MƯỜI MỘT :

VINH - HỘI AN.



Ngày thứ mười ba chuyến xuyên việt xuất phát từ khách sạn Phương Nam rất sớm. Một khách trong đoàn đẩy chiếc va li ra trước khách sạn giã từ anh chị em, vẻ bùi ngùi.
- Chúc quí vị trên đường về Sài Gòn bình yên.
Anh trở về quê, cách Vinh khoảng ba chục cây số- hẳn không bao giờ quên được chuyến du hành đẹp nhất trong đời. Tôi lại như được giàu thêm cảm giác chia ly như thế nào, dầu người bạn ấy chỉ cùng chúng tôi ăn trưa, ngủ chung khách sạn ở Quy Nhơn, Huế, Ninh Bình, Hà Nội, Sapa , Yên Bái vv.. trong suốt mười hai đêm. Lại nhìn tấm ảnh chụp đứng phía sau vợ tôi ở Chùa Một Cột, anh chàng mặc áo pull đứng tần ngần, nhìn đàn cá vàng lội dưới hồ. Tạm biệt anh , chẳng nhớ tên anh là gì,và cũng khó có ngày gặp nhau lại.

Xe bắt đầu qua cầu Bến Thủy-chuyến về- xe từ từ dừng trước IỐT-TRẠM THU PHÍ BẾN THỦY. Lúc đầu, tôi chẳng hiểu IỐT là cái quỉ quái gì , sau thấy anh Năm xì tiền đóng lệ phí cấu đường, tôi chợt hiểu ra- đó là cách phiên âm từ kiosque -tiếng tây.
Nước chảy dưới cầu Bến Thủy từ thập niên ba mươi thế kỷ XX đã hoà máu loang cả một dòng chảy- cuộc biểu tình đầu tiên xứ Trung kỳ, của 1500 công nhân xưởng chế tạo diêm ( miền nam: quẹt ) im lặng diễu hành, mặc cả với chủ về lương bổng. Và năm chục lính tập nã súng vào họ, sau đó hùa nhau khiêng xác chết, người bị thương ném xuống sông. Và đúng là dòng sông này, tôi đang nhìn thấy tận mắt đây.

“… Công ty khai thác gỗ tếch cung cấp cho xưởng chế tạo diêm ở Bến Thủy có chừng 700 thợ.
Chủ trả lương công nhật, đàn ông 36 xu/ngày, phụ nữ 20 xu. Gạo 1 ki lô giá từ 10 xu tăng lên 17, chủ đã thỏa thuận với Khâm sứ Trung kỳ là phải tìm cách tăng lương cho dân bản xứ.
Thấy đám đông biểu tình đòi tăng thêm 6 xu/người/tháng, mà chủ đã cho tăng như vậy là quá nhiều. Người ta bán gạo theo giá cũ, thì thực tế mới tăng cho công nhân 1 xu lương mà thôi. Như vậy cuộc biểu tình không còn lý do gì đòi hỏi về kinh tế lẫn nghề nghiệp.
Ngày 1 tháng 5, từ 6 giờ sáng không một công nhân nào vắng mặt. Toà sứ được mật báo từ đêm trước
( 30 tháng 4) , sẽ có một cuộc tập trung nổi dậy, bắt đầu xuất phát từ vùng nông thôn ở gần đó. Cuộc nổi dậy luôn luôn được tổ chức vào đêm tối không trăng. Tốp đầu sỏ âm mưu bắt đầu ngồi xổm ở bờ ruộng, trong khu rừng rậm rạp, trong hầm tối- không dễ gì phát hiện được. Cảnh binh xục xạo trong các c1nh đồng, rừng rậm, cả trong hầm tối- chẳng thấy gì, cũng chỉ uổng công thôi.
Mặt trời ló rạng, thì ở đâu lại túa ra khoảng 1500 người nhô ra khỏi mặt đất tập họp hàng lối qui củ, ung dung hướng về Bến Thủy.
-Bọn này là tuị nào? có thật là không có công nhân nào trong xưởng máy tham dự biểu tình không? Bọn này từ đâu tới? trong làng xã hay ở đâu kéo về. Bọn chúng muốn gì?
Chẳng ai trả lời chính xác được- mà chỉ nhìn thấy 1500 người lặng lẽ, không cờ, không huy hiệu, không biểu ngữ- họ đi rất trật tự có tốp hướng dẫn xếp đặt người biểu tình đi sát lề đường, dành chỗ cho xe hơi chạy.
Người ta khôngnghe thấy gì, ngoài 3000 bước chân đất rầm rập nện trên đường. Thanh tra tây,
Le Petit cùng 50 lính tập võ trang súng ống, đạn dược đa tới đường cái lớn. Thêm huyện quan đi bên cạnh làm thông ngôn.
Đầu tiên ra lệnh giải tán- họ không tuân lệnh- lại ra lệnh buộc đầu hàng - nếu không thì bắn bỏ- huyện quan thông dịch đúng lệnh ban ra từ thanh tra.
Đoàn biểu tình hàng đầu hơi do dự đôi chút. Những người phía sau chỉ nghe thấy lời nói truyền theo hàng xuống dưới, và hàng người vẫn tiếp tục rầm rập trên đường- không nói một lời, không tiếng kêu la. Và cách chừng 500 met, thanh tra
Le Petit lên tiếng khuyến cáo đầu hàng (lần hai) -đoàn người vẫn không dừng lại.
Họ vẫn cứ tiến tới- từ phía nhà máy trông rất rõ- chủ tây nấp sau giậu sắt từ từ xuất hiện trên bục. Lại nghe thấy tiếng thanh tra Le Petit :
-Không nói đùa, lệnh là lệnh, súng đã lên đạn- chúng bay không chịu giải tán, tao ra lệnh bắn.
Như để hỗ trợ lệnh ban ra – thanh tra tây lên đạn súng lục. Huyện quan thông dịch lệnh thanh tra cho đoàn biểu tình. Và lúc đó, vài tên lính tập bị đám đông xô đẩy, làm rơi lưỡi lê xuống đất- người hướng dẫn đòan biểu tình nhặt lên. Vụ lộn xộn xảy ra, khiến thanh tra tây bị thương nhẹ ở tay.
-Bọn này định làm gì? Đám đông biểu tình muốn gỉ? hay là chúng muốn tước khí giới lính khố xanh?
Chỉ cần một khẩu trong 50 khẩu súng rơi vào tay một trong số người biểu tình kia, tất nhiên sẽ dẫn tới cuộc bạo động đẫm máu. Đám biểu tình này có ý định chiếm xưởng máy không? Người ta vẫn thấy thợ thuyền tiếp tục công việc, như không có chuyện gì xảy ra, hoặc chúng tiếp tay với đám biểu tình bên ngoài?
Và đêm bi thảm ở Yên Bái được nhớ lại- lát nữa đây nhà máy có thể bị chiếm, thiêu hủy- người Pháp bị tàn sát, không chừng?
Thế là thanh tra tây nổ súng khai hỏa. Lính khố xanh bắn huà theo thầy.
Người ta nghe thấy tiếng kêu la hỏang hốt, người người ngã gục xấp mặt xuống đất. Có người chỉ chạy được mấy bước, rồi lăn ra, và cứ tiếp tục như thế- có người nhảy xuống ruộng ẩn náu, kẻ nhảy xuống hầm ẩn núp.
Vậy đảng phái nào đứng sau lưng đám biểu tình yên lặng này?

Người ta kể: Đảng Cách mạng Tân An Nam, Đảng Quốc gia Việt Nam, Đảng Thanh niên Cách mạng, Đảng An Nam Độc lập, và cuối cùng : đảng Cộng sản Việt Nam…
Tôi tóm tắt lại những gì nhà báo cấp tiến Louis Roubaud đã nhìn thấy tận mắt, đến tận nơi và được chứng kiến, rồi viết lại với tấm lòng yêu nước, thay cho dân An Nam bị thực dân Pháp bảo hộ.

Lượt đi, hướng dẫn viên đã thông báo, trước khi đi Ninh Bình- tài xế Năm sẽ đưa đi thăm Làng Sen, Làng Trù ( quê nội, ngoại Hồ Chủ tịch ) . Khi xe vào ranh giới huyện Hưng Nguyên-Nghệ An: quê anh hùng Phạm Hồng Thái giết hụt Merlin, toàn quyền Đông Dương, sang chủ toạ bữa tiệc, do một viên chức Pháp tổ chức tại khách sạn Victoria, vào 8 giờ sáng ngày 8 tháng 6 năm 1925.
Và xác anh hùng người An Nam được dân chúng Quảng Châu , chôn trên đồi Hoàng Hoa Cương, với hàng chữ khắc trên bia mộ:
… Câu chuyện này được ghi lại để vạn đại lưu truyền nhớ đến Phạm Hồng Thái. Bia này được dựng vào ngày lành tháng tốt: tháng giêng năm thứ 14 Cộng hòa Trung hoa Dân quốc. Bia đá do : Hồ Yên ở Phiên Ngung- tặng anh hùng Phạm Hồng Thái nước An Nam.
(HỒ YÊN, tên hiệu của một gia đình vong gia quí tộc Hồ Hán Dân, thời kỳ xảy ra cuộc ám sát-thì chức vụ khi ấy là tống đốc tỉnh Quảng Đông.)
Tôi đi lên phía trước xe, ngồi ghế xúp để dễ nhìn bao quát quang cảnh huyện Hưng Nguyên ( cũng như lần qua Thái Bình, tìm cho được huyện Quỳnh Phụ-nơi ăn chốn ở người bạn thân-Nguyễn Thế Hiển đã qua đới ở xã An Bài vào năm 2005 )
Nhà cửa huyện lỵ Nghệ An thuớng xây nhà trệt, mái thấp, trên mái chặn những bao cát, chống bão táp mưa sa hàng năm. Hàng chữ HUYỆN HƯNG NGUYÊN tô bằng xi măng từ rất lâu đời, đóng khung trên auvent trước trụ sở Ủy ban huyện. Bởi lẽ, tôi muốn quan sát thật kỹ, nơi đã sinh ra Phạm Hồng Thái, người anh hùng trên hai mươi bốn tuổi để lại phía sau người vợ trẻ hai mươi ,cùng đứa con thơ mới ra đời, lên đường mưu nghiệp lớn, chuyện không thành, bị bắn rồi lao mình xuống dòng Châu Giang trầm mình , sau thân xác được dân chúng Quảng Châu vớt lên ,và chôn cất cùng 72 liệt sĩ trên đồi Hoàng Hoa Cương được vạn đại lưu truyền người anh hùng nước An Nam :

“… và Hoàng Hoa Cương, nơi có mộ 72 liệt sĩ- trong đó có một Phạm Hồng Thái. Cây cối trên đồi xanh ngắt, rộng rãi - những khỏang xanh cần thiết cho người chết và người sống mà Hà Nội giờ đây không còn nữa. Đài kỷ niệm Tôn Trung Sơn, tòa nhà trắng kiểu Hoa Kỳ do Tưởng Giới Thạch xây có khắc ngôi sao Quốc dân đảng thật lạ, lại không bị Hồng vệ binh phá hủy.Tôi thấy dòng Châu Giang khi mới tới Quảng Châu. Nhìn dòng sông lớn chảy xiết, hai bên tòa nhà cao tầng đèn xanh đỏ lập loè, tôi tự hỏi không biết ngày xưa, khi việc lớn không thành, bị bắn tử thương, Phạm Hồng Thái đã lao mình xuống sông ở đoạn nào?
Được biết người thanh niên liệt sĩ ấy là chú của chồng tôi, ông (cán bộ) đối ngoại của Quảng Châu có vẻ rất nể trọng. Các bạn Trung quốc chỉ cho tôi khúc sông ở Sa Diện, nằm giữa đoạn đường đi từ nơi tôi ở- khách sạn Hoa Hạ - tới nơi chiêu đãi, khách sạn Thiên Nga Trắng.

Dòng sông lạnh buốt ngày nào, người thanh niên ấy bỏ lại quê hương một người vợ trẻ và đứa con trai mới ra đời. Vậy mà ngay dưới thời Tưởng Giới Thạch, có người dân Trung quốc đã vớt xác người Việt Nam hy sinh nơi đất khách, chôn cất tử tế… tôi đã sống nhiều năm bên cạnh bà Phạm HồngThái , bà ở nhờ căn phòng phụ của nhà chồng tôi khi ra Hà Nội. Một trong những phụ nữ hiền nhất mà tôi đã gặp. Cho tới lúc đó, bà vẫn nghèo và vất vả. Không biết bà đã được tới Quảng Châu thăm mộ người chồng mà bà đã mất từ lúc mới hơn hai mươi tuổi chưa? Giờ đây nhìn ngôi mộ cô đơn của bà ở Bất Bạt, tôi cứ nghĩ thật lạ, hai con người gắn bó đến thế mà giờ đây họ ở hai phưong trời.
Dòng sông chảy xiết, tôi chợt nhớ tới khúc hát quen thuộc, mạnh mẽ thường được hát từ thời Cách mạng tháng Tám:


Kià sông Châu Giang còn lưu dấu máu thắm

của bao dân năm xưa cướp chính quyền

Lòng muốn nhân dân Quảng Châu

quyết chiến đấu cùng quân gian tham đang sẵn oai quyền


Lời hát thì đã cổ, nhưng điệu nhạc mãnh liệt vẫn như đang tuôn chảy với dòng sông tràn đây sức sống..”

(TẦM XUÂN- Đặng Anh Đào -sách đã dẫn)

Vậy thì, Phạm Hồng Thái không phải sinh ra ở Bắc kỳ, cũng không phải ném bom xong rồi nhảy xuống sông trầm mình như Louis Roubaud đã viết (sách đã dẫn) .Vậy là, phải cảm ơn tác giả Tầm Xuân , đã chỉnh lý sai sót gốc gác- anh hùng Phạm Hồng Thai bị bắn rồi mới lao xuống sông Châu Giang, và còn được biết thêm đời sống ẩn lặng rất anh hùng của người vợ.

Qua cầu Nghèn , tới huyện Can Lộc- Hà Tĩnh- nơi chúng tôi tới thăm Ngã ba Đồng Lộc - mộ mười nữ liệt sĩ giao thông vận tải hy sinh vì sự nghiệp giải phóng miền Nam- hàng chữ được khắc trên bia Đài kỷ niệm đầu tiên- trước khi vào Đài kỷ niệm chính ở Ngã ba- nằm trên đồi Trọ Voi thuộc xã Đồng Lộc.
Theo lời thuyết minh, mộ các cô thanh niên xung phong được chuyển đi chuyển lại tới ba lần, và trên mười năm nay mới chuyển hẳn về ngã ba này.
Tổ gồm mười liệt sĩ anh hùng, tôi đọc trên mộ bia mười cô-có ba cô Hồ Thị Phúc, Nguyễn Thị Nhỏ và Võ Thị Tần đều sinh năm 1944, và ít tuổi nhất là cô Võ Thị Hà sinh năm 1951, bị trúng bom Mỹ tử nạn đúng 16 giờ chiều ngày 21 tháng 7 năm 1968.
Chi riêng Ngã ba Đồng Lộc vào năm 1968- ước tính có tới gần ngàn lần bị ném bom và không dưới năm ngàn quả- trung bình 25/lần/tháng, mỗi ki lô mét vuông nơi đây hứng chịu ba quả bom tấn. Các cô bị bom vùi lấp dưới hố bom sâu như chiếc ao cạn- hồn trinh nữ không biết giờ đây còn phảng phất đâu đây, nơi cánh rừng tịch mịch, quạnh quẽ?
Lại ngắm hai cây bồ kết xanh tươi ở phía sau mộ - dăm bẩy câu văn vần khắc trên bia: … Ngày bom vùi tóc tai bết đất / Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được -của đồ Nghệ Vương Trọng.
Và, lại đưa máy ảnh lên chụp hố bom lớn như cái ao ở phía trước Đài kỷ niệm- dưới trũng cắm tấm biển ghi nơi trái bom đã ném xuống làm chết mười cô liệt sĩ giao thông.

Một số địa danh lướt nhanh : Cẩm Xuyên, Kỳ Anh…rồi lùi cũng rất nhanh về phía sau. Bây giờ trước mắt : Quảng Trạch-Quảng Bình, và chuẩn bị :

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá lá chen hoa .


Đó là thời Bà Huyện Thanh Quan tức cảnh sinh tình tới Đèo Ngang- và bây giờ đây, tôi sắp được nhìn thấy nơi đó- bỗng dưng nghe hướng dẫn viên thông báo:
- Sẽ không leo lên đường trên núi như Bà Huyện Thanh Quan khi xưa dừng chân làm thơ- bây giờ trên đó cũng xơ xác lắm, có gì thơ mộng đâu? Đi lên đỉnh nuí vừa xa, vừa tốn xăng dầu, mất thời gian- nên gia đình Nimbus thông cảm- anh Năm ơi, cho xe chạy đường dưới chân núi cho lẹ.
Thôi cũng đành vậy, giả thử cô Thu Vân San José hoặc Lê Duyên đang chu du Anh quốc, hỏi: thế anh chị đã leo lên Đèo Ngang chưa, vào lúc mấy giờ, ngày nào ,thời tiết ra sao- có biết chỗ nào bà huyện Thanh Quan đã dừng chân- từ trên núi ngắm biển rộng sông dài tức cảnh ngâm nga:.. bước tới Đèo Ngang bóng xế tà... … thì cũng đành ba hoa xích thố, này nhé Bà Huyện lên đèo thì trời ngả về chiều, khoảng bốn, năm giờ gì đó- cô Lê Duyên đang ngồi uống trà sữa, ăn bánh ngọt, theo đúng lệ dân xứ sương mù- còn Thu Vân đang dạy nhạc đám học trò Thung lũng hoa vàng- anh chị đang đứng đây nhìn trời, mây, sông, biển- lại chẳng có một câu vè nào ra khỏi miệng? Và bây giờ đèo Ngang vẫn còn cây chen đá, và chẳng còn nhìn thấy cành lá nào chen hoa? Không lực Mỹ đã cày xới đất này, thả bom bi, bom nổ, bom chùm, bom khai quang… làm gì còn hoa tươi tốt nở trên cành!?
Nói thì nói vậy - cho người ở xa nghe lọt lỗ tai thôi- vậy ba bông hoa nhỏ xíu có hai cánh đỏ chót mọc tách lên từ một kẽ đá rất nhỏ từ ta luy đá hoa cương Ngã ba Đồng Lộc, thì phải giải thích sao đây?
- 11 giờ trưa đến Bố Trạch. Và phóng tầm mắt nhìn ra biển - chẳng biết Cao Lao Hạ nằm chỗ mô, nơi sinh ra Lưu Trọng Lư-nhà thơ tiền chiến, tác giả : con nai vàng ngơ ngác / đạp trên lá vàng khô / . Có người nhận định tác thiệt con nai vàng ngơ ngác ở xứ Phù Tang -chứ không đạp tà tà trên đỉnh Đèo Ngang đâu- rất dễ bị bé cái lầm !
- 11giờ 15 trưa: thị trấn Hoàn Lão- tên nghe hay chi lạ- tôi chỉ mới được nghe cải lão hoàn đồng , chưa hề nghe địa danh Hoàn Lão. Liệu địa danh này có ý nghĩa ẩn chìm nào chăng? Chẳng hạn Tu Bông -Khánh Hòa, có kẻ cho rằng quan công sứ từng thốt ra cửa miệng : tout va bon!

Lại được nhìn bảng chỉ dẫn lối vào động Phong Nha-Kẻ Bàng.- cách đây khoảng 40 cây số, được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới đã được bốn năm. Và phóng viên viên báo Sài gon -giải phóng so sánh:

“…Bốn năm chẳng là gì với sự kiến tạo 400 triệu năm của di sản này. Tuy nhiên trong bốn năm của thời đại bây giờ được tính bằng vàng từng giây từng phút. Bốn năm đủ để con người làm khối việc nhưng ở vùng đất này chuyện đất đai, quy hoạch, đều căn cứ vào hai chữ nhờ trời. Rất lạ!”

( MINH PHONG
- báo Sài gòn- giải phóng - năm 2006.)

Vậy lạ như thế nào, nhà báo kể rằng ở Phong Nha-Kẻ Bàng đang có phong trào bán đất sang tay. Dân chúng xã Sơn Trạch đang cất lên hàng trăm căn nhà tạm, lợp mái lá không vách, nhà chỉ có mái, trống huơ, trống hoác- họ mong đợi sau khi quy hoạch sẽ bán đất giá cao- rồi lại nghe tin đồn sắp có đường mở rộng từ đuờng Hồ Chí Minh vào tận Phong Nha-Kẻ Bàng.
Nhìn một thủy đài to đùng được dựng lên bên bờ sông Son, tốn hàng bốn tỷ đồng- nay trở thành đồ phế thải- dân chúng đặt tên TRÁI BẦU KHÔ.
Rồi đến dự án du lịch sinh thái có diện tích khỏang 50 héc ta của Công ty Phát triển văn minh đô thị, sau mấy năm khởi công, nay chỉ còn lại cây trụ CỘT ĐÁ HỒ ĐỒ mọc lên sừng sững ngắm trời mây, sông nước bên bờ sông Son. Thân cột đá như thân cau, dây trầu sắt quấn quanh lên tới ngọn- trên đỉnh có bốn nhánh lá sắt như canh bom.
Còn trung tâm du lịch sinh thái có những toa lét cảm ứng, khách giơ tay vào bồn, nước tự độngxả, rút ra tự động tắt- giữa núi rừng hoang vu , rất it khách. Công việc làm của một số nhân viên là bán vé lẻ cho du khách thăm hang động mà thôi . Dân chúng đặt vè mang tính chất phúng thích chính trị :

Phong Nha có trái bầu khô
Có cây cột đá hồ đồ mọc lên


Hướng dẫn viên có lời bình:
-Nhờ đọc phóng sự phóng viên báo Sài gòn, cháu mới được mở rộng tầm mắt- để mỗi lần đưa khách vào đây mới biết trả lời tại sao lại vậy?

- 14 giờ đúng đến cầu Hiền Lương- và kia là sông Bến Hải lịch sử có đôi dòng.
Chúng tôi xuống xe, trời nắng như lửa đốy xém mặt mày- vội chạy tới chụp ảnh cầu Hiền Lương phục chế, cầu này chỉ để khách đi bộ , còn cầu mới xe qua lại rầm rầm. Chú Ba trong nhóm ông Đặng phát biểu khơi khơi :
-Cầu phục chế là cầu mới - còn cầu mới xây là cầu mới làm lại – tôi piết thật mà!
Chẳng thấy ai ngỏ lời tranh cãi ăn thua đủ với chú Ba, có lẽ nói ngang ba làng cãi không lại .
-Cầu phục chế là cầu Hiền Lương cũ-mới - còn cầu Hiền Lương mới mà chúng ta sắp đi qua là cầu Hiền Lương mới-mới - tôi nói với ông Đặng vậy.
Người cười lớn tiếng nhất : hướng dẫn viên Tua.
Mặt trước cầu cũ phục chế mới ở hướng bờ bắc- một bảng lớn sơn xanh, chữ trắng ghi:

PHỤC CHẾ CẦU HIỀN LƯƠNG
XÂY DỰNG NĂM 1952-
CHIỀU DÀI: 8M / RỘNG : 3,28M

- Cầu Hiền Lương cũ có 894 miếng ván ngang lót mặt cầu-nay phục chế còn 873 hay 874 miếng-tơi lấy sổ tay ghi đúng vậy.
Qua cầu sang hướng bờ nam đến Cồn Tiên –khu DMZ- khách phuơng tây dừng lại chụp ảnh, quan sát, ghi chép, quay phim, đi bộ ngắm cảnh- có người còn tìm một chỗ vắng vẻ, đứng nhìn ra xa đang suy ngẫm điều gì đó rất mông lung. Dieu seul le sait! (Có Trời mới biết!)

- 14 giờ 5 chiều đến Gio Linh-Quảng Trị. Tôi hát khe khẽ nhạc điệu ca khúc Bà mẹ Gio Linh- Phạm Duy,thời kháng chiến đi xa hơn nửa thế kỷ. Bây giờ đây, tôi đặt chân lên mảnh đất máu loang thẫm đỏ -mầu đất nâu đen.

- 6 giờ chiều, bác tài đậu lại châm dầu tại Trạm xăng dầu Ngự Bình-Huế. Mọi người bước xuống xe đi bộ thư giãn, và có vị lại thích đi xa hơn toa-lét, vào bụi rậm tưới cây, hoa lá đất Thần kinh. Sẽ không đi đuờng hầm nữa, lần này leo đèo Hải Vân để bà con, cô bác ngắm Hải Vân quan và đường đèo rồng rắn thật đẹp và cũng thật hiểm nghèo. Tới đỉnh trời tối sập, chụp dăm pô cũng chỉ cho có- chẳng biết hiệu quả ra sao- chỉ được thoải mái là không bị hàng rong bám quanh chèo kéo mua hàng như ban ngay.

- 19 giờ 30 tối mịt mờ đến Vĩnh Điện-Quảng Nam –nhìn sang hai bên đường xem có tìm được quán cà phê của nhạc sĩ Đynh Trầm Ca? (nhất định xài Y dài -khác Trần Huiền Ân-Tuy Hoà ưa thay Y dài bằng I ngắn ) .Nhạc sĩ vừa in nhạc vừa in thơ, sau bao năm trụ tại thành phố Bác, gom góp ít của nả, dắt vợ con về quê- bán quán kế sinh nhai thường nhật. Tự hỏi thôi, anh có vợ rồi- vợ chính thức đầu gối tay ấp hẳn không phải cô chủ tiệm may Hà Lam-Thăng Bình- rất xinh gái xưa kia- nay đang cầm kéo cắt may dưới ánh đèn huỳnh quang – cửa hàng cô đối diện quán cà phê nhạc- nhớ thuở dậy thì làm chết bao chàng trai say đắm!

Có một lần đi đường Hồ Chí Minh chạy thẳng ra Huế, qua đèo Lò Xo, ta luy vách núi chân đèo Ngọc Linh đổ ập xuống đường- và thợ làm đường tư vấn-không thể ra Huế- bởi A Roòng đã bị lấp đường, vậy hãy qua Khâm Đức đổ xăng, men tỉnh lộ Hiệp Đức-Quế Sơn ra Thăng Bình, Đà Nẵng , sau cùng cũng tới Huế.

Chúng tôi tới Hà Lam thì tối mịt. Lái xe Vân thấy bên đường Hà Lam có quán cà phê sáng đèn, bác tài gợi ý vào ăn mì Quảng dằn bụng, đi tiếp Bà Nà ngủ đêm, sáng sau leo núi Bạch Mã, ăn trưa Huế, 6 giờ tối về Nha Trang, hôm sau trở về Sài Gòn.
Ba chúng tôi vào quán cà phê, chủ trạc bốn mươi ngồi chung bàn hỏi chuyện từng khách. Nhìn tôi, ông quyết đoán: cụ trẻ dáng nghệ sĩ tợn - thế là ông đem chuyện cô chủ Hà Lam kể vanh vách.
-Nào có nghe danh nhạc sĩ-nhà báo-nhà giáo Bên Trời Sao Sáng chưa? Ông ta chỉ hớp đôi mắt cô ta một lần ,sáng tác được ngay ca khúc Thu Lam tuyệt hay. Mà không phải chỉ hai ba nhạc sĩ mê đâu nghe, còn dăm chàng nữa ,nhận được cái liếc âu yếm ban đầu ,sau đều làm nên sự nghiệp cả.
Ông lại kể tiếp đất này dữ lắm, lính Quốc gia sợ mặt trận này hết biết, đất này nhuộm máu chiến sĩ hai phía chảy loang cánh ngập đồng lúa đỏ Hà Lam.
Tôi ghi nhận- gọi trả tiến: ba ly cà phê đá, ba bát mì Quảng -chưa dứt tờ giấy bạc mệnh giá năm chục nghìn!
-Ôi sao lại khổ thế này, chưa thấy Phố Cổ mà chỉ gặp Phố Khổ thôi!
Ông Thành than như bọng- bác tài không thuộc đường, trời tối mịt mờ-đường Cửa Đại dài hun hút, đen đường chỗ sáng, chỗ lu- chẳng biết khách sạn Green Field nằm chỗ chỗ khó khiếm rứa !
Hướng dẫn viên xuống hỏi đường, người này chỉ lối này, bác tài tưởng chỉ đúng hăm hở cảm ơn. Xe chạy mãi, hết đường nhựa sang đường đất, vậy lạc đường thật rồi.
Anh Năm đậu xe lại- phụ xe chạy vào một biệt thự gần đó, hỏi chủ nhà cho chắc ăn- vậy là đã đi lạc khoảng hai chục cây số- xe trở đầu chạy thẳng hướng biển Hội An.
Đèn đường, đèn nhà sáng choang, trước mặt bây giờ mới đúng khách sạn hai sao Green Field - bữa cơm tối nay dở mấy cũng ngon miệng- ai cũng đói bụng- nhìn đồng hồ đã 9 giờ đêm.
Khách sạn hai sao đúng tiêu chuẩn, phòng ốc hiện đại, hồ bơi nước xanh lơ mát mắt, giường êm, nệm trắng, lại có vài bông cẩm chướng trải trên đầu giường như chào đón cô dâu, chú rể- thật sự giờ này được gỉải tỏa nỗi khổ tìm phố cổ- mình tôi uống cà phê đen thơm lựng , rung nhịp chân nghe bản Greenfield, sao hay đến vậy !




...CÒN TIẾP...









© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản tác giả gởi từ Sài Gòn ngày 03.10.2008.


. Đăng tải lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.