TRẮNG ĐÊM ĐỂ GẶP NỖI BUỒN



Cụ Phiệt đã 80, là người từ tâm, đặc biệt rất thương súc vật. Con Mướp nhà cụ đã tháng nay sinh chứng ăn vụng và bắt gà con, bị cả nhà (dĩ nhiên là trừ cụ) đánh đập bán sống bán chết nhưng vẫn không chừa. Cụ không đành nhìn thảm cảnh ấy, nên quyết định đêm nay mang con mèo đi thả.

Cơm chiều xong, cho con Mướp vào lồng sắt, cụ thầm nghĩ: “Con vật cũng như con người, tật xấu bám vào chứ không ai muốn”. Lòng cụ vui vui vì đang làm một việc có ý nghĩa: giải thoát con Mướp khỏi sự đánh đập tàn nhẫn của con cháu cụ.

Đêm trăng 16 mát mẻ, tay xách lồng, cụ băng qua cánh đồng lúa hạt, tiến đến hướng chợ An Mỹ. Dọc đường phải ngồi nghỉ nhiều lần để lấy sức và những lúc ngồi nghỉ như thế cụ lại vấn thuốc, lại đập tay vỗ vào lồng nói lớn: “Mày sắp hết bị đòn rồi”. Nhưng khi đã đứng ở giữa chợ thì cụ lại ngần ngại không dám thả con Mướp ra, bởi cụ nghĩ rằng nơi ấy đông người, con Mướp có nguy cơ bị đánh đập nhiều hơn và như thế chắc là nó sẽ chết mất. Cụ không thể nào mang con Mướp bỏ chợ được.

Thế là cụ băng qua chợ, tiếp tục đi theo con đường mương dẫn thủy đến xóm Đại. Sức cụ đã mệt dần và chiếc lồng càng nặng thêm. Dọc đường cụ phải ngồi nghỉ nhiều hơn. Nhưng khi đứng ở xóm Đại thì cụ lại ngần ngại, vì người lạ nếu bắt gặp con Mướp hoang ăn vụng và bắt gà con, thì họ sẽ giết chết không nương tay. Miền gần rừng núi họ dữ tợn lắm chứ không vừa.

Thế là cụ lại băng qua xóm Đại để tiến đến bìa rừng. Lúc này cụ Phiệt đã quá mệt và đêm cũng quá khuya.. Nhìn cánh rừng sững sững lớn rộng dưới ánh trăng. Một quang cảnh im vắng đến rợn người thì cụ lại ngần ngại, bởi lẽ nào nơi này lại là chỗ con Mướp sống được ư? Con người cũng sống chưa nổi huống chi con Mướp; nhất định là nó sẽ chết thôi.

Thế là cụ lại quay ngược bìa rừng để sang hướng Đông, tiến thẳng đến chùa Phổ Đại. Đường đến chùa khá xa, chân cụ đã rũ rượi, cụ ráng hết sức lê bước và chiếc lồng sắt dường như lại nặng đến ngàn cân. Cứ khoảng 100 thước, cụ phải ngồi xuống vệ đường để thở.

Khi đứng ở cổng tam quan chùa, cụ nằm xoài người xuống bậc tam cấp để nghỉ thở. Khi đã khỏe người lại, cụ ngồi dậy mở chiếc lồng sắt thả con Mướp.
Dưới ánh trăng bạc, cụ thấy con Mướp phóng vút vào trong chùa Phổ Đại. Cụ sung sướng lẩm bẩm: “Mày sống nơi này hợp lắm. Cuộc đời mày sẽ sung sướng. Xin chào vĩnh biệt”. Cụ vứt chiếc lồng sắt vào bụi rậm và quay gót về nhà. Cụ đã đi mấy cây số và giờ này cụ đi bằng ấy cây số nữa để trở về. Không còn chiếc lồng, cụ cố gắng đi nhanh nhưng sức khỏe như cạn kiệt, cụ nghỉ suốt dọc đường, mồ hôi đầm đìa ướt trán và lưng. Nhưng rồi cụ cũng về được tới nhà lúc mờ sáng.
Cụ thất thểu mệt nhoài lê bước vào cổng thì gặp con trai cụ vác cày ra đồng để đến cày vùng đất thổ Hóc Mít trồng mía. Và, khi vượt xa cụ vài bước, con cụ ngoái cổ lại nói lớn: “Bố ở nhà quăng con Mướp ra ngoài mương hộ con, con vừa đập chết vì bắt gặp nó đang ăn gà con”.

Nơi góc sân, cụ nhìn thấy xác con Mướp nằm sóng soài, máu mồm chảy đông lại một vạt trên nền xi măng.
Cụ đứng sững trước xác con Mướp mà cụ đã từng xách nó suốt đêm qua đi tìm đường giải thoát với một nghị lực và một niềm vui khó tả. Tất cả đều sụp đổ để nhường chỗ cho một nỗi buồn sâu thẳm không tên!...










© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả ngày 07.10.2008.
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.