GIỜI CAO ĐẤT DÀY



CHƯƠNG II



Thuần tỉnh dậy thì trời đã sáng, biển mùa thu vương lạnh sương đêm, tiếng chim chích choè lanh lảnh hót phía đầu đê, ngoài rừng sú vẹt tiếng bìm bịp báo hiệu triều đã vào bờ, rừng phi lao vẫn rì rào bài ru nhè nhẹ. Thuần thấy khoan khoái quá, lần đầu tiên sau mười lăm năm xa cách Thuần được hưởng cái không khí ban mai của làng quê biển cạn, làn gió mơn man mang hơi muối mặn mòi; hàng tre ôm nhau vặn mình kẽo kẹt như người đưa võng, tăm tắp ngoài khơi xa, nước triều đã dồn lên những con sóng cồn ăm ắp đẩy vào bờ. Mặt trời đỏ rựng chói loà từ lòng biển nhô lên trông như một quả cầu lửa, khiến rừng tre le lói một màu hồng.
Thuần cứ đứng dưới bãi cát tận hưởng không gian ban mai tuyệt diệu của biển, cho đến khi nắng rát mới lững thững quay vào rừng tre. Cơn đói cồn cào đưa Thuần về thực tại. Thôi chết, Thuần phải ăn, không chỉ một bữa lúc này mà còn bao nhiêu ngày nữa, vậy mà số lương thực bệnh viện và anh chị em chuẩn bị cho chỉ có thể đủ ăn được vài tuần, sau vài tuần đó sống bằng gì đây? Thuần có chuẩn bị được một ít hạt giống, nhưng lấy đất đâu mà gieo? gieo xong có phải thu hoạch ngay được? vào trong đê là ruộng của làng, tìm những vạt đất Hợp tác xã bỏ hoang liệu người ta có chịu cho không? Thức ăn thì Thuần không phải lo, bắt con tôm, con cá, con cáy, con còng... ngoài biển, trong đồng cũng đủ. Nhưng mà muốn gì thì trước mắt Thuần phải dựng ngay được túp lều để trú ngụ, túp lều phải vững trãi để còn chống chọi với bão gió. Bão vùng biển lớn lắm, còn nhỏ không ít lần Thuần đã chứng kiến.
Một tuần đầu, ngày Thuần chặt tre dựng lều, đêm bò vào trong đồng cắt trộm rạ của Hợp tác xã để lợp. Căn lều nho nhỏ núp dưới rừng tre, xung quanh rừng dứa bao bọc, tuy chật hẹp nhưng gọn gàng ngăn nắp đã hoàn thành. Thuần đứng ngắm và cảm thấy hài lòng với tác phẩm đầu tay của mình. Hãy tạm thế đã, dần dần rồi sẽ củng cố thêm cho thật chắc chắn.

Căn lều xong cũng là lúc Thuần hết lương thực dự trữ. Đối mặt với thực tại Thuần mới cảm thấy hoang mang, lo lắng. Tháng tám ta “trong mưa, ngoài nước”, nghĩa là trong đồng mưa ra rả suốt ngày suốt đêm, ngoài biển nước triều đóng ăm ắp đầy bờ từ sáng đến tối, bòn bới kiếm miếng ăn khó khăn lắm, dân làng Bùi cứ nghe câu ngạn ngữ truyền miệng mà héo ruột, héo gan. Thường thì họ chỉ biết ngồi ở trong nhà nhìn ra sân, chờ từng ngày cho qua giáp hạt, và đây cũng là tháng đói kém nhất, “ ngày ba tháng tám” là thế. Thuần đói quá, suốt ngày nằm dài quắt queo suy nghĩ, mưa rả rích, mưa thê thảm, mưa thối đất thối cát, có lẽ...phải... nghĩ đến đó Thuần bỗng ớn lạnh. Còn nhớ hồi tháng 3 năm 1945, lúc đó Thuần mới 5 tuổi, cả làng đói rã họng, củ chuối, rau má, tất cả cái gì có thể ăn được thì đã hết. Người bắt đầu chết, đầu đường xó chợ đâu đâu cũng có người chết, có gia đình sáu người chết hết cả sáu. No ra bụt, đói ra ma, người ta có thể làm bất cứ việc gì miễn là có miếng ăn đút vào miệng. Bố con lão Nhờ xếp hàng chờ phát chẩn, khẩu phần là một bát cháo loãng, mà chỉ trẻ con mới được. Đến phần con lão, lão đứng nhìn con bê bát cháo loãng húp, cơn đói run người khiến lão không thể chịu nổi, quên cả tình phụ tử, lão giật bát cháo trên tay con hấp tấp đổ vào miệng mình. Thằng Bạo con nhà Bào chui vào ruộng ngô nhà Nghị Bọc bẻ trộm hai bắp, liền bị Nghị Bọc quấn giẻ vào hai bàn tay tẩm dầu hoả đốt cháy như hai bó đuốc. Chỉ mới nghĩ đến thế Thuần đã nhụt ý định tối nay vào trong đồng làng móc trộm khoai lang của Hợp tác xã.
Nhưng cơn đói khiến Thuần không thể nghĩ thêm được gì nữa, ngoài củ khoai lang tím lịm, bở tơi thơm phức. Mãnh lực sống của con người mạnh lắm, nó bất chấp tất cả miễn là được sống, phải sống. ấy rồi đôi chân Thuần líu ríu bước đi lúc nào không biết nữa. Thuần ra bờ cát móc mãi được vài con còng con, đốt lá phi lao nướng bỏ mồm nhai nghiến ngấu, chả bõ bèn gì. Thuần bứt lá vẹt non cho vào miệng nhai, chát quá càng làm cho ruột gan cồn cào, mắt hoa lên, chân bủn rủn, Thuần khuỵ xuống rồi thỉu đi lúc nào không biết, đến khi tỉnh dậy, thấy một con cá lác hoa bị thương đang nằm dãy chết,Thuần cố lết, cố lết lại gần chộp được con cá run run đút vào miệng nhai, tanh quá! Thuần nín thở cố nuốt cho trôi qua cửa họng và cũng cảm thấy hơi tỉnh táo. Nhìn quanh Thuần phát hiện được một con rùa con bằng mu bàn tay mới chết, ruồi đã bu bám bèn lê tới nhặt, đưa lên ngửi mới hơi thum thủm, mừng quá, Thuần bò vào rừng phi lao, vơ lá đốt nướng. Con rùa con đã cho Thuần có chút sức lực lết vào trong đồng làng chờ trời tối để đào trộm khoai lang của Hợp tác xã. Thuần mò mẫm cho đến khi móc được củ khoai đầu tiên bằng ngón chân cái, vội dúi xuống rõng nước, xoáy một xoáy cho sạch rồi vội vàng, lập cập đút vào miệng. Khoai sống vào đến đâu tỉnh đến đó. Khoảng nửa đêm Thuần móc được kha khá, xí xoá lại dấu vết cho tươm tất rồi trở về lều. Những đêm sau, chờ cho xóm làng yên giấc là Thuần lại vào trong đồng. Thuần chỉ móc trộm khoai của Hợp tác xã, chứ nhất định không móc của riêng ai. Hồi còn ở trên Phú Thọ, kinh nghiệm cho Thuần biết, đừng có động vào ruộng “phần trăm” hay tài sản cá nhân, còn những gì của Hợp tác xã thì không đáng sợ “cha chung không ai khóc” mà.
Ăn trộm, ăn cắp đâu có phải là nghề của Thuần, chẳng qua cũng chỉ là giải pháp tình thế mà thôi, do vậy Thuần cũng phải tìm một công việc gì đó cơ bản để kiếm ra đồng tiền, bát gạo mà sống chứ. Thuần bắt đầu chặt tre đan thúng mủng, rổ rá mang ra chợ bán. Lần đầu tiên Thuần mang đôi thúng ra chợ. Chợ họp ở xã bên không đông người lắm. Thuần đảo một vòng quanh chợ, không thấy ai bán thóc gạo và thịt lợn, có một bà đội nửa thúng gạo vừa vào đến ngõ chợ liền bị thuế vụ bắt tịch thu, bà ta khóc vật vã như người mất sổ gạo. Thuần đến hàng rổ rá tìm chỗ đặt đôi thúng xuống ngồi bán. Vài người đi qua không có ý định mua, người thứ tư đến hỏi qua quýt rồi cũng bỏ đi, lát sau một chị đứng ngó nghiêng rồi ngồi thụp xuống, nâng chiếc thúng lên xem từng sợi nan, nút mây. Thuần hồi hộp quá chỉ mong sao chị ta không để ý đến bàn tay, bàn chân của Thuần, đến khi có vẻ ưng ý đôi thúng làm kỹ và đẹp, chị ta mới nhìn Thuần hỏi giá. Bỗng chị ta ré lên: “ Hủi! ối giời ôi hủi!” rồi té chạy. Cả chợ toé loe như bị máy bay giặc Mỹ đến bắn phá, Thuần cũng bỏ cả đôi thúng mà chạy, chạy như có ma đuổi, về tới túp lều, ngồi khóc.
Thuần tủi quá, phận của Thuần sao mà bạc bẽo. Thuần muốn sống, muốn hoà nhập với cộng đồng mà cũng không được, cả đời Thuần có ác với ai đâu, ngay cả nghĩ đến điều ác cũng không dám, vậy mà ...

Càng nghĩ Thuần càng căm cô Bi, không hiểu thế nào mà cô Bi lại có thể vu oan giá hoạ cha Thuần được? lợi lộc và cái chức chủ tịch xã làm cho cô như vậy sao? Ông Đội là ai? ở đâu đến? Làm sao chỉ có vài người mà làm đảo lộn cả làng Bùi vốn dĩ đã cố kết hàng trăm năm, đã bao phen giặc giã, thiên tai cũng không thể nào làm tan nát? Thằng Tây thì cả làng này ai không biết, nó ở mãi bên Tây, nó không phải là người máu đỏ da vàng, sang cướp nước ta, bóc lột dân ta, nó ác với dân ta thì đã đi một nhẽ.
Không biết làng Bùi còn cảnh như hồi Thuần bỏ làng đi không? Thuần quan tâm đến việc này để còn đưa ra hành vi ứng xử của mình, và quyết định phải dò xét cho được. Hàng ngày khi nghe thấy ba hồi chín tiếng kẻng trong làng vang lên, một lát sau Thuần ra bờ đê nhìn vào trong đồng thấy lũ lượt bà con vác cuốc, vác xẻng đi làm Hợp tác xã, họ cười nói rổn rảng, nhởn nhơ vừa làm, vừa chơi... , thế có nghĩa là không có bị ai đe doạ, tố cáo, o ép, chắc là tốt rồi. Thấy họ cười với nhau, nói với nhau hả hê Thuần thèm quá. Thuần thèm được nói, được cười, được giao tiếp với mọi người, thèm đến nỗi, có hôm nghe người ta hát Thuần bỗng hét to lên, phả hơi ra, co kéo cái miệng cho đã. Rồi như để thử xem mình còn nói chuẩn tiếng người không, Thuần vừa hét, vừa nói, nói rất to một hồi. Hét và nói được thành tiếng rồi Thuần thấy hả lắm, sướng lắm.

Một đêm Thuần quyết định bò vào trong nghĩa địa viếng cha mẹ và chị. Mười lăm năm trước Thuần xin phép cha mẹ và chị để ra đi, nay trở về mà không đến viếng là bất nghĩa. Thuần định làm việc này từ lâu rồi, nhưng khó quá, nghĩa địa nằm ở phía bắc làng, gần đó có một ngôi nhà tranh để hàng đêm trung đội dân quân của làng tập trung tuần tra canh gác, nên việc thăm viếng mồ cha mẹ mãi hôm nay Thuần mới thực hiện.
Thuần lầm lũi men theo bờ mương đến nghĩa địa. Từ xa Thuần đã thấy người trong nghĩa địa đông lắm, không biết họ tập trung làm gì? Lúc đầu định quay về, nhưng vì tò mò Thuần quyết định bí mật bò tới thì ra họ đang tổ chức một cuộc xử bắn. Người đứng trên ngọn đầu đài sao lại là cha của Thuần? Hai người: một đàn ông, một đàn bà, mỗi người cầm một khẩu súng trường đứng chéo hai bên. Ông Toà án nhân dân đặc biệt hô: “Bắn!”. Hai phát súng nổ. Thuần nhìn rõ ngực cha bị thủng, máu phọt ra thành tia. Hình như cha nói gì đó trước khi gục đầu xuống, Thuần chỉ nghe được câu cuối cùng: “Muôn năm...’’. Đến lúc đó máu trong người như sôi, từ dưới bờ mương Thuần hét lên một tiếng vỡ trời rồi lao thẳng vào trường bắn. Than ôi! Nghĩa địa vắng tanh, vắng ngắt không một bóng người, những ngôi mộ lô nhô, im lìm trong sương lạnh. Thuần ngồi xuống trấn tĩnh, hoá ra là ma. Hồi còn sinh sống trên Phú Thọ Thuần có nghe người ta nói dương thịnh thì âm suy, về đêm ở các nghĩa địa người âm thường sinh hoạt như người dương vậy. Có lẽ ở đây âm đang suy thật?
Thuần tìm đến mồ cha mẹ và chị. Ba ngôi mộ nằm song song như chứng tích của một thời đau khổ. Thuần muốn quên cái thời đau khổ đó quá, nhưng không làm sao quên đi được. Cha mẹ sinh ra Thuần có bộ óc để tiếp nhận, tư duy và ghi nhớ, có những điều Thuần tiếp nhận, rồi cố nhớ, nhưng thời gian làm mờ dần và rơi vào lãng quên, lại có những điều nó hằn sâu đến nỗi Thuần muốn tẩy rửa mà sao không thể nào xoá được.
Không hương khói, lễ lạt, Thuần vái cha, vái mẹ, vái chị xin tha thứ cho Thuần không thường xuyên nhang khói; khất cha mẹ, chị đến một ngày nào đó Thuần sẽ sang cát cho họ được mồ yên mả đẹp.

Gió bắc hun hút trút xuống những hạt mưa phùn tê lạnh, dưới bờ mương tiếng “ cụng cụng” của con vạc đi ăn đêm nghe sao não nùng, đơn độc quá. Bỗng từ phía chòi gác phía ngoài đầu đê ấp Bắc tiếng kẻng báo động dồn dập vang lên. Từ ngoài biển Đông máy bay phản lực Mỹ xé rách bầu trời lao vào đất liền. Tứ phía súng của dân quân nổ đinh tai nhức óc, từng luồng đạn đỏ lừ từ dưới đất vút lên, đan chéo vào nhau. Chỉ mấy phút kinh động, làng xóm trở lại yên tĩnh, tiếng kẻng báo yên lại dõng dạc vang lên.

♣♣♣

Đã ba tháng rồi Thuần không được nghe tiếng người, không được nói, không được giao tiếp với đồng loại, người bứt rứt khó chịu, đứng ngồi không yên. Có hôm bức xúc quá Thuần nằm trong lều lảm nhảm nói một mình, nói mãi thấy vô nghĩa như người chửi nhau với gió, Thuần lại đứng dậy ra ngoài vẩn vơ như người mộng du. ở trên đê bỗng đâu lũ trẻ chăn trâu bí mật đến gần, hò nhau chửi: “Hai ba: Thuần hủi!... Hai ba: Thuần hủi!”, Thuần nghe mà sướng cả cái lòng. Tiếng chửi của lũ trẻ là dấu hiệu khẳng định sự hiện diện của Thuần ở làng Bùi, có mặt trên cái quả đất này rồi. Thuần chạy ra đê để minh chứng điều trên. Thấy bóng Thuần, bọn trẻ con vừa tháo chạy, vừa chửi. Chớp lấy cơ hội Thuần chửi lại lũ trẻ:

- Tiên sư bố chúng mày!

Bọn trẻ nghe tiếng Thuần chửi thì chạy bán sống bán chết. Dưới ruộng người lớn đang làm đồng thấy Thuần xuất hiện cũng bỏ chạy, được thể Thuần tiện mồm chửi luôn cho sướng:

- Bố mẹ chúng mày không dạy được chúng mày để ông dạy nhớ!

Tuyệt nhiên không một ai chửi lại Thuần lấy một câu. Thế mới ức, họ coi Thuần không phải đối tượng để đối thoại. Thuần chửi đâu có phải ức mà chửi, Thuần chửi để được đối thoại, để được nói, để chứng tỏ rằng Thuần cũng như tất cả mọi người, ngang hàng với mọi người.

Trở về lều Thuần hả hê trong lòng như người vừa được giải phóng năng lượng, miệng lưỡi, phổi phèo nở nang, đầu óc sảng khoái. Ta sống không đơn độc, con người có biết ta, vẫn biết ta, đoái hoài đến ta đấy thôi.

Những ngày sau cứ khoảng gần trưa Thuần lại ra đê hong hóng lũ trẻ để được nghe tụi nó chửi, nhưng tuyệt nhiên không còn thấy bóng dáng chúng nữa.
Buồn quá, khó chịu quá, vào một buổi tối ngày mồng hai tết Nguyên đán năm ấy không còn chịu nổi cô đơn Thuần liều lĩnh vào trong làng, rồi bò đến một ngôi nhà gần bìa làng. Nhà không có chó, vì thế Thuần tiếp cận được sau cái bể nước, nằm ếp xuống bờ rau ngót. Căn nhà vách ba gian ấm cúng vô cùng, gian giữa đặt bàn thờ, mùi hương thơm khiến Thuần xao xuyến nhớ đến ngôi nhà xưa của gia đình mình. ánh sáng của chiếc đèn dầu chói loà soi rõ khuôn mặt của bốn thành viên trong nhà, họ đang nói cười vui vẻ. Thuần ngồi nghe họ nói mà như nuốt lấy từng lời. Họ đang bàn về việc giặc Mỹ leo thang ra miền Bắc, đưa máy bay bắn phá các mục tiêu quân sự, bắn cả vào trường học, chợ búa, dân thường; rồi họ bàn đến chuyện làm ăn của Hợp tác xã. v. v... Thuần được nghe họ nói, họ cười sao mà hả hê, suýt nữa Thuần định buột miệng làm một tràng theo họ.
Thuần để ý trong nhà có một cô gái chừng mười bảy, mười tám tuổi, mặt trái xoan, da trắng, người cao dỏng, suốt buổi tối cô ta chỉ ngồi nghe, không nói, không cười. Có một lần Thuần thấy cô ta dang hai bàn tay ra hiệu cho người mẹ, lần khác đứa em cũng dùng tay ra hiệu cho cô ta. Lát sau, cô gái xăm xăm bước ra ngoài sân đi đến bờ rau ngót chỗ Thuần nằm, vén ống quần lên quá bẹn, trật cả cái mu đen đen ưỡn người đứng đái, tia nước cong vọt như người ta phun nước. Thuần vừa buồn cười, vừa thích. Dương vật của Thuần bỗng cựa quậy chọc xuống đất, Thuần nhớ đến Gấm, nhớ quá, Gấm đẹp chẳng kém cô gái này, Gấm say sưa khám phá, say sưa ân ái với chồng như một việc làm hấp dẫn. Cứ sau mỗi lần ân ái kết thúc bao giờ Gấm cũng rùng mình rồi thét rú lên làm Thuần có cảm giác hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đêm ấy trở về chiếc lều đơn côi, Thuần ngủ một giấc ngon lành. Thế là Thuần có một cái tết mỹ mãn trong điều kiện của mình, Thuần được ăn một món đã đói meo nửa năm nay kể từ ngày xa cái bệnh viện hủi tình nghĩa. Không có món ăn đó Thuần không chết nhưng khổ quá chừng, nó ấm ức, khó chịu như người chướng bụng.

♣♣♣

Mùa hè bắt đầu bằng ánh nắng vàng rộm làm bừng lên không khí ấm áp sau cái tết thanh minh, rừng sú vẹt lung linh những chùm hoa trăng trắng đón đợi đàn ong mật. Cả một vùng biển cạn như sinh động hẳn lên đón ánh nắng hè chói chang rực rỡ.

Thuần thấy người khoẻ khoắn, nhanh nhẹn hơn những ngày rét mướt, u ám, bước ra khỏi lều thưng thửng đi xuống bãi cát, trước mắt Thuần như có một rừng hoa sắc màu rực rỡ trải dọc mép bờ cát. Từng đàn còng gió mỗi con một sắc màu, một chủng loại, con thì mình đen càng đỏ, con lại mình đỏ càng nâu, có con mình trắng càng tím; con đực càng bên trái chỉ bé bằng chiếc tăm, nhưng chiếc càng bên phải to đùng như thanh long đao lúc nào cũng dứ dứ diễu võ dương oai trông tức cười muốn chết.
Thuần lặng người đứng ngắm, chúng đông quá nếu mà không chui xuống lỗ chắc chỉ bốc một lúc là đầy giỏ. Chúng sống thuận hoà, chưa bao giờ Thuần thấy chúng tranh giành miếng ăn, hoặc đánh nhau. Một con chim bay vút qua, cả một rừng hoa muôn màu chuyển động, ấy là khi bọn còng chạy về miệng lỗ. Thuần sẽ sắm câu để câu còng, ngày trước khi gia đình còn đầy đủ Thuần theo bạn bè câu còng cho mẹ làm mắm, được nhiều mẹ còn quảy ra chợ bán lấy tiền mua gạo. Thuần câu còng giỏi lắm, buổi sáng có thể câu đầy một giỏ. Giá mà mang ra chợ bán được, Thuần có thể chỉ câu còng cũng đủ nuôi cái miệng.

Ngày nào cũng thế, mỗi buổi sáng Thuần đều ra chơi với lũ còng. Thuần không bao giờ làm hại chúng, nên lũ còng không còn biết sợ Thuần, chúng bò lên chân, cắp cắp vào da đùa giỡn. Có lần Thuần gỡ quần áo nằm dài trên bãi cát để lũ còng bò lên mình tắm nắng và thì thầm chuyện trò với chúng. Thuần say mê nói chuyện đến nỗi tưởng chúng cũng nghe được lời của mình.

Đang nằm dưới nắng vuốt ve thì thầm nói chuyện với một con còng đực, bỗng thấy bóng của ai đổ bên, Thuần giật mình ngẩng lên, đó là một người con gái có khuôn mặt trái xoan, đôi mắt dìu dịu, người cao dong dỏng. Cô gái mặc bộ quần áo cũ vá víu, dính đầy bùn, vai đeo một chiếc giỏ cũng dính đầy bùn của biển. Chao ơi! Nụ cười trắng loá làm Thuần mủn lòng. Sau một chút ngỡ ngàng, Thuần nhận ra cô gái ở ngôi nhà rìa làng mà Thuần đã nằm ở bờ rau ngót chứng kiến cô ta vén quần đái cầu vồng đêm mồng hai tết. Thuần vội vàng ngồi dậy ngượng ngùng, rồi buột miệng:

-Tôi chào cô. Cô đi biển hả?

Cô gái mỉm cười, nụ cười hiền và gần gũi quá. Cô ta gật đầu và lấy ngón trỏ bàn tay phải ngoáy một vòng như dấu hỏi chấm trên lòng bàn tay trái. Thuần ngớ người, cô gái lại cười.
Thuần nói:

- Mời cô vào nhà tôi chơi.

Miệng nói, tay hướng dẫn cô gái đi về túp lều, Thuần luống cuống thu dọn mấy cái đồ lặt vặt ngổn ngang trong lều và mời cô gái ngồi xuống chiếc giường tre khá đẹp. Mọi việc đâu vào đấy, Thuần cởi trần ngồi trên chiếc ghế đối diện cũng bằng tre nhìn bâng quơ ra rừng phi lao. Làm gì bây giờ nhỉ? Thuần lúng túng quá, hết nhìn ra rừng phi lao lại nhìn lên trần nhà rồi bỗng nhớ ra trong nồi còn mấy bắp ngô luộc. Thuần chạy xuống bếp bê lên mời, cô gái lại cười, nụ cười rất đẹp và khó hiểu làm Thuần càng lúng túng. Cô ta khua khua gì đó rồi nhón lấy một bắp ngô đưa cho Thuần, một bắp cho mình và ngồi ăn ngon lành. Thuần vừa ăn, vừa nói chuyện, Thuần nói rất nhiều như để tranh thủ được nói. Thấy Thuần nói nhiều quá, cô gái đành phải ra hiệu rằng cô không thể nghe được, không thể nói được. Thuần thất vọng và buồn quá, thế là bao lời Thuần tích tụ từ lâu, đến hôm nay mới có đối tượng để tuôn xả hoá ra uổng phí. Cũng không sao, Thuần đã nói ra được rồi, dẫu gì thì cô gái cũng nhìn miệng Thuần vẻ thích thú. Thuần lấy tay vạch xuống cát viết: “Cô có biết chữ không?”, cô gái gật đầu. “Cô tên là gì? tôi tên là Thuần”. Cô gái ngồi xuống viết trả lời: “Em là Sa. Sao anh lại ở đây một mình?”. Có lẽ câu hỏi vô tình của cô gái gảy đúng vào cái góc tủi hận của lòng Thuần mà bấy lâu nay chỉ chờ có cơ hội để được bày tỏ, thế là nước mắt Thuần trào ra. Một cơ thể cường tráng, vai u thịt bắp, cơ thịt trên đùi, trên cánh tay cuồn cuộn, khuôn mặt góc cạnh đầy nam tính lại chảy được nước mắt làm cô gái động lòng trắc ẩn. Im lặng, có lẽ giây phút im lặng này lại nói được nhiều điều nhất, nhờ thế mà con người cảm được lòng nhau, gần nhau hơn, yêu quí nhau hơn.
Thuần bảo Sa cứ ngồi chơi tự nhiên, anh phải đi tắm thay quần áo cho sạch sẽ. Thuần đi rồi, Sa nhìn nhà cửa thấy bề bộn, bản năng phụ nữ bỗng cựa quậy, thế là cô tiện tay thu dọn, kê đặt mọi thứ cho ngăn nắp. Xuống bếp, Sa thấy có nồi cá lác kho ngon quá, một bó rau muống còn tươi, gạo tuyệt nhiên không thấy, chỉ có khoai lang và ngô, có cả lạc và hạt đậu. Sa thèm các thứ này quá, nhà Sa nghèo, cả làng cũng nghèo, hàng vụ số thóc Hợp tác xã chia cho chỉ đủ ăn vài tháng, còn lại phải ra biển bòn bới con cua, con cáy... để kiếm sống, suốt ngày chỉ ước mơ có được bữa cơm no vậy mà cũng khó.

Sa thấy thinh thích căn lều và người đàn ông này, anh ta gần gũi, tôn trọng và có vẻ là người tốt. Lần đầu tiên Sa gặp được người thích và tôn trọng Sa làm cô cứ lấn bấn mãi không muốn về tý nào.
Sa sinh ra trời đã không cho biết nói và biết nghe, bù lại trời cho cô một sắc đẹp lộng lẫy. Cha thương con gái tìm rất nhiều thày thuốc để chữa chạy, nhưng đều vô hiệu. Muốn cho con bằng chúng, bằng bạn hàng ngày cha dạy cho Sa biết chữ. Sa lên tám tuổi thì cha chết. Cha chết vì đi gánh phân cho Hợp tác xã bị mảnh chai đâm vào chân, rồi bị vi trùng uốn ván, đến khi sưng tấy, lên cơn giật mới đưa đi bệnh viện. Người ta đặt cha lên giường, cơn co giật làm cha bắn xuống đất. Người ta khiêng cha đặt trở lại giường thêm hai người đè giữ, vài cơn co giật tiếp theo khiến người cha cong lên, rồi cha chết. Mấy năm sau có một người đàn ông khác lấy mẹ Sa và ở luôn tại nhà. Sa ghét ông ta lắm và ông ta cũng không mấy thiện cảm với cô con gái riêng bị câm và điếc của vợ. Khi Sa lớn lên ý thức được cơ thể gái tơ của mình thì cũng là lúc cô phát hiện được ánh mắt dục vọng thèm khát của ông ta. Có một lần đang nằm võng ngủ Sa cảm thấy buồn buồn ở mu, choàng tỉnh dậy cô bắt gặp bàn tay của cha dượng đang luồn vào trong quần cô, sờ soạng. Bị Sa phản ứng, ông ta ra hiệu bảo: “Dượng kiểm tra xem con có bệnh gì không? Tại sao mu của con lại cao thế? Phải xoa thường xuyên nếu không bệnh nặng chết đấy”. Sa cũng sợ, nhưng chưa tin vì dượng chưa bao giờ tốt với Sa.
Nhưng đời con gái của Sa lại không rơi vào tay người dượng dâm dục. Một tên vũ phu hàng xóm đã chiếm đoạt Sa như con hổ bất ngờ vồ được mồi. Đó là ngày Sa tròn mười sáu tuổi, buổi sáng làng nước đi làm ngoài cánh đồng hết, xóm làng vắng tanh, vắng ngắt. Sa vác chiếc rổ tần ngần trước ao bèo nhà hàng xóm. Bèo nhiều quá mà nhà nó có nuôi lợn đâu, để phí. Nhìn trước, nhìn sau không thấy ai, Sa lội nhào xuống vớt trộm. Đang mải miết vớt thì một hòn gạch ném trúng lưng khiến Sa oằn người đau nhói. Nó đứng trên bờ như một đao phủ, đôi mắt trắng dã, bộ ria mép đen vênh nhìn Sa như muốn nuốt tửng. Sa run bắn người, ú ớ và không biết làm gì nữa. Nó bắt Sa bê rổ bèo vào sân, rồi lôi sềnh sệch vào trong nhà. Nó bế thốc Sa ném lên giường, chân đá cánh cửa sập lại. Sa sợ đến nỗi không còn biết gì nữa. Nó lôi tuột quần của Sa ném ra ngoài, không may vướng vào cái lư hương trên bàn thờ, một ống quần thõng xuống lắc lư. Nó cầm hai cổ chân Sa kéo dạng ra rồi thọc cái thổ tả của nó vào. Sa đau nhói, cong người giẫy dụa. Nó liên tiếp dận Sa xuống như giã gạo làm chiếc giường ọp ẹp đổ rụp. Sa có cảm giác toàn thân bị gẫy vụn. Trước khi thả Sa về nó lấy con dao phay đặt phần lưỡi sáng loáng vào cổ đe cứa. Sa chạy về nhà vào trong buồng kiểm tra xem cơ thể có bị gì không, sờ nắn, ấn mu xem có bị vỡ không vì Sa thấy nó dận mạnh lắm. Sự kiện ấy như một minh chứng xác nhận đồng loại coi Sa rẻ rúng như con vật. Cả nhà, nó và tất cả mọi người khinh Sa và cô thực sự thấm thía cái nhục nhã.

Bây giờ Sa gặp được Thuần, anh ta là người đầu tiên có vẻ nể và quí, tự nhiên Sa thấy mình hình như có một chút giá trị. Trên đường trở về cô soi mặt vào vũng nước, mặt Sa đẹp chứ, đẹp không kém gì các cô gái trong làng. Sa luồn tay vào trong quần sờ vào cái mu của mình. Tại sao lại có mấy sợi lông nhỉ? Những sợi lông quăn quăn màu đen trông xấu và bẩn quá, Sa nhổ thử, đau lắm. Sa hơi hoảng, hay là do cái thằng vũ phu nó làm nhục mình nên mu mới mọc lông đen. Mấy đứa trẻ trong làng đứa nào cũng nhẵn thín thịn chứ có ram ráp như thế này đâu. Sa chui vào bụi cây bờ ao tụt quần ra nhổ cho bằng sạch mấy cái sợi lông tơ lún phún.

Sa đi rồi, Thuần ra đứng đầu đê thẫn thờ nhìn theo cho đến khi bóng Sa khuất hẳn vào bìa làng. Tội cho Sa quá, Sa đẹp thế mà bị câm và điếc. Người như Sa chắc đời rẻ rúng lắm, Thuần biết chứ. Làng Bùi ngày trước cũng có người đàn bà bị ngọng và mắc bệnh chân voi, người ta còn sổ toẹt không đưa chị ta vào danh sách đi bầu cử. Chị ta có tên nhưng cả làng không ai gọi; nếu có việc gì liên quan, người ta kêu con ngọng. Cả làng coi như không có chị ta tồn tại trên thế gian này.
Như vậy là Sa cũng giống như Thuần thôi, bị cộng đồng xua đuổi. Vậy tại sao Thuần và Sa không giúp đỡ nhau, an ủi nhau?
Bây giờ Thuần đã tạo dựng được cuộc sống tương đối yên ổn và còn khai hoang được cả miếng ruộng để cấy lúa, chỉ thiếu con chó, bầy gà. Người làng Bùi ai cũng công nhận sự hiện diện của một người hủi là Thuần. Công an và chính quyền xã còn biết rõ tung tích, nhưng đa đa dân không hiểu rõ lắm, chỉ gọi Thuần là thằng hủi. Ruộng vườn hoa màu của Thuần không ai dám động đến. Không phải họ yêu quí gì Thuần, đơn giản là sợ bị lây bệnh hủi.
Mối thù của Thuần lại được dịp cắn cứa trong lòng. Đã bao nhiêu đêm Thuần không ngủ được nghĩ thương cha, thương mẹ, thương chị và thương cái thân mình. Cứ nghĩ đến cha bị người ta sỉ nhục và trói đem bắn, rồi bộ xương cha đang còn bị trói dưới lòng đất và hình ảnh chị gái bị hiếp đến chết,Thuần không thể nào chịu nổi. Bao nhiêu buổi sáng, bao nhiêu buổi chiều Thuần lượn lờ trên bờ đê nhìn xoi mói vào cánh đồng, nơi mọi người đang làm ruộng xem có thấy bóng dáng cô Bi, ông Đội? Chẳng lẽ họ cũng bỏ mà đi? Thuần muốn nguyền rủa cô Bi, muốn hét lên để cho hả lòng căm giận.
Sinh ra và lớn lên Thuần được cha mẹ dạy phải biết căm thù thằng giặc Pháp, vì giặc Pháp mà dân Nam phải chịu cảnh mất nước lầm than. Thuần lại cũng chứng kiến thằng Pháp chỉ huy lính khố đỏ bắn cha. Lần đó nếu không có dân làng Bùi thì cha đã chết. Nhưng mà việc cha Thuần bị vu oan, bị phản bội, bị giết thê thảm, chị gái Thuần bị hiếp đến chết, rồi mẹ Thuần vì thế mà phải ốm và qua đời là cú sốc lớn của đời Thuần, nó trực tiếp làm gia đình Thuần tan nát, đời Thuần cực khổ, nó đóng đinh vào tư duy non trẻ của Thuần, buộc Thuần phải căm hận không thể nào phai mờ được. Đã có thời kỳ do bươn trải kiếm sống khó khăn quá Thuần cũng đã có ý định quên xừ nó đi mà sống, đời có là cái đinh mà oán với thù cho khổ? Nhưng không thể nào quên đi được. Thà rằng Thuần như con chó, con mèo đá cho một phát đến vỡ bụng, rồi lại ném cho miếng xương là quên ngay thì tốt biết bao, đằng này...
Đêm nay Thuần quyết phải tìm về nhà cô Bi xem sự thể thế nào để rồi còn tính. Nhà cô Bi liền kề nhà của Thuần trước kia, cũng là nhà tranh vách đất, cũng có cây núc nác khẳng khiu đầu ngõ, chắc giờ vẫn thế.
Trời tối như âm phủ. Chó nhiều vô kể, thỉnh thoảng lại gặp toán dân quân đi tuần. Dân quân đi đến đâu chó đồng ca ran làng đến đó. Thuần nép dưới bờ ao nhà Thuần trước đây, tự nhiên kỷ niệm xưa ùa về suýt nữa làm Thuần tu lên khóc. Đây là cái cầu ao bằng đá cha kê để mẹ con Thuần đi khỏi ngã, nơi mà cha mẹ đã tắm cho chị em Thuần không biết bao nhiêu lần; chỗ kia mẹ cào bùn lên trồng liếp rau muống, chỗ này cha quây cái chuồng bèo mà chị Hương thường ra vớt về nuôi lợn. Một lần chị ngã ướt hết, Thuần đứng trên bờ vỗ tay hoan hô bị mẹ mắng. ở góc ao phía đông kia, buổi sáng Thuần hay mang nơm chờ úp cá đẻ, có hôm úp được con cá chép to không rút ra được khỏi cổ nơm, đành bê cả nơm mang về ném huỵch xuống bếp làm chị Hương giật mình kêu ré lên... Bây giờ họ chết hết cả rồi để Thuần bơ vơ trơ trụi một mình ở thế gian đen bạc này.
Đang mênh mang dòng tưởng niệm thì bỗng trên bờ một người đàn ông xăm xăm đi đến vạch quần, móc chim xả nước tồ tồ xuống ao, tiếp đó một người đàn bà to mập chỉ khoác một chiếc áo cánh buông cúc, hai bầu vú thây lẩy từ trong hẻm đi tới. Vừa lúc người đàn ông giải quyết xong nỗi buồn, người đàn bà thò tay tóm lấy cái dụng cụ sung sướng của người đàn ông:

- Cứng thế?

- Nó có nhà không?

- Có, nhưng cho uống rượu say, ngủ như chó chết.

- Đứng lui vào trong kia, không dân quân nó đi tuần, nhìn thấy.

- Không sợ. Đứng đây dễ thấy hơn.

- Đã bảo đừng mặc xi líp, sao cứ...

- Quên xừ nó mất... từ từ hãy... ái đau!

- Tý nữa... được rồi... sướng thế?

- Có hơn con mụ nhà ấy không?

- ... ứ ứ!

Cơ thể cường tráng tuổi ngoài băm của Thuần lại bị tù hãm bao nhiêu năm nay không thể nào chịu nổi. Thuần vừa lắng nghe, vừa quan sát, cổ họng khô rát, muốn xông lên thay thế người đàn ông. Thuần phải bẻ, phải bóp cho cái dụng cụ sung sướng không được sung sướng nữa.

Đôi gian phu dâm phụ đã xong việc, dặn dò nhau tối mai cũng cỡ này, nhớ nhé... rồi chia tay ra về. Chờ cho yên yên một lúc Thuần lội theo bờ ao, vọt lên đi về phía ngôi nhà xưa. Nhà không còn nữa, bây giờ là một ruộng dâu, lá dâu nhớp nháp lành lạnh sương đêm. Thuần thẫn thờ ngẩn ngơ nuối tiếc... thế là làng Bùi xoá hết dấu tích gia đình Thuần. Ai dỡ nhà Thuần? Ai chặt cây khế ông nội trồng mà trước đây hàng ngày Thuần vẫn đánh đu hái trái? Ai san phẳng để trồng dâu ở đây? Hai hàm răng Thuần nghiến ken két. Thuần phải sang ngay nhà mụ Bi để hỏi tội. Nhà mụ cũng không còn nữa, thay vào đó là một ruộng dâu, những cây dâu tua tủa như những mũi chông xiên chéo lên trời. Đêm hè mông mênh những vì sao thăm thẳm, đặc sệt gần gũi sương đen. Thuần hơi hoang mang, thất vọng đứng trơ trọi giữa vườn dâu hoang vắng. Đầu làng tiếng chó sủa ra rả, dưới ao bèo tiếng cá quẫy ì oạp, đó đây tiếng dế ri rỉ khóc bài ca ai oán. Đã vào được đến đây Thuần quyết định ra nghĩa địa thăm viếng cha mẹ và chị. Lại cũng như lần trước, nghĩa địa đang tổ chức một cuộc xử bắn cha. Người đứng trên ngọn đầu dài vẫn là cha Thuần. Hai người: một đàn ông, một đàn bà, mỗi người cầm một khẩu súng trường đứng chéo hai bên. Ông Toà án nhân dân đặc biệt hô: “Bắn!”. Hai phát súng nổ, Thuần nhìn rõ ngực cha bị thủng, máu phọt ra thành tia, hình như cha nói gì đó trước khi gục đầu xuống, Thuần chỉ nghe được câu cuối cùng: “ Muôn năm...”. Lần này Thuần bình tĩnh ngồi xem cho đến khi kết thúc, mọi thứ lại trở lại lặng như tờ, đêm hoang vu, tĩnh mịch, lô nhô những ngôi mộ im lìm trong sương lạnh.

♣♣♣

Đêm gần sáng Thuần thấy cổ họng rát bỏng, đầu váng vất, mũi ngạt. Đến sáng thì cơn sốt ập xuống, người nóng hầm hập, mình mẩy đau nhức. Đã lâu lắm rồi Thuần không biết ốm là gì, có lẽ đêm qua nhiễm lạnh do mò mẫm ao chuôm. Những lúc ốm đau thế này Thuần mới thấm cô đơn hơn bao giờ hết, mới thấy sự cần thiết có bàn tay chăm sóc của người thân, của cộng đồng. Trời ơi sao khó chịu quá thế này, nước mắt ứa ra, hai hàm răng đau và cứng ngắc. Thuần giơ thử cánh tay lên, mỏi quá lại rũ xuống. Thuần lại cất thử đầu, nặng trịch không thể cất lên được. Trời! Thế là ốm nặng lắm, Thuần hơi hoảng sợ. Biết làm thế nào bây giờ? Thuốc không có, lại cũng không người để cậy nhờ giúp đỡ, thế này thì chết mất thôi. Càng nghĩ Thuần càng căm hận cô Bi, đêm qua mà tìm được, sẽ hỏi mụ ta vì sao mà đời Thuần khổ thế này? Đòi mụ phải trả lại gia đình cho Thuần! Nợ máu phải trả bằng máu.

Đã qua ngày thứ hai, Thuần không ăn, không uống gì. Thuần không muốn ăn, chỉ thấy mệt, mệt lắm, và nếu có muốn ăn thì Thuần cũng không thể dậy nổi mà đi luộc nồi khoai, hay nấu bát cháo ngô. Nằm nhìn lên mái lều thấy quay cuồng như người rối loạn tiền đình. Thôi, Thuần cũng không muốn nghĩ gì nữa, mệt lắm, chết thì chết đi cho rồi, sống làm gì cho khổ, chỉ uất là chưa rửa nhục được cho cha, chưa trả được mối hận đời, vả lại chết đâu có phải là hết sự sống, ở cái thế giới mỏng manh bên kia, linh hồn bất lực làm sao mà rửa nhục được. Nghĩ được điều ấy, Thuần lại quả quyết phải sống, sống để khẳng định mình, để làm bằng được một số việc mà Thuần ngấm ngầm dự định bao nhiêu năm nay, đời có ân, có oán, có vay, có trả. Thuần cố lật mình ngồi dậy. Chao ơi, không thể được, đau và mềm nhũn hết cả cơ thể, năng lượng hình như bị triệt tiêu hết. Thuần vật người nằm xuống. Trời thì nóng mà trong người Thuần lại lên cơn rét, rét quá, rét run cầm cập. Thuần quơ tấm chăn chiên cũ nát quấn chặt người, vẫn rét. Chiếc giường tre vững chãi là thế, vẫn rung lên như động đất. Thuần chết thật. Thuần nghĩ thế. Thuần đang nghĩ, rồi Thuần lịm đi...

Sa đeo chiếc giỏ hớn hở ra biển. Ngày nào cũng thế kể cả những lúc ốm đau, chỉ trừ những ngày nước triều đầy bờ, Sa phải đi bắt bất cứ con gì ngoài biển, phải có con gì mang về thì bữa cơm hôm đó Sa mới nuốt nổi, hôm không mớ don, mớ día, thì cũng phải bơ vọp, lạng tôm... nếu không có gì, ông dượng hằm hằm chửi bới, đánh đập, nhất là từ ngày Sa kiên quyết chống lại hành động dâm dục của dượng.

Sa muốn đến thăm Thuần quá, nhưng phải ra biển cái đã, phải kiếm cho được cái gì bỏ vào trong giỏ, nếu không coi chừng với dượng. Sa đắp khoanh một một khoảnh trong rừng sú vẹt, tát cạn nước, rồi dùng chiếc tang khuấy cho bùn lỏng ra như cháo loãng, đục ngàu, chờ một lúc những con tôm tu sặc bùn lóp ngóp ngoi lên. Mỗi vũng như thế Sa cũng bắt được một hai lạng. Tôm tu giống như con tôm cờ, nhưng chúng sống dưới lỗ ngoài biển cạn, hai chiếc càng như càng cua, bật kêu tôm tốp. Sa vỗ giỏ cũng khá khá, chừng bảy tám lạng, ngẩng lên thấy mặt trời xiên xiên, hôm nay sớm hơn mọi ngày, Sa phải về còn ghé qua chỗ Thuần để chơi với nhau nữa chứ. Căn lều vắng vẻ quá, cái ông này chắc lại mò mẫm ngoài rừng sú vẹt chăng? Sa đặt chiếc giỏ và cái tang bên ngoài rồi rón rén bước vào trong lều. Trông thấy Thuần nằm quặt quẹo như một xác chết trên giường, Sa hốt hoảng lao tới, như muốn bật thành lời: Trời ơi! Sao thế này? Khốn khổ khốn nạn quá Thuần ơi! Sao không báo để Sa giúp đỡ. Vừa xoa bóp cho Thuần, Sa vừa khóc, đã ăn gì chưa anh Thuần? Đã uống thuốc chưa? Giời ơi, sao người nóng như hòn than ngậm lửa?
Thuần oặt ẹo, mềm nhũn và miệng không ngớt rên rỉ. Sa ấn vào bụng Thuần thấy lép kẹp, cô vội vàng chạy xuống bếp lục lọi, tuyệt nhiên không có một chút gì ăn sống người. Sa lật cái thúng góc bếp thấy có ít ngô đã giã nát, cô đổ vào nồi châm lửa nấu. Phải cho anh Thuần ăn cái gì đã rồi sẽ tính sau, không khéo chết đói mất.
Nước cháo ngô thấm dần vào cơ thể đã kiệt quệ không một chút dinh dưỡng gì trong mấy ngày nay đánh thức từng tế bào, từng sợi dây thần kinh rồi từng bộ phận cơ thể, đôi mắt Thuần hé mở. Sa mừng quá như cướp lại được báu vật vừa bị thần chết lấy đi, không hiểu sao Sa bỗng ôm choàng lấy Thuần khóc rưng rức.
Khi cảm nhận được bộ ngực thây lẩy của Sa ấp vào ngực mình thì Thuần tỉnh hẳn, anh quờ đôi tay ôm lấy lưng Sa. Lúc đó tình thương của Sa bỗng chuyển thành tình cảm lứa đôi khiến Sa hoảng hốt buông Thuần, quệt nước mắt. Đôi bàn tay thiếu ngón của Thuần nắm lấy bàn tay mềm mại trắng trẻo của Sa, họ nhìn nhau, cảm nhau và đều hiểu họ không thể thiếu nhau được.

Sa đi, đến chiều trở lại mang theo thuốc, gạo và cả thức ăn. Sa tất bật nấu cháo, nấu nồi nước lá xông, bón cho Thuần ăn rồi cho uống thuốc, ra hiệu để dặn dò tỷ mỉ rồi Sa về.

Sa về rồi Thuần vừa thấy bâng khuâng, lại vừa cảm được hạnh phúc của tình người. Thuần không ngờ Sa vẫn nhớ và tốt với Thuần thế, nếu không có Sa chắc Thuần chết mất, chết không có ai chôn cất, cơ thể thối rữa ra, xương cốt khô dần, muông thú sẽ tha đi khắp nơi.

Vậy là Thuần mang ơn Sa lắm, nếu như Sa về đây ở hẳn với Thuần thì tốt biết bao. Không thể được, không có được, dẫu sao Sa cũng hơn Thuần là có một gia đình. Cộng đồng xa lánh nhưng Sa vẫn còn sinh hoạt được với cộng đồng, dễ gì mà Sa lại tách khỏi làng Bùi ra sống côi cút với một thằng hủi, thôi đừng có mơ ước viển vông... Nghĩ thế nên Thuần yên tâm ngủ đi một giấc cho người nó khoẻ. Nhớ đến nồi cháo gạo Sa để trên bếp, Thuần ngồi dậy xuống bếp lấy cháo ăn, uống thuốc. Thuần cảm động và biết ơn Sa quá.

Ngày nào cũng thế, buổi sáng trước khi ra biển Sa đến thăm xem Thuần đã khoẻ hẳn chưa và có cần gì không. Đến trưa trước khi về làng Sa lại ghé qua và giúp Thuần cơm nước, thuốc thang rồi mới yên tâm trở về. Nhiều hôm cứ lấn bấn mãi mà Sa chưa thể bứt căn lều mà về được, có lần Sa đã bước đi mấy bước lại quay trở vào, rồi ra hiệu nói với Thuần: “Anh là chúa liều lĩnh. Đừng có cậy sức vóc mà phung phí sức khoẻ, có ngày không cứu nổi đâu”.






...CÒN TIẾP...
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 06.10.2008 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội .