không gặp lại hắn nữa, Đạo chìa cho hắn gói thuốc nhưng hắn từ chối -Đạo quên rằng đó là một kẻ sống rất mực thước, hắn không hút thuốc không uống bia không nhảy nhót không ca hát, hắn có mẫu mực kích thước của một chính trị gia khắc khổ trong tương lai. Gần sáu giờ chiều người ta mới gọi Đạo lên. Chàng không ngờ kẻ chờ đợi chàng là một thằng bạn học cũ giờ trở thành công chức, chàng không nhớ nó tên gì nhưng họ "mày tao" với nhau. Sau khi hỏi qua loa vài điều liên hệ về cuộc biểu tình, người bạn ra dấu cho một nhân viên làm thủ tục thả Đạo về; anh này tỏ ra rất dễ chịu với chàng có lẽ vì nghe chàng mày tao với xếp anh ta, nhưng đến lúc kiểm soát giấy tờ tùy thân thì anh ta phát giác ra rằng Đạo không chứng minh được tình trạng quân dịch của mình. Anh ta đành phải trình xếp để hỏi ý. Người bạn:
"Mày không được hoãn dịch ư?"
Chàng lúng túng phản đối nhưng nhận ra là quả thật chàng không ở trong một tình trạng hợp lệ. (Bạn là một thanh niên trong hạng tuổi phải đi lính thì việc quan trọng là bạn phải đi trình diện ở trung tâm tuyển mộ nhập ngũ; khi bạn đỗ tú tài, bạn cũng phải đến khai tại tòa hành chánh nơi bạn cư ngụ; rồi bạn chờ người ta gửi giấy gọi đi sĩ quan trừ bị; nếu bạn tình nguyện bạn sẽ vào sĩ quan hiện dịch, nhưng nói mà nghe cho vui chứ trong thời kỳ sôi động thì trừ bị hay hiện dịch bạn cũng đừng hòng ra khỏi đời lính. Lúc đầu, khoảng thập niên năm mươi, người thanh niên làm nhiệm vụ quân dịch 18 tháng rồi về. Có thật đấy, về nhà hẵn hòi, trút súng khỏi vai sau mười tám tháng tập bò lết tập bắn súng tập canh gát, bởi vì địch chưa thấy ló mặt, ít ra là ở thành thị; và có lẽ hàng sĩ quan chỉ gồm những lính nghề -các sĩ quan hiện dịch thôi. Các thanh niên đang theo đuổi học vấn được triển hạn nhập ngũ: chiến trường chưa cần anh. Còn nhiều trường hợp khác cũng được triển hạn, chẳng hạn con một trong gia đình có cha mẹ già yếu, gia đình đã có nhiều anh em trong quân ngũ... Hàng năm, thanh niên ở trong các trường hợp nêu trên làm thủ tục xin hoãn dịch, Đạo cũng trong trường hợp đó. Làm đi làm lại nhiều lần rồi có một lúc chàng quên không nộp đơn, nhưng lúc đó là lúc chàng có những lý do để không muốn đi lính nữa; chàng cho rằng hoạt động chàng đang theo đuổi còn quan trọng hơn. Đó là thời kỳ sau cuộc đảo chính 1/11/1963, mọi người đều hăng máu làm chính trị nhất là tại các trường đại học. Có một căn nhà được xem như căn cứ của nhóm sinh viên trong đó có Đạo. Họ tụ họp ở khu Bàn cờ gần chùa Kỳ Viên. Chủ nhân Hà Thế sửa soạn vào quốc gia hành chánh và sửa soạn làm những việc khác nữa. Lúc ấy cũng là lúc Đạo siêng năng tham gia các buổi đàm trường do một nhà trí thức cách mạng tổ chức.) Ngồi đối diện anh chàng thư ký của tổng nha cảnh sát, ấm ớ không biết trả lời sao về tình trạng lính tráng của mình, chàng đâm cảm khái tự hỏi tại sao không là một trung niên bốn mươi tuổi hay một trẻ sơ sinh, tại sao không là một công dân Nhật Bản hay Đan Mạch hoặc ..ngon hơn nữa, công dân nước Thụy Sĩ trung lập không hề biết chiến tranh là gì; rốt cuộc, chàng vẫn cứ là thằng thanh niên Việt-Nam, ở một nước Việt-Nam khói lửa tơi bời và không được phép chạy ù ra khỏi nha cảnh sát đô thành mặc dù chẳng ai canh gát còng tay còng chân chàng. Dù sao chàng vẫn còn chút khí khái của một công dân có ý thức, chàng bèn đứng lên tìm thằng bạn, thằng nọ hiểu ý:
"Tao bảo tụi nó lập thủ tục thả mày, còn về chuyện lính tráng thì chúng tao sẽ chuyển hồ sơ của mày qua sở động viên, thế thôi."
Thế thôi! Chỉ hơn một tuần sau ngày bị giữ ở tổng nha cảnh sát vì tội biểu tình bất hợp pháp Đạo nhận được giấy gọi nhập ngũ. Về Kim Xuyên, lạ thay, Đạo từ chối việc gặp lại nàng, rồi say mê theo các hoạt động chính trị, chàng quên hẳn nàng, thế mà khi cầm giấy gọi nhập ngũ chàng bổng nhớ nàng tha thiết. Chàng trở lại trường tìm nàng một lần, rủi là Xuyên lại vắng mặt hôm ấy, chàng chờ suốt cả buổi mệt mỏi nên đâm chán; cuối cùng Đạo quyết định viết cho nàng, tưởng tượng những ngày sắp tới ở quân trường buồn thiu, chàng bôi đặc hàng chục trang giấy kể đủ đau thương sầu thảm nhưng không hề bày tỏ rõ rệt tình cảm mình. Chàng gấp thư bỏ bao thủ sẵn trong túi định sẽ nhờ một học sinh cùng lớp Kim Xuyên trao lại cho nàng, nhưng khi đứa học sinh nọ đến, chàng đổi ý, xé tấm giấy nhỏ nguệch ngoạc mấy giòng ngắn ngủi:
Kim Xuyên, Anh vừa nhận lệnh gọi nhập ngũ; sẽ đi ngay trong tuần tới. Ở nhà, gắng học cho ngoan nghe. Mến nhiều, "Thầy" Đạo.