ĐỒNG MÔN
TRẦN HUY THUẬN
5. Trường Đời – Vận Người!
Hôm ấy vừa bắt đầu tiết học thứ hai. Bỗng dưng, mấy cảnh binh do một thầy trên văn phòng dẫn xuống, xuất hiện đột ngột trước lớp, làm chúng tôi hoảng hồn! Sau khi hai thày trao đổi gì đó với nhau, ba người đàn ông mặc sắc phục cảnh binh, tiến thẳng vào trong lớp. Đến chỗ bạn Trần Văn Bình – một học sinh lớn tuổi nhất lớp, họ dừng lại. Chúng tôi hồi hộp theo dõi từng hành vi của mấy người "khách không mời mà đến". Nhưng khi thấy Bình bị trói, dẫn ra khỏi lớp, thì dường như mọi người chúng tôi đều đã đoán được nguyên cớ! Mới hôm qua, trong giờ học nhạc, thầy giáo có nêu vấn đề: mỗi học sinh hát một bài mà mình ưa thích. Mọi người hào hứng hưởng ứng. Bạn hát bài này, bạn hát bài kia, vui nhộn lắm! Khi đến lượt mình, Bình thưa với thầy:
- Dạ thưa thầy, con chỉ nhớ mấy bài hát "Kháng chiến" thôi, có được hát không ạ?!.
Đương nhiên là thầy giáo đồng ý. Vậy là Bình hát, càng hát càng bốc, càng bốc càng hăng; làm không khí lớp học sôi sục hẳn lên.
"Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc!..."
Đa số chúng tôi không dám hòa theo, nhưng cảm phục và khoái chí lắm! Trong mắt mỗi chúng tôi lúc ấy, Bình là một thần tượng vừa lớn lao vừa gần gũi, lại rất đỗi thân thương!
♣♣
Chuyên trên xẩy ra vào năm cuối cùng của thời kỳ Pháp tạm chiếm, chỉ mấy tháng trước khi Nam Định được giải phóng!
Không khí mừng chiến thắng tràn ngập đường phố, tràn ngập sân trường, tràn ngập tất cả các lớp học sau hòa bình, khiến chúng tôi không còn nhớ gì đến thần tượng của mình, Bình – người bạn đồng môn bị chính quyền cũ bắt giữ ngày nào!.. Phải mấy tháng sau, mọi người mới biết Bình đã bỏ học. Chúng tôi đoán già đoán non, chắc bây giờ Bình đang đảm trách một công tác gì đó của cách mạng! Một người trẻ tuổi mà gan dạ đến thế cơ mà!..
Cuộc sống cứ thế cuốn đi với biết bao sự kiện mới mẻ. Cùng với sự đổi thay chung, cá nhân mỗi chúng tôi cũng đã đổi thay. Có người tiếp tục con đường học hành, có kẻ phải lặng lẽ rẽ ngang, tìm công việc kiếm sống. Rồi có người trở thành nhà quản lý, nhà lãnh đạo,... nhưng cũng có bạn suốt đời trung thành với bộ áo quần công nhân, xám đen dầu mỡ! Thậm trí có bạn đén tuổi ngoài sáu mươi, vẫn lận đận chuyện áo cơm!.. Buổi họp mặt đồng môn đầu tiên, tổ chức ở nhà một bạn, có khoảng hơn hai chục thành viên về dự. Mới xa trường ba chục năm, mà gặp lại nhau đã thấy có nhiều đổi khác. Mỗi người một tâm sự, mỗi người một nghề nghiệp, mỗi người một hoàn cảnh sống,... Nhưng bất ngờ nhất, lại là anh chàng già nhất lớp, thần tượng ngày nào của chúng tôi: Trần Văn Bình! Trong khi chúng tôi vồ vập ôm lấy nhau, mừng vui khôn xiết, mỗi khi nhân ra một người bạn học cũ; thì có một người cứ ngồi lặng lẽ phía cuối căn buồng. Anh có khuôn mặt vuông vức và dáng người chắc nịch, với nước da tai tái mầu tro,... Trông quen lắm, nhất là đôi mắt – vâng đôi mắt sáng quắc, rất giống một người!.. Bống ai đó reo lên:
- Bình! Trần Văn Bình!..
Vâng! Người có đôi mắt sáng quắc không thể lẫn vào đâu được ấy, chính là Trần Văn Bình, thần tượng của chúng tôi thưở học trò! Chúng tôi hỏi anh đi đâu, làm gì trong bằng ấy năm trời mà nay mới gặp? Anh khẽ mỉm cười:
- Mình chả đi đâu cả! Mình vẫn sống ở đất Nam Định này suốt từ bấy đến nay. Làm công nhân đốt lò hơi tại nhà máy Chuối (tên gọi dân giã của nhà máy thực phẩm xuất khẩu Nam Định những năm 60 thế kỷ trước).
Thế đấy, thần tượng Trần văn Bình, một học sinh bị cảnh binh chính quyền cũ bắt vì có những hoạt động chống đối, lại chỉ là công nhân đốt lò hơi nhà máy chuối? Không thể tin được! Nhưng, đấy lại hoàn toàn là sự thật!..
♣♣
... Mãi sau này, trong lần dự đám ma một vị nguyên phó chủ tịch tỉnh, có một bà hỏi tôi: hình như anh có chơi với anh Trần văn Bình, công nhân máy Chuối? Tôi ngạc nhiên nhìn bà. Bà giải thích, tôi nhận ra anh, vì hôm trước có gặp anh ở lễ an táng anh Bình. Rồi bà thở dài:
- Khổ thân anh ấy! Chết đột ngột, chẳng kịp trối trăng gì. Đến giấy tờ chứng nhận có hoạt động trong kháng chiến, bị địch bắt, cũng chẳng biết để đâu! Các anh là bạn cũ, các anh nên giúp chị ấy và các cháu xác minh lại cho vong linh anh Bình được mát mẻ nơi chín suối! Thế ra bà cũng là một trong số những thanh niên Nam Định thời đó, có tham gia hoạt động nội thành!
Tôi nói với bà:
- Chị ơi! Tôi là bạn anh Bình thật, nhưng tôi đâu có hoạt động kháng chiến? Chỉ biết, biết rất rõ việc cảnh binh địch bắt anh tại lớp học thôi. Biết có thế thì giúp gì được hở chị? Người đàn bà im lặng. Không biết chị có nghe rõ điều tôi trình bầy, hay chị đang nghĩ về một vấn đề khác, về một thân phận khác; một thân phận không hoàn toàn giống như Trần Văn Bình, nhưng cũng vô danh, hư ảo như thần tượng một thời của tụi học trò chúng tôi?!.
- Chắc là phải đi tìm những người khác! Những người khác! Nhưng những người khác nào? Người không có vị trí xã hội như chị, như tôi, thì có chứng thực cũng vô giá trị; kẻ lên ngồi ghế cao xa, tầm nhìn lại bị che khuất, hẳn là không thể thấy được những thân phận mong manh như Bình, như nhiều người chúng ta? Tìm đâu? Vâng, tìm đâu?!.
Ôi! Trường Đời – Mệnh Người! Không biết đâu mà lường!...
Bất giác, đám nhạc hiếu cử bài "hồn tử sỹ" não nùng, làm tôi bừng tỉnh! Đám tang vị lãnh đạo tỉnh đã tới hồi làm lễ truy điệu! Như một cái máy, tôi làm theo mọi người: hơi cúi đầu, mặc niệm vong linh người đã khuất!
Đã người thiên cổ ai ngờ
Người năm xưa ấy, hồn giờ nơi đâu?!.
Vâng! ... người năm xưa ấy, Trần Văn Bình ơi, hồn bạn giờ nơi đâu???
6. Định "Mít"
"Mít" là biệt hiệu bạn đồng môn đặt cho Định, bởi ngày bé, Định béo tốt như cái hình người lô-gô của hãng xăm lốp xe "Mít-sơ-lanh"!
Định "mít" nhập ngũ ngay sau Tết Mậu Thân. Theo chính sách thì đáng ra hắn chưa bị "gọi động viên" đợt này, vì trong gia đình đã có Trần Văn Tuấn, em trai út đang tại ngũ, lại đang có mặt ở chiến trường. Nhưng người ta vẫn "chiếu cố" cho hắn đi, với nhiều lý do. Thứ nhất là sau chiến dịch Mậu Thân, quân đội ta rất cần bổ xung lực lượng; thứ hai, trong cuộc họp tổng kết năm vừa rồi, hắn lại có ý thọc mạch về khuyết điểm của giám đốc – điều cấm kị ở cái xí nghiệp này – Cần phải nghiêm trị để làm gương cho kẻ khác! Thứ ba, người ta đang muốn tiếp nhận một "nhân tố mới", con cháu một vị có chức sắc ở tỉnh, mà chỉ có vị trí nhân viên phòng kế hoạch Định đang đảm trách, là thích hợp hơn cả!
Khi Định vào đến chiến trường Trị Thiên, thì đoàn quay phim tài liệu của Trần Văn Thủy, anh bạn cùng lớp, cũng vừa qua đấy. Và thật may mắn cho anh chàng tân binh này là chú em út bặt tin bấy nay, lại cũng đang có mặt tại gần nơi Định đóng chốt! Ít lâu sau, ngay giữa Trường Sơn khói lửa, hai anh em đã gặp nhau, ôm nhau nghẹn ngào mà nước mắt chảy vào trong!..
Đó là những ngày gian nan nhất của bộ đội Trường Sơn. Bởi vì, sau đòn bất ngờ Mậu Thân gây choáng váng cho địch, thì thời gian này là lúc đối phương lùng sục, càn quét, phục thù! Một câu ca mà bộ đội ta thường hát đùa lúc ấy: "Tiến lên nương rẫy đồng bào/ Củ khoai củ sắn – củ nào cũng sơi!" , đủ nói lên tất cả thực trạng chiến trường khốc liệt này những năm cuối thập niên sáu mươi, đầu thập niên bẩy mươi!
Bộ đội đói! Nhưng đói chưa phải là tất cả. chỉ một chút khói anh nuôi sơ hở để thoát lên trời; chỉ một mẩu thuốc là Trường Sơn ai đó vô ý đánh rơi dọc đường hành quân;... là có khi cả đơn vị bị ăn đòn pháo kích tơi bời từ phía địch!
Nơi đơn vị Định đóng chốt đã nhiều lần gặp phải chuyện đó. Nặng nề nhất là lần trân địa bị lộ, máy bay đối phương đến thả không biết bao nhiêu là tấn bom các loại. Ai cũng tưởng, phiên hiệu của đơn vị này chắc chắn đã bị "xóa sổ"! Được tin, Trần Văn Tuấn đã xin thủ trưởng, lặn lội sang tìm anh – với hy vọng còn được thấy xác người anh trai yêu quý! Nhưng Định "mít" không chết, mà chết người em ruột của hắn – Trần Văn Tuấn! em đã trúng thương đạn pháo của địch, ngay trên đường đến chỗ anh! Thật trớ trêu! Thật đau lòng! Và chính hai bàn tay của Định đã phải cùng đồng đội đào hố chôn em – liệt sỹ thứ hai của gia đình, hy sinh cho Tổ Quốc, cho sự nghiệp cao cả của Cách Mạng!
Định còn chiến đấu ở chiến trường đến năm 1974.
Ngày chuyển ngành, về đến địa đầu thành phố quê hương, Hắn phải nán lại phía ngoại ô, đợi trời tối hẳn, mới vác "ba lô con cóc, anh đi em khóc", lững thững bước bộ về nhà! Tại sao "Mít" phải trở về thầm lặng như thế? Thì ra hắn ngượng với "bộ cánh" hắn mặc trên người, một bộ quân phục rách tả tơi! Và cái tính "sỹ diện" tiểu tư sản lâu nay dấu biệt, đã bất ngờ... thòi cái "đuôi" mốc thếch của nó ra!
Đảng ủy và Giám đốc xí nghiệp đã long trọng đón hắn trở lại. Cái ghế nhân viên phòng kế hoạch đã có chủ mới từ ngày Định nhập ngũ, nên lãnh đạo xí nghiệp định xếp anh "cựu binh" này xuống trực tiếp sản xuất – tức là làm công nhân, để tạo môi trường rèn luyện cho hắn? Nhưng cũng rất may, đấy chỉ là ý định; bởi sau sáu năm ở chiến trường ác liệt, cái thằng cựu binh này làm sao còn đầy đủ sức lực nữa để mà "rèn luyện"! Vâng, người ta đã nghĩ lại, Định được trở về làm công việc cũ, công việc trước khi hắn nhập ngũ – nhân viên thống kê phòng kế hoạch xí nghiệp. Cùng với công việc, người ta cũng cho hắn trở lại hưởng mức lương trước đây: 46 đồng. Như vậy là 70 tháng rời xí nghiệp, vào chiến đấu trong "chiến trường B", hắn đã mất béng 700 đồng (bằng 15 tháng lương), vì lẽ, trong thời gian tại ngũ, hắn chỉ được hưởng phụ cấp hạ sỹ quan (6 đồng/ tháng) cộng với 30 đồng người ta đưa cho vợ hắn mỗi tháng, để nuôi hai đứa con!
Cuộc sống lại tiếp tục quay theo cái đà vốn có của nó, thủng thẳng, chắc chắn, lặng lẽ, không một chút ồn ào - như bản chất con người hắn; như trên đời này, chẳng có điều gì là quan trọng cả!...
7. Du Đen
Du có nước da đen không phải vì anh làm ngoài mỏ than lâu năm, mà từ nhỏ đã như vậy. Thuở học trường Trung học Nguyễn Khuyến, Du là người hoạt động thể dục thể thao nổi tiếng. Du chơi rất nhiều môn: xà đơn, xà kép, bóng rổ, bóng đá,... Năm 1954, Nam Định được giải phóng, chúng tôi đã đi xem anh chơi "Đấm Bốc" tại nhà hát Nhân Dân thành phố! Tính gan lì, dáng to thô và chắc nịch, Du di chuyển chậm, ít ra đòn, nhưng đã vung tay thì cú đấm nào cũng như búa bổ! Du chịu đòn tốt và rất ít khi lùi. Đối phương đánh với anh chắc là rất căng thẳng thần kinh!
Tôi biết anh lái xe bò tót (trọng tải 25 tấn) ở mỏ Quảng Ninh từ lâu, nhưng nhiều lần đi công tác qua các mỏ, tôi không hề được gặp anh. Mãi tới năm 1973, anh chuyển về lái xe cho Sở Điện III, chúng tôi mới gặp lại nhau. Năm ấy, khi bạn bè chúng tôi đều đã vợ con đầy đủ, thì Du Đen vẫn chưa có mảnh tình nào "vắt vai"! Anh kể chuyện, ở mỏ lâu quá, mãi mới xin được về quê hương cho gần gia đình. Khi đưa giấy thôi trả lương trình Tổ chức, mọi người trố cả mắt: lương anh tới 158đ, nghĩa là gấp gần hai lương giám đốc Sở! Du bảo: đã nhằm nhò gì? Những khi mình đi mỏ, mỗi ngày còn được tới mười đồng cơ! Mà mình nói để Thuận biết, thời ở Mỏ, hầu như mình không ăn đến lương đâu. Đi làm cho chỗ nào thì chỗ ấy cho ăn. Bao nhiêu lương gửi Ngân hàng hết; nên khi chuyển về Nam Định, trong sổ tiết kiệm mình có tới hai mươi tám ngàn đồng! Bằng hai mươi tám năm lương của giám đốc Sở đấy! Mà so sánh thế, Thuận chắc vẫn chưa hình dung được? Chỉ cần hai ngàn rưởi thôi, là mình đã có thể chuộc lại căn nhà 50 mét vuông mặt tiền phố Khách (nay gọi phố Hoàng Văn Thụ) đấy! Hồi đó, mẹ mình bán cho người ta có mấy trăm đồng bạc! Thấy mình từ Quảng Ninh trở về, người chủ mới thương tình nói: cậu đưa tôi hai ngàn rưởi, tôi cho chuộc lại, nếu không, tôi bán cho chú nhà trong, lấy ba ngàn rưởi? Ngu quá! Thế hệ chúng mình là thế hệ "ngu lâu", nên khi đó mặc dầu mình thừa tiền chuộc lại nhà mà vẫn không chuộc. Không những thừa tiền chuộc, mà còn dư tiền để mua thêm mấy căn nhà phố Trần Hưng Đạo ấy chứ - mỗi căn bây giờ bét ra cũng vài ba tỉ đồng! Không chuộc! Chấp nhận tá túc trong cái gian hẹp phía trong, còn tiền để yên trong quý tiết kiệm – "Tiết kiệm là yêu nước" mà!
- Thế số tiền tiết kiệm ấy rồi ra sao? Tôi hỏi Du.
- Còn ra sao nữa! Sau mấy lần "đổi tiền", chỉ còn đủ tiền cưới vợ; cưới xong vài năm là trắng tay! Thuận thấy đấy, cuối cùng mình phải bán nốt chỗ ở còn lại để ra mua căn nhà trong ngõ này cho vợ con sống! Ngôi nhà của cha ông để lại, phần thì bị bom Mỹ phá, phần thì Mẹ túng quá bán rẻ đi, phần thì bản thân mình túng, bán nốt. Thế là hết! Hết cả một gia tài!..Bây giờ Thuận mua nhà về đây, thế là cuối đời, hai chúng mình lại gần nhau!
Vâng! Con tôi mới bỏ tiền mua cho vợ chồng già chúng tôi một căn nhà hai tầng bên bờ sông Đào, ngay gần ngõ vào nhà Du Đen. Từ nay, hàng ngày chúng tôi có thể đi bộ đến chơi nhau. Khi hay tin tôi có nhà mới, không phải ở căn nhà Nhà nước cấp cho, nằm bên cái ngòi đang dần bị ô nhiễm vì nạn rác thải hai bên bờ, Vũ Trọng Tứ viết cho tôi: "Thế là đời mày đã từ ngòi ra sông rồi nhé!". Du bảo tôi, con người ta có "số" Thuận ạ! Như Thuận đấy, tuy có chuyện này chuyện khác thật, nhưng nói chung vẫn là số sướng. Còn số mình khổ thật! Mấy chục năm gắn bó cuộc đời trên các "ca-bin" xe tải, trên các cung đường... Anh không nói tiếp, nhưng là bạn bè với nhau, tôi hiểu. Du lấy vợ muộn, có con muộn. Đến nay vẫn chưa trông cậy gì được ở con; đã thế, thằng con trai có lần còn dùng gậy đánh cả hai vợ chồng anh. Chuyện này Du không kể với tôi , chắc vì thấy đau lòng quá, tôi nghe được từ ông hàng xóm của anh, người đã phải sang nhà Du can thiệp, nếu không chưa biết chuyện sẽ còn đi tới đâu! Chị vợ lại có chứng bệnh về thần kinh, đã từng nằm viện tâm thần một thời gian. Bây giờ hàng ngày, thi thoảng chị vẫn thể hiện những "cá tính" bất thường! Tối nay tôi đến chơi, Du hăng quá, bật một lúc cả hai bóng đèn. Từ trên gác lửng, chị kêu vọng xuống: Tắt bớt đèn đi, lấy đâu mà trả tiền điện! Du hơi ngượng, ừ ào: cái bà này!... Tôi vội đỡ lời: Đúng rồi, cần gì sáng thế, tắt một bóng đi ông ơi! Rồi mươi phút sau, tôi tế nhị rủ Du ra phố, đi dạo trên bờ đê sông Đào phía trước. Chị vợ Du lại nói vọng xuống:
- Ông nhớ cài then cửa phía ngoài, để khi về khỏi gọi tôi xuống mở!
Tôi nhìn đồng hồ, lúc ấy là bẩy giờ rưỡi tối! Du lại lẩm bẩm: "cái bà này!..". Qua khỏi con ngõ ngoằn ngoèo, ra đến ngoài đường Trần Nhân Tông, phố sá tấp nập người đi lại, Du nói: "Với mọi người, mỗi khi đi đâu, trở về nhà, đều nhận được không khí vui vẻ; còn mình, chỉ thấy toàn sự "vắng vẻ". Vắng vẻ ngay cả khi có đầy đủ vợ, con, anh em!...
Số Du khổ, không chỉ dừng ở đấy. Cậu em trai, hiện đang tá túc nhà vợ chồng anh, lại là một con nghiện; một kẻ bị vợ bỏ, không nơi nương tựa, không công ăn việc làm, không một đồng lương hưu! Biết làm sao? Số phận ép thế, chỉ có cách đành chấp nhận! Thanh thản chấp nhận thì cuộc sống đỡ thấy bất hạnh! Du bảo, hình như Đạo Phật dậy thế?!.
- Mà con người ta có số phận thật đấy Thuận ạ! Ra Quảng Ninh cùng với mình thời trai trẻ, còn có ba thằng bạn đồng môn nữa. Thằng Long thành đạt nhất, đã phấn đấu lên đến chức cục, vụ trưởng gì đó; nhưng bây giờ tay trắng. Tay trắng hoàn toàn Thuận ạ. Cậu ta dính vào chuyện "em ún" gì đó, thế là mất hết. Thời trước, chuyện trai gái nặng nề lắm, đâu có tùm lum, thoải mái như các "sếp" bây giờ! Long chính là người đã "đạo diễn" xin cho mình được đi học nghề lái ô-tô đấy! Ân nhân của mình đấy. Đời hắn đáng nhẽ sướng, hoá ra khổ hơn cả mình. Ngày còn ở Mỏ, có lần nó đã phải đi tù sáu tháng về tội sơ ý để mìn nổ chết người, chết hai cán bộ trung cấp thực tập! Lại thằng Lộc nữa, cũng lớp "đệ thất bê hai" với mình đấy, mình rủ nó ra lao động ở Quảng Ninh, hắn ra mấy tháng, thấy vất vả quá, không chịu được, bỏ về. Năm sau thi được vào đại học. Học xong, đi bộ đội. Đánh nhau chiếm Thành Cổ mấy lần không chết. lại chết ở trong rừng, khi bị địch đánh bật ra khỏi Thành Cổ! Đồng đội tìm thấy hắn năm cong queo trên chiếc "tăng" mắc giữa hai thân cây, không một vết đạn vào người. Thì ra hắn chết... đói! Cùng bỏ về với Lộc, còn cả thằng "Bin". Thằng này cũng đi bộ đội cùng đợt với thằng Định Mít đấy. Hai đứa đâu cũng gặp nhau trong chiến trường Thừa Thiên-Huế thì phải. Thằng Bin này cũng đã có giấy báo tử về nhà. Thế nhưng mấy năm sau thì nó về, lành nguyên! Trước khi về hưu, nó làm đến chức giám đốc Quốc doanh chiếu bóng tỉnh thì phải. Mình cũng mấy lần xung phong đòi đi bộ đội, nhưng chủ trương của trên là những lái xe tải 25 tấn trở lên phải ở nhà làm nhiệm vụ sản xuất, nên không được đi.
Chúng tôi tản bộ trên bờ đê con sông Quê hương, giống như hồi trẻ con, hồi còn cắp sách đến trường! Thành phố đang giờ "cúp" điện, trăng chưa đến tuần, cảnh vật trên đê mờ mờ, ảm đạm. Gió từ mặt sông thổi lên nhè nhẹ, mơn man trên khuôn mặt già nua của hai kẻ có tuổi đời ngoài thất thập. Mấy bà già đang đi bộ chào: Các cụ cũng đi tập ạ! Trời hôm nay tối, các cụ chú ý kẻo vấp ngã là khổ con cháu đấy! Du và tôi cùng đáp: Vâng! Chào các bà! Cám ơn các bà! – Thì ra trời tối, tuy các bà chẳng quen biết gì, vẫn nhận ra "hai cụ", chính vì mái đầu của tôi và Du, nhất là Du, tóc cậu ấy bạc như cước vậy!
- Nói đến ngã, hôm nọ Thuận có đến đưa ma thằng Dần không? Nó đi xe đạp từ trong ngõ ra, bị một thằng thanh niên đi xe máy tông phải, kéo lê tới hàng chục mét, chở tới bệnh viện thì chết. Mấy đứa thuê xe đưa Dần vào bệnh viện, đóng giả vai người nhà, lột hết cả nhẫn vàng với tiền trong ví của cậu ấy! Mãi sau vợ con mới biết. Còn cái thằng đi xe máy trốn mất tăm! Khổ thân thằng Dần!..
- Mình không đi đưa tang Dần được, vì hôm ấy đang dọn về nhà mới. Nhưng mình với Định Mít có đến viếng!
- Thuận thấy không? Số cả đấy! Số của Dần là như vậy. Bao năm ở chiến trường, bom đạn ngày đêm, có sao đâu?!.
Tôi không trả lời Du Đen, nhưng trong lòng thầm nghĩ, có lẽ Du nói đúng thật! Con người ta sinh ra, khéo đều có số phận!.. Có người vất vả cả đời, công nhân vẫn hoàn công nhân. Trái lại, có kẻ khai lý lich công nhân, mà suốt đời ngồi bàn giấy, hòn tên mũi đạn cũng chả biết, mà cứ thăng tiến vù vù, thăng tiến đến tận mây xanh! Người ta còn nói, ngay cái tên gọi cũng nói lên thân phận mỗi người. Như Du đấy, anh không chỉ đen ở nước da, mà cuộc đời, cũng thật nhiều nỗi đen đủi!..
Nhưng Du ơi, người xưa còn nói: "Đức năng thắng số" mà! Cho nên, thôi chúng mình cũng đừng nghĩ đến số má làm gì cho bận tâm, hãy sống nốt quãng đời còn lại, như đã từng sống, sao cho đức độ, sao cho là người "tử tế" – như một cái tên phim của thằng Thuỷ ấy, phải không Du?!. Tôi định nói thế với ông bạn đồng môn già, nhưng tự xét thấy không cần thiết. Hai đứa im lặng đi bên nhau cho đến lúc đèn đường bật sáng. Bóng chúng tôi ngả xuống mặt đê, kéo dài cho tới bờ bên kia, thì gấp khúc xuống !..
Đọc lại : Đồng Môn (kỳ 1)
© Tác giả giữ bản quyền.
.Tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi ngày 10.09.2008 từ Nam Định.
|