TRƯƠNG VĨNH KÝ


và TƯƠNG TÁC CỦA HIỀN TÀI





Hiển nhiên, mỗi mầm mống mới đều thoát thai trong môi trường cũ, mầm xanh non tơ nhú lên từ thân cổ thụ, kháng thể mới đột biến từ gien di truyền của sinh vật vốn có từ nguyên thủy. Nhân tài cũng xuất hiện từ đám đông bình thường.

Môi trường sinh ra nhân tài là đám đông. Có đám đông đồng thuận với nhân tài, ngược lại có đám đông hoài nghi nhân tài. Những nhân tài quân sự cứu nước thường sống trong môi trường đồng thuận như: Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Võ Nguyên Giáp…. Những nhân tài thuộc lãnh vực văn hóa, tư tưởng, thường bị đám đông hoài nghi. Ở đất nước mà lịch sử đầy biến cố,nhiều bi kịch, đương nhiên nhân tài được cấu trúc trong xã hội bi kich ấy. Xưa kia có Nguyễn Trãi, thế kỷ 19 có Cao Bá Quát, Trương Vĩnh Ký…Trương Vĩnh Ký gắn liền với lịch sử đương đại, nên còn tương tác từ nhiều phía.

Cuối thế kỷ 19, triều đình Việt Nam với chủ trương đóng cửa, phủ định Thiên Chúa giáo, giết ngay cả đồng bào mình vì khác tín ngưỡng, gây ra biết bao thảm cảnh .

Dù Trương Vĩnh Ký là con trai của một quan võ, chức lãnh binh dưới thời Minh Mạng nhưng Trương Vĩnh Ký phải trốn tránh khốn cùng, suốt thời niên thiếu, cuộc truy sát của quân lính triều đình . Oan nghiệt hơn nữa là Trương Vĩnh Ký chỉ đươc đi học và mở rộng kiến thức ở những trung tâm truyền giáo, trong các tu viện ở Cái Nhum, Pinalu, Penang. Đi học ở trường phi chính phủ, chính là điều kiện để Trương Vĩnh Ký phát triển tài trí, không bị cực đoan về dân tộc. Đồng thời trong môi trường xung khắc ác liệt là độ nóng cho mùa trái chín của tâm thức.

Cũng như thế, Nguyễn Trãi hấp thụ ở người cha tài trí Nguyễn Phi Khanh, còn dữ dội hơn nữa, thừa kế tâm thức của ông ngoại Trần Nguyên Đán, cả gan vượt qua luật lệ nhà Trần, bảo vệ cháu ngoại mình trong trứng nước. Lòng bao dung của Trần Nguyên Đán chỉ được tạo dựng từ tâm thức của hiền triết.

Phải chăng những bào thai thoát hiểm, lẽ ra đã bị hủy hoại từ kẻ thù cưc đoan, từ lễ giáo mông muôïi, ác độc, sẽ tương tác hình thành tâm thức của thiên tài?

Pétrus Ký sống thọ 61 tuổi, sinh năm 1837 và mất năm 1898, được đánh giá là một trong 18 vị bác học của thế giới ở thế kỷ 19. Trong tập "Bác học và người yêu nước của Đông Dương” Jean Bouchot đã viết: "Ta phải xem cuộc đời Oâng Trương Vĩnh Ký là một bài học và một tấm gương sáng, bởi vì ta thấy con người thuần Nam Ky (lẽ ra phải viết thuần Việt Nam, vi quan niệm của Jean Bouchot lúc bấy giờ Đông Dương có 5 nước) đã sánh kịp các nhà thông thái bậc nhất châu Aâu trong đủ mọi ngành khoa học”. Trương Vĩnh Ký nói và viết nhiều ngôn ngữ khác nhau, viết bằng mẫu tự Latinh ngôn ngữ Việt nam từ sách giáo khoa, bút ký đến tiểu thuyết; chép lại bằng chữ Quốc ngữ từ “Chinh phụ ngâm” đến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của cụ Nguyễn Đình Chiểu, truyền bá văn minh Việt Nam ra nước ngoài bằng những tác phẩm chữ Nôm dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Pháp

Trương Vĩnh Ký là nhà ngôn ngữ học,phân tích cấu trúc tiếng Việt Nam theo quan niệm ngôn ngữ học hiện đại; có nhiều quan niệm tiên tiến về ngữ học trùng hợp với Ferdinand de Saussure, Polivanov, Bloomfield. Ông Pierre Vieillard xác định Trương Vĩnh Ký nói thạo 15 sinh ngữ, cổ ngữ châu Aâu và 11 sinh ngữ châu Á. Khi biên khảo cuốn: "Khảo luận về sự tương đồng giữa các tiếng và chữ Á Đông”, ông được xếp vào hàng ngũ những nhà thông thái.

Trương Vĩnh Ký là người Việt Nam có tư duy của nhà bác học, có tri thức ngang tầm của thời đại khoa học thực nghiệm. Trương Vĩnh Ký tự chủ rất cao, từ chối làm quan, từ chối làm giàu, từ chối làm dân Tây (nhập quốc tịch Pháp). Trong thư gửi bác sĩ Chavanc tháng 10/1887, Pétrus Ký đã viết: "điều độc nhất mà tôi tiến đến là làm sao giúp ích, làm sao để thực hiện câu cách ngôn Latinh: ở với họ mà không lệ thuộc họ - đó là hy vọng của tôi và cũng là điều an ủi tôi”.

Những hành vi ấy là tâm thức của hiền triết phương Đông, xuất phát từ tâm linh Trương Vĩnh Ký tự khẳnh định mình trong bối cảnh éo le và khắc nghiệt của lịch sử, giữa môi trường hoài nghi ở cấp độ phủ định lẫn nhau. Chỉ với tâm thức của nhân tài, mới giúp Trương Vĩnh Ký vượt qua cạm bẫy của đám đông hoài nghi, kiên trì phục vụ dân tộc trong âm thầm đau đớn.

Lịch sử văn minh đã chứng tỏ nhân tài trong lãnh vực nào cũng cần thiết cho xã hội phát triển, có ảnh hưởng nhất định trong mỗi thành viên của cộng đồng. Tùy giai đọan mà nhân tài nào tương tác rõ nét và mạnh nhất.. Đất nước trong thời kỳ bị xâm lược, nhân tài chính trị và quân sự chi phối và nổi bật trước hết. Điều ấy dễ dẫn đến ngộ nhận chỉ có nhân tài chính tri là tuyệt đối đúng,nên xảy ra tệ nạn sùng bái cá nhân, dẫn đến độc đoán, chuyên quyền, gây ra nghịch cảnh, điêu đứng biết bao số phân khi không được lòng người cầm quyền. Vì cho mình đứng cao hơn những nhân tài ở các lãnh vực khác, nên ép buộc ai cũng phục tùng tuyệt đối để củng cố quyền lực..

Có thể hình dung nhân tài chính trị (lãnh tụ) là con cá đầu đàn của bầy cá,nó luôn đi trườc cả bày ,nhưng chưa chắc nó vượt nổi vũ môn để hóa long, lịch sử còn chứng minh phần lớn những con cá này về sau bi cả bầy lên án. Còn những nhân tài khác, trở thành hiền tài như mỗi con cá sẽ hóa rồng, dù bây giờ nó vẫn ở cùng đám đông, thậm chí còn bị ức hiếp. Đấy là những con cá đã hóa rồng: những hiền tài Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, và nhiều nữa trong thế kỷ19, 20 mà các thế hệ sau sẽ thống kê ngày càng đầy đủ hơn.

Tri thức, tài tri có thể ngộ nhận, còn tâm linh, tâm thức rất minh bạch bởi vì tâm thức thấy được nhiều thực tại khác nhau, thấy hết mạng lưới của vũ trụ, mỗi người tự trau dồi tâm thức sẽ tạo ra đám đông bao dung, nghĩa là môi trường đồng thuận với hiền tài mở rộng, không mù quáng lệ thuôc kẻ có quyền lực thiển cận.

Nên hiểu kiến thức bao gồm tri thức và tâm thức, lúc đó câu Latinh khắc trên mộ của Trương Vĩnh Ký: "kiến thức của con người có nó là nguồn sống” (kiến thức là nguồn sống của con người), mới thật sự là lời dạy của hiền tài.




trong NHỮNG CHỮ QUA CẦU TÂM LINH do Nhà X.B. Văn Học xuất bản- 2008.








© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả ngày 08.09.2008.

. TÁC PHẨM CỦA TRIỆU TỪ TRUYỀN CHỈ ĐĂNG TẢI TRÊN NEWVIETART.COM Ở NGOẠI QUỐC.