GIỜI CAO ĐẤT DÀY



CHƯƠNG I



Thuần đứng thẫn thờ trên con đê biển. ánh hoàng hôn chiều thu ráng lên một màu vàng ảm đạm. Qua một rừng tre ken dày như mắt lưới, là một rừng phi lao dài tít tắp vi vu hát bài ca muôn thuở của biển chiều. Bãi cát vàng ruộm từ chân rừng phi lao kéo dài xuôi thoải xuống tận mép biển. Bắt đầu từ đó khoảng vài trăm mét là bãi lầy biển cạn, nối tiếp là rừng sú vẹt xanh rì tít tắp mãi tận Cồn Đen. Xa xa dòng sông Diêm như một cô gái đang thì uốn cong eo lưng lựa mình qua vùng biển cạn trước khi tan vào biển cả. Ngoài khơi xa, một chiếc thuyền câu côi cút lửng lơ tròng trành như không lái. Vài con chim lạc bầy đang rướn bay về hướng núi Đồ Sơn... Thuần vẫn đứng như trút hồn vào không gian biển chiều tĩnh lặng. Thế mà đã mười lăm năm trôi qua... Cái ngày mà Thuần quyết định rời mảnh đất cất giữ gần một trăm ngôi mộ của mười đời họ hàng nội ngoại nhà Thuần; mười đời nhà Thuần đằm mình ở cái vùng biển cạn như con trâu đằm ruộng để sinh nhai, yêu nhau và làm khổ nhau. Lúc đó Thuần như cây sú vẹt bị trốc rễ khỏi bãi lầy biển cạn ném lên bờ, nước mắt chảy ra như máu. Mười lăm năm trôi dạt đất người, thời gian biến cải, giờ trở về mà sóng vẫn mãi rì rầm bài ca biển động.
Ở trong làng có tiếng chó sủa, Thuần như người hồn vừa nhập xác, xoay người hướng về phía tây... Chao ôi! Làng Bùi, cái làng quê hình chữ O khuyết, tưởng không có gì đáng nói, vậy mà bên trong cái chữ O khuyết đó chứa đựng biết bao là buồn vui, tủi hận. Chỉ riêng đời Thuần thôi, đời Thuần sống ở làng Bùi được mười lăm năm, đến hồi cải cách thì bỏ làng đi mà đã tưởng như chứa chất không nổi. Thuần nhớ biển, nhớ làng quá mà về. Thuần nhớ những chiều hè gió cồn nam xa sả thổi; rồi nhớ những đêm tháng hai, sương mù dày đặc, ánh đèn chai như sao sa ngoài Cồn Đen sát mép nước - ấy là đèn của dân làng đi bắt cá soi. Thuần nhớ những đêm trăng hè, cha con, anh em kéo nhau ra bãi thả diều, rồi về nhà bắc chõng tre ngoài sân nằm nghe tiếng sáo diều vi vu hát. Bài ca cố hương thủa ấu thơ dệt thành tấm áo ấm để Thuần khoác lên người giữ cho thân khỏi lạnh khi phiêu bạt đất khách, quê người. Mà thực ra Thuần cũng không còn nơi nào để dung thân nữa. Vợ chết, con cũng mất, chân tay thì què cụt, họ hàng biết ai còn, ai mất? Mà dù có còn họ cũng không dám nhận Thuần. Thuần là con thằng Quốc dân đảng - Việt gian bán nước; Thuần là một thằng hủi... chỉ ngần ấy Thuần cũng bị cộng đồng xua đuổi như một con chó dại. Nhưng Thuần phải về quê, về để làm bằng được một việc mà cả đời Thuần đau đáu, đó là cải cát, rồi gỡ cái dây trói giải oan cho cha và tìm bằng được cô Bi, ông Đội quyết trả thù.
Chiều tà bắn những tia nắng vàng èo ợt xuyên qua rặng tre, nhuộm vàng bãi cát. Trời sắp tối, Thuần phải tìm một chỗ nào trú qua đêm. Không còn nơi nào khác, ngoài cái rừng tre dày này sẽ là ngôi nhà đêm nay của Thuần. Dưới gốc tre là những bụi dứa gai, thân lớn như cây chuối, lâu năm chúng vồng lên, oằn xuống trông như những con rồng, tựa vào nhau, quấn vào nhau, kết lại thành những cái hang động. Nắng không xuyên qua được, nhưng mưa thì cái hang động này không thể che đỡ nổi. Thuần tìm được một cái hang lý tưởng, vơ lá phi lao trải dày kín nền cát làm giường, đặt cái bọc đồ xuống làm gối, ngả mình thả lỏng thần kinh sau mấy ngày đi bộ mệt mỏi.
Thuần sinh ra đúng vào cái đêm tháng chạp năm 1940, hồi đó cách mạng quê Thuần còn đen tối lắm. Chi bộ Việt Minh do ông Ro, cha Thuần làm bí thư đang họp bàn cách vận động nhân dân chống giặc Pháp bắt dân lấp cống Trà Linh, thì bọn Việt gian chỉ điểm; tất cả chi bộ bốn người đều bị chúng bắt được, trói đem ra bãi biển xử bắn. Bọn giặc Pháp bắt dân làng đào một cái hố sâu sáu mét, rộng sáu mét, dài cũng sáu mét, rồi đưa bốn đảng viên Đảng Cộng sản xếp hàng ngang trên mép hố. Dân cả tổng kéo ra đông lắm để xem bọn chúng làm gì được mấy ông Việt Minh. Cho đến khi mười họng súng của giặc giương lên chuẩn bị bóp cò, thì hàng trăm người, già có, trẻ có, đàn ông, đàn bà như một cơn thác lũ tràn lên, kết lại thành một bức tường che chắn cho họ. Mười họng súng không một chút nao núng. Loạt đạn thứ nhất mười một người ngã xuống, bức tường như bị sứt mẻ, nhưng không đổ. Loạt đạn thứ hai, mười người nữa ngã tiếp. Súng lại nổ và hàng chục người nữa đổ máu, cho đến khi cái hố sâu sáu mét chất đầy xác người, máu lênh láng thì bọn giặc hớn hở khoác súng về như vừa chơi xong một trận bóng đá.
Đêm ấy ông Ro ngoi lên từ cái đống xác đồng bào - bức tường che chở về để đón nhận đứa con trai chào đời vừa được một giờ. Ông ôm lấy cái bọc hài nhi đỏ hỏn, ấp vào má, ứa nước mắt mà nói:
- Đêm nay mẹ sinh ra con, dân làng Bùi sinh ra bố. Cố mà sống, lớn lên con ơi để giết hết lũ giặc, đền ơn đồng bào... Trao lại đứa con cho người vợ, rồi ông Ro gạt nước mắt ra đi. Đứa con gái lớn chưa đầy ba tuổi đưa cái bọc gói bốn củ khoai lang luộc cho cha. Lưỡng lự một lát, ông Ro đem lại giường vợ nằm: “ Em cố ăn để lấy sữa cho con bú”.
Ông Ro đi một mạch cho đến khi Thuần được gần sáu tuổi thì về, chỉ huy dân cả Tổng kéo lên huyện cướp Chính quyền. Cướp xong Chính quyền, ông Ro lại đi, lần này ông không đi lâu như lần trước, chỉ vài tuần rồi lại về và ở hầm bí mật ngay dưới gầm giường nhà mình. Thường thì đêm ông ngoi lên đi đâu đó, gần sáng lại về chui xuống hầm. Ngày ông sống như người âm, mà đêm ông sống như người dương vậy. Được một thời gian, nghi bọn chỉ điểm phát hiện được, ông Ro chuyển sang ở hầm nhà chú thím Cổn. Chú thím Cổn có bốn đứa con, hai trai, hai gái. Đứa con trai lớn nhất kém Thuần hai tuổi, đứa con gái nhỏ nhất mới có bốn tuổi.
Một hôm Thuần vừa đi vớt bèo về thì thấy bọn giặc Tây kéo đến nhà chú thím Cổn đông lắm. Thằng Tây mũi lõ, tóc quăn, da đỏ, lại cũng có thằng da đen có ba cái vạch nằm ngang mặt trông như mào con gà trọi, thằng nào súng cũng lăm lăm trong tay như muốn nuốt tươi đồng loại. Chúng trói chú thím Cổn vào cây mít trước sân nhà, rồi đưa bốn đứa con của chú thím ra xếp hàng trước mặt. Thằng quan một dí khẩu côn bát vào đầu chú Cổn, quát:
- Hàm, bí, mạt, nhà, mày, ở, đâu? Khai, mao!
Chú Cổn gườm gườm như muốn nhổ bọt vào mặt nó. Khẩu côn bát lại quay sang dí vào cằm thím Cổn:
- Khai, mao! Tao, bán, vỡ, sọ...
Thím Cổn liếc nhìn chú Cổn như muốn nói với chú rằng : “Dù có chết vợ chồng mình cũng đã thề suốt đời bảo vệ Đảng”.
Thằng Tây như đọc được ý chí sắt đá ở đôi mắt chú thím Cổn, nó hiểu mọi lời lẽ đối với chú thím Cổn đều vô ích. Nó quát bộ hạ lôi đứa con lớn của chú thím đến trước mặt, tuyên bố:
- Khai! Không, khai, tao, bán...
Im lặng. Và chưa ai kịp hiểu thằng quan một sẽ làm gì, bất ngờ một phát đạn từ trong họng khẩu côn bát nổ. Đứa con lớn của chú thím ngã vật xuống, máu ở ngực xối ra như chọc tiết lợn.
Thím Cổn oằn người, mắt như lồi ra, chân tay run bần bật. Mắt chú Cổn vằn lên những tia trông đỏ như máu, răng chú nghiến chặt, một dòng máu từ trong miệng ròng xuống cằm.
Thằng quan một đi một vòng, tưng tưng khẩu côn bát trong tay, quay lại dí tiếp họng khẩu súng vào cổ chú Cổn, rít lên:
- Mài, coi, Việt, Minh, hơn, con, hả?
Hắn quay họng súng sang thím Cổn:
- Tao, sẽ, bán, tép...nào, khai, chứ.
Mặt chú thím Cổn sắt lại như được đúc bằng gang. Cả làng đứng lặng phắc, nín thở. Ba cây cau trước cửa nhà chĩa thẳng đứ lên trời như ba mũi giáo.
Thằng quan một túm cổ áo cái Gái kéo đến trước mặt chú thím Cổn, dí họng súng đen ngòm vào ngực nó, nhìn Chú Cổn:
- Khai, chứ?
Để phá tan bầu không khí ngột ngạt, khẩu côn bát lại khạc tiếp một viên nữa, cái Gái vật ngửa ra sân. Chân tay con bé co quắp như cố níu kéo sự sống mong manh nhưng đành bất lực trước viên đạn bạo tàn. Hai bàn chân và những ngón tay khẳng khiu, ngây thơ duỗi ra, giật giật tuyệt vọng.
Thím Cổn đã ngất lịm, chú Cổn như kẻ điên giãy giụa, quằn quại, bất lực. Những cái lá mít rung lên bần bật, các thớ gân ở cổ chú Cổn quằn lên tím lịm trông như dây chão, hai bàn tay chú nắm chặt giống như hai cái nắm búa.
Thằng quan một muốn thể hiện tột cùng cái ác của kẻ cướp nước bằng cách lôi tiếp đứa con trai thứ ba của chú Cổn ra bắn. Phát đạn vừa làm xong nhiệm vụ của nó thì chú Cổn cũng ngất lịm, đầu gục xuống, tóc toè ra xơ xác.
Đêm đó cha cùng một ông mà cha gọi là thượng cấp rút về hầm của mẹ Thuần. Cha đăm chiêu và nghĩ ngợi nhiều lắm. Mẹ áy náy quá đành an ủi :
- Mình cứ giết nhiều Tây... cũng là để trả ơn chú thím Cổn, trả ơn dân làng Bùi rồi.
Cha đi một thời gian khá dài thì giải phóng Điện Biên.
Chiến thắng Điện Biên Phủ mới được chín tháng, dân làng Bùi đang say xưa với hoà bình thắng lợi và hân hoan với nền dân chủ mới thì Đội cải cách về. Đội trưởng ở nhà cô Bi. Cô Bi còn trẻ mới mười chín tuổi, con ông Bô. Nhà ông Bô nghèo nhất làng Bùi, nghèo không phải vì hoạn nạn, mà do cả nhà ông lười và ngu, ngu nhất, lười nhất nhà lại là cô Bi, vì thế mà cô Bi không có chồng. Không có chồng, nhưng nửa làng Bùi là chồng của cô. Cô mới tý tuổi mà có chửa bao nhiêu lần không nhớ nổi, nhưng cô chỉ đẻ hai lần, lần đầu ở ngoài bãi, hài nhi là một đứa con trai, cô để ở gốc phi lao dưới bãi cát. Buổi sáng người ta đi biển thấy được, thằng bé bị kiến bu kín còn ngọ nguậy, chớp chớp đôi mắt, cứu không nổi, nhưng không ai nỡ đem chôn. Lần thứ hai cô đẻ được đứa con gái. Có lẽ cô nghĩ đã hết cơ hội kiếm tấm chồng, nên để con bé nuôi làm vốn. Mẹ đã lười lại ngu, con gái cô là cái Mận, chắc lai phải cái giống không ra gì nên hai mẹ con chưa bao giờ được no đủ. Nhà nghèo đến nỗi cái bát ăn cũng phải dùng bằng vỏ con ngao ngoài biển. ầm một cái, vật đổi sao dời, cô Bi trở thành cốt cán của Đội cải cách, mọi người gặp cô khúm núm, gọi cô bằng bà.
Đội cải cách về được một tuần, làng Bùi như đứa trẻ đang vui bỗng gặp nạn, không khí ảm đạm, nghi ngờ bao trùm khắp nơi, người nọ nghi ngờ người kia, anh em, vợ chồng, cha con cũng nghi kỵ lẫn nhau. Tối đến gà lên chuồng thì mọi nhà cũng đóng cửa im ỉm, không ai dám sang nhà ai trò chuyện hân hoan như ngày mới giải phóng.
Một buổi sáng, cả nhà Thuần vừa ngồi xuống quây quần xung quanh rổ khoai lang luộc thì cô Bi dẫn Đội và một toán người đa số là cốt cán xông vào nhà bắt ông Ro trói mang nhốt trong đình. Hai ngày sau Đội bắt cả làng ra đình đấu tố tên Quốc dân đảng. Dân làng ngồi vòng cung dưới sân, chỉ có một sợi dây thừng ngăn cách giữa dân chúng với toà án. Ba mẹ con Thuần được Đội cho ngồi ở hàng đầu để nghe cho rõ những lời đấu tố của dân nghèo.
Toà án gồm bốn người, họ ngồi sau chiếc bàn, bên trên phía cửa đình treo ba tấm ảnh chân dung ba ông đẹp lắm, bên dưới ba tấm ảnh là tấm biển có dòng chữ: Toà án nhân dân đặc biệt. Dưới mép bàn, người ta căng một khẩu hiệu: Hoan nghênh toà án nhân dân đặc biệt.
Chủ toạ phiên toà là ông Đội, tóc cắt trắng như bụt, mặc một chiếc áo nâu bà ba, hai bên còn có ba người nữa nhưngThuần không quen, không biết.
Cô Bi mặc chiếc váy đen, tóc búi vổng lên như đuôi con gà trống, mặt cô đằng đằng sát khí, cô nhảy choi choi, xỉa xói vào mặt ông Ro:
- Thằng Quốc rân đảng hại rân bán lước kia! Mày có nhớ bao nhiêu đêm mày họp ở vườn nhà bà bàn cách bán lước hại rân không? vì mày mà ông Cổn mất ba đứa con. Thằng mặt N... kia mày có biết không?
Cô Bi từ xưa có tiếng là lẳng lơ, lười nhác, nhưng đanh đá cá cầy thì chưa ai thấy, vậy mà sao hôm nay ai dạy cô nhanh thế. Cô nhảy tưng tưng, túm tóc, nhổ bọt vào mặt ông Ro, răng nghiến ken két muốn nổ con ngươi:
- Thằng kia mày có nhớ mày cho vợ mày mang cơm thừa canh cặn bắt mẹ con bà ăn mấy tục nần không? Con bà ốm mày cho thằng Thuần nhà mày mang nửa con cá tép kho bắt ló ăn, có cái đầu, khúc đuôi ngon nhất mày để nại. Mày ác thế thằng Ro, đúng nà đồ Quốc rân đảng.
Càng chửi càng hăng, cô Bi tốc váy lên, mặt đỏ như gấc, tưng bừng:
- Thằng Quốc rân đảng kia! Mày có nhớ mày hiếp bà mấy vạn nần không? mày hiếp cả nhà bà. Tẻ mày không tha, rà mày không thương. Bà tuyền đời cho mày biết, bà sẽ xẻo, xẻo cái con cu mày, xem con cu Quốc rân đảng nó rọn hay nó tù.
Ông Ro bị trói ngang người bằng dây thừng, đứng cúi gằm mặt, mồ hôi nhỏ ra ròng ròng. Cả chi bộ của ông có chín người, thì cả chín người bị qui là Quốc dân đảng, ông là bí thư nên tội nặng nhất.
Mẹ Thuần uất quá ngất xỉu, chị Hương phải dìu mẹ ra ngoài xoa bóp cấp cứu.
Thêm vài người nữa hầu hết là cốt cán được Đội cải cách bồi dưỡng phương pháp và nội dung đấu tố lên tố ông Ro. Có người đấu hăng hái, có người không nhớ, Toà phải nhắc. Cuối cùng thì ông Ro bị Toà án nhân dân đặc biệt kết án tử hình.
Cả đời Thuần không thể nào quên được ngày cha bị mang ra bắn. Hôm đó trời mùa thu ảm đạm như có tang. Biển sáng, mười ba con nước nên cạn, bãi cồn trơ ra như mu con rùa khổng lồ nằm phủ phục vào làng. Dân làng Bùi bị dồn ra bãi. Người ta trói hai tay cha Thuần ra sau lưng, lại còn quấn mấy vòng dây thừng ngang người. Cha mặc áo nâu bà ba, cúc áo ngực phanh ra, những tia máu ở cổ vằn lên, hình như cha nấc mà nước mắt chảy ngược vào trong. Mẹ Thuần gào khóc thảm thiết, quì xuống, chắp hai tay vái giời, vái biển: “ối giời cao đất dày ơi! Sao giời lại không có mắt”. Chị Hương khóc, Thuần cũng khóc, lúc đó Thuần chỉ hiểu cha tốt thế sao người ta lại bắt cha phải chết. Thuần thấy nhiều người làng Bùi cũng khóc, nhưng họ khóc ngấm ngầm và cúi xuống lén lấy vạt áo lau nước mắt, họ sợ ông Đội hay cốt cán nhìn thấy. Không có ai xông lên che chắn như hồi Tây bắn cha lần trước.
Hai người, một đàn ông, một đàn bà, mỗi người cầm một khẩu súng trường đứng chéo hai bên. Ông Chánh án hô: “Bắn!”. Hai phát súng nổ, Thuần cảm thấy như tim mình bị vỡ toang. Mẹ Thuần vật ra chết ngất, chị Hương hét lên như tiếng kêu của một quả chuông bị đứt dây rớt xuống rồi cũng nghẹo đầu gục theo. Thuần nhìn rõ ngực cha bị thủng, máu phọt ra thành tia. Hình như cha nói gì đó trước khi gục đầu xuống, Thuần chỉ nghe được câu cuối cùng lẫn tiếng súng: “... muôn... năm!”.
Chưa đầy bốn chín ngày cho cha thì chị Hương bị người ta hiếp rồi bóp cổ chết. Xác chị Hương nằm tênh hênh bên gốc mít nhã nhượi, trên người nhiều vết xước tím bầm. Mẹ đau xót quá không khóc được nữa, cứ ôm chặt lấy xác chị Hương, gục đầu lên ngực mà nấc. Cô Bi đến, mặt lạnh như bùn ngâm nói nhỏ với mẹ:
- Đội cho chôn cất rồi. Cấm được khóc.
Không để như xác cha vẫn còn bị trói mà đưa xuống huyệt, mẹ tắm rửa sạch sẽ và móc rửa hết những thứ nhơ bẩn họ đã tọng vào người chị Hương, để chị ra đi được trong trắng sạch sẽ. Cô Bi bảo:
- Được chôn, nại ở nghĩa địa nà quá tốt.
Mẹ nhìn cô Bi với ánh nhìn vừa sợ vừa như thách thức, hình như mẹ nuốt tủi hận vào lòng và muốn nói với cô Bi rằng mẹ đã biết ai là thủ phạm.
Sau những biến cố khủng khiếp, mẹ ốm, ốm rất nặng nhưng cả làng không ai dám đến thăm. Chưa kịp cúng một trăm ngày cha thì mẹ chết, trước khi chết mẹ vời Thuần vào đưa cho một chiếc cát tút đạn bằng đồng màu vàng xám to bằng ngón tay út. Năm ấy Thuần vừa tròn mười lăm tuổi.
Chôn cất mẹ xong, Thuần chơ vơ như gà con mất mẹ. Trong vòng có vài tháng trời gia đình Thuần đang xum họp hạnh phúc, bỗng dưng hoạn nạn từ trên trời ập xuống, tan tành như mây khói. Thuần không hiểu nổi vì đâu? Tại sao mà Thuần, gia đình Thuần lại khổ đến như vậy? Cả làng Bùi khi thì sôi lên như chảo lửa, lúc lại lặng lẽ im lìm như cái làng ma, Thuần đi đâu cũng bị người ta xa lánh, nhìn bằng con mắt ghẻ lạnh, ghê tởm, cũng có người tỏ ra thương hại, nhưng tuyệt nhiên không ai tiếp xúc với Thuần. Thuần sợ cái không khí bất thường của làng đến nỗi tiếng chó sủa cũng hốt hoảng. Thuần có cảm giác như đang sống dưới địa ngục. Thuần ghét ông Đội lắm, nhưng sợ, cô Bi thì Thuần vừa căm ghét vừa khinh. Ngày trước cha mẹ Thuần thương mẹ con cô Bi lắm, bố bảo tuy có hư, nhưng cô nghèo, vì vậy mà có cái gì ăn bố mẹ cũng sai chị em Thuần mang sang cho mẹ con cô. Vậy mà bỗng dưng cô lật mặt, vu oan giá hoạ, đến mức làm cả nhà Thuần tan nát. Thế rồi cô lên làm chủ tịch xã do kết quả của một cuộc bỏ phiếu bằng vỏ ốc ao do Đội cải cách tổ chức. Cô hách dịch, vênh váo, nạt nộ cả làng, gặp Thuần cô nhổ bọt quay đi. Thuần uất quá, đêm đến gói cứt ném vào sân nhà cô Bi. Chưa hả, Thuần còn gói tro bếp vào mo nang treo trên cành tre, chờ đêm cô Bi đi họp về, giật để tro đổ vào mặt, được vài lần thì bị bắt. Người ta trói Thuần vào cột đình, chờ ngày xét xử vì tội của Thuần lớn lắm: Con thằng Quốc dân đảng âm mưu ám sát bà chủ tịch xã.
Đêm ấy là đêm thứ ba, Thuần đang nghẹo đầu mơ màng, bỗng có hai người đàn bà bò vào dùng dao cứa đứt sợi dây trói, rồi kéo Thuần ra ngoài, dúi vào tay một nắm cơm và đẩy đi. Thuần vừa đút nắm cơm vào miệng, vừa chạy ra bãi biển. Rừng sú vẹt mênh mông ôm Thuần vào lòng che chở. Nước lên thì Thuần trèo lên ngọn bần cao để ngủ, nước cạn, Thuần lội lầy bắt cáy, bắt còng nướng ăn. Được vài ngày, Thuần đói quá không chịu nổi. Chẳng lẽ Thuần cứ sống mãi thế này sao được? Thuần quyết định bỏ làng theo dân đi buôn thuốc lào trên Phú Thọ. Hôm ấy là ngày cuối tháng, nửa đêm trời đen như bùn, Thuần bồn chồn nửa muốn đi, nửa muốn ở lại. Làng Bùi, tuy thế vẫn là máu, là thịt của Thuần, mồ mả cha ông của Thuần ở đây; mồ cha, mồ mẹ, mồ chị chưa xanh cỏ, ai sớm khuya hương khói cho linh hồn đỡ cô quạnh?
Thuần thắp hương lên ba ngôi mộ, khấn cha, khấn mẹ và chị tha thứ, Thuần ở lại không chắc gì đã sống được. Thuần chỉ xin phép cha mẹ lánh đi một thời gian, khi trời yên, biển lặng rồi lại trở về, cha mẹ hiển linh phù hộ độ trì cho Thuần bình an vô sự. Lặng lẽ, luấn quấn với ba ngôi mộ mãi mới bứt ra được, Thuần vượt qua con đê bảy mò mẫm ra bãi, gió biển mơn man, táp hơi muối vào da thịt làm Thuần có cảm giác dễ chịu, rừng sú vẹt như một dải băng tang lặng lẽ im lìm bí hiểm. Biển lặng. Nước triều vỗ vào bãi cát tăm tắp, gió vẫn rì rào ca bài ca muôn thủa. Chao ơi! Thế là Thuần phải xa cái cồn cát chôn vùi bao kỷ niệm ấu thơ, xa rừng sú vẹt âm thầm ủ bao buồn vui của quãng đời khốn khó, xa con sông Diêm đã tắm mát cả cuộc đời. Chưa rời quê mà Thuần đã nhớ...
Dân buôn thuốc lào hầu hết là thanh niên khoẻ mạnh, phụ nữ chiếm đa số. Thuốc lào họ nén thành từng bánh nhỏ, xếp đầy ró và gánh đi. Thuần mới mười lăm tuổi nhưng sức vóc cũng cao lớn không kém thanh niên, vì vậy, khi mệt các cô thường nhờ Thuần gánh hộ. Thuần không nề hà việc gì chỉ mong sao họ cho ăn và cho đi theo. Người cùng làng biết hoàn cảnh của Thuần thì thương, những người ở làng khác không biết, chỉ thấy Thuần chịu khó, thật thà, ngoan ngoãn cũng quí mến. Ngày đi, đêm nghỉ. Đến ngày thứ chín tới địa phận tỉnh Phú Thọ, trời đã tối, nhưng đoàn người cố vượt qua quả đồi để tới nơi nghỉ. Đến giữa đỉnh đồi, khi mọi người đã đói lại mệt thì một toán cướp từ trong rừng vác dao, vác gậy xông ra. Tất cả đều “ bỏ của chạy lấy người”. Một thằng trong toán cướp vồ được cô trẻ nhất trong nhóm vật xuống, kéo quần tới đầu gối định hãm hiếp. Nghe tiếng kêu cứu, Thuần ngơ ngác rồi quay lại vác đòn gánh phang. Cô gái chạy thoát, chỉ bỏ lại chiếc quần nái đen, còn Thuần thì bị toán cướp bắt sống.

Thuần theo toán cướp về cùng sống trong một hang núi. Chúng bắt Thuần nấu nướng phục vụ, khi đã thấy khuất phục, chúng cho Thuần đi theo để tập sự. Lợi dụng sơ hở Thuần trốn thoát. Lang thang, đầu đường xó chợ, cuối cùng Thuần dạt về một làng trung du miền núi làm thuê để sinh sống. Ai thuê gì Thuần cũng làm, miễn là có miếng ăn cho qua ngày, đoạn tháng.
Năm tháng qua mau, Thuần vẫn là một thanh niên khoẻ mạnh làm thuê, làm mướn. Công việc chính và thu nhập cao nhất của Thuần là đi bốc mả. Ngoài ăn uống, công sá sau mỗi lần bốc mả, thường thì gia chủ cho luôn Thuần mấy tấm ván thôi. Thuần ngâm những tấm ván đó xuống sông một thời gian cho sạch rồi vớt lên đem bán cho người ta chắn chuồng lợn, hoặc làm tấm dồi tường. Ai cũng thương vì Thuần chịu khó, hiền lành, làm việc gì cũng tận tuỵ, chu đáo, không đòi hỏi. Làm thuê cho nhà ai thì Thuần ăn luôn, ngủ luôn ở đó.
Một đêm, trời trung du mênh mang gió ngàn, trăng trên trời vằng vặc sương khuya. Hôm ấy, Thuần làm mệt, lại được nhà chủ cho ăn uống no say nên ngủ quay trên cái chõng tre ngoài thềm. Nửa đêm Thuần mơ mơ, màng màng, thấy một người đàn ông cao lớn, khuôn mặt đẹp nhưng khắc khổ, ngón chân, ngón tay đều cụt lủn đến bên dịu dàng ngồi xuống, đặt một bàn tay không ngón lên vai Thuần nói:
- Con sẽ là con của ta.
Thuần nắm lấy bàn tay cụt của người đàn ông cảm thấy ấm áp và thân thuộc quá. Lâu lắm, Thuần thèm một cảm giác tình cảm của máu thịt người thân vì vậy mà gần người đàn ông này Thuần bỗng nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ chị, nhớ hơi ấm gia đình. Thuần ngồi dậy định trò chuyện với người đàn ông cụt ngón ấy thì không thấy đâu nữa. Không biết là mơ hay thật, Thuần cấu vào đùi, thấy đau. Rõ ràng là tỉnh, Thuần tỉnh thật mà, vậy người đàn ông ấy là ai? bây giờ ở đâu?
Suốt đêm Thuần trằn trọc không ngủ nổi. Sự xuất hiện của người đàn ông, rồi biến mất đã là kỳ lạ; nhưng chính cảm giác ấm áp người đàn ông mang đến khiến Thuần không sao ngủ lại được. Sáng hôm sau có một cô gái còn rất trẻ, xinh đẹp nhất làng đến nhờ Thuần sang cát cho cha. Thuần nhận lời, nhưng phải bốn ngày nữa Thuần mới xếp sắp làm được. Cô gái đồng ý, trao một ánh nhìn tin tưởng và âu yếm khiến Thuần cảm thấy chao lòng.
Cô gái về rồi, nhà chủ mới nói cho Thuần biết, cha cô ta mắc bệnh hủi, cách nay mười năm, vì sợ ông chết bệnh lây lan cả làng, người ta đào một cái huyệt rất sâu rồi trói ông lại, đẩy xuống và đổ vôi bột lấp đi, chôn sống.
Cô Gấm (tên cô gái) đã mất mẹ lại mất cha, sống một mình thui thủi. Trời phú cho cô sắc đẹp vô ngần, nhưng trời cũng độc ác với cô, rằng bao nhiêu chàng trai chỉ đứng xa nhìn cô mà ứa nước miếng, không ai, không một người đàn ông nào dám yêu và lấy cô. Cô càng lớn , sắc đẹp càng rực rỡ, khiến bao chàng trai thèm khát, tiếc nuối. Khi đã trưởng thành, cô đau đớn nghĩ tới bộ hài cốt người cha bị trói cả chân lẫn tay, giẻ nhét đầy miệng ngâm dưới hố vôi mà chết. Nhất định cô không thể để cha chết mãi như thế được, phải giải phóng cho cha và cô đã thuê rất nhiều người sang cát cho cha, nhưng không ai dám làm vì người ta sợ bị lây bệnh hủi. Thậm chí có những người cô ngỏ ý nếu họ làm được cô sẵn sàng lấy làm chồng, nhưng sắc đẹp cũng không thể khiến đám trai làng hết sợ hãi căn bệnh chết người mà lại còn di chứng đến mấy đời.
Thuần cảm thấy đời Gấm và Thuần giống nhau, cha Thuần cũng chết đau đớn chả kém gì cha Gấm. Thuần cũng mất cha, mất mẹ sống côi cút một mình, Gấm cũng thế, cũng bị người làng ghẻ lạnh. Thuần thấy thương Gấm quá. Đêm ấy Thuần và Gấm ngồi trong căn nhà mái rạ đơn sơ của Gấm cùng nhau chia sẻ nỗi cô đơn, tủi nhục và Gấm khóc làm Thuần cũng mủi lòng.
Vào một đêm trăng sáng, Thuần và Gấm quyết định sang cát cho cha Gấm. Khi bới lớp vôi bột ra Gấm không thể nào cầm nổi nước mắt, một bộ xương khô nằm nghiêng quẹo, hai khúc xương tay, xương chân bị trói bằng sợi dây thép; miệng còn một bó giẻ cuộn tròn lẫn vôi bột.
Hai người xách nước rửa từng khúc xương cho ông sạch sẽ, mới đặt vào chiếc tiểu sành và chôn cất tử tế.
Gấm vui mừng và biết ơn Thuần nhiều lắm. Thuần không lấy một đồng công nào, lại còn cùng Gấm sắp một mâm cơm cúng và cùng nhau ngồi ăn như một đôi vợ chồng.
Thuần khâm phục Gấm vừa biết hy sinh để làm tròn chữ hiếu với cha, vừa có nghị lực làm được một việc lớn, vậy mà Thuần chưa làm được gì cho cha mẹ mình. Nhất định một ngày nào đó Thuần phải về quê sang cát cho cha, không để cho ông cứ phải chết trói như thế mãi.
Từ đó Thuần và Gấm thân thiết nhau, đi làm cho ai ở đâu, nếu không cơm nước gì ở nhà chủ là Thuần về nhà Gấm. Hai người hí húi nấu nấu, nướng nướng rồi vừa ăn, vừa trò chuyện vui lắm, có hôm mưa to gió lớn Thuần ngủ lại nhà Gấm. Một hôm Gấm bảo:
- Hay là em mua thêm chiếc giường, anh Thuần về đây ở cho vui...?
Trong thâm tâm Thuần muốn lắm nhưng ngại, chỉ sợ Gấm đánh giá Thuần lợi dụng, nên chỉ đỏ mặt gãi tai ậm ừ. Hiểu tâm trạng của Thuần, Gấm nói:
- Anh không phải lo gì hết, chúng mình là hai đứa côi cút, không thương lấy nhau thì ai thương?
Thuần hiểu câu nói của Gấm theo một hướng khác, bèn mạnh dạn nói:
- Mình cũng phải làm mâm cơm xin phép tổ tiên, cha mẹ...
Không ngờ câu nói của Thuần làm Gấm bất ngờ và xúc động. Chưa bao giờ Gấm nghĩ sẽ có người con trai thương yêu và lấy mình làm vợ, bởi vì Gấm là con một người hủi, nghĩa là không ai dám gần Gấm, dám lấy Gấm, vậy mà hôm nay anh Thuần... Trời ơi! Gấm sung sướng và hạnh phúc quá, hạnh phúc đến bất ngờ làm Gấm bật khóc. Thấy Gấm khóc Thuần lo sợ tưởng mình đã xúc phạm, bèn cuống cuồng xin lỗi. Sau này khi đã thành vợ, thành chồng rồi, mỗi khi nhắc lại chuyện đó hai vợ chồng Thuần chỉ nhìn nhau cười.

Họ sống với nhau được gần ba năm thì Gấm có mang. Hạnh phúc tràn ngập dưới mái nhà tranh của đôi vợ chồng trẻ và nghèo, nhưng hạnh phúc ngắn ngủi quá, khiến Thuần ngỡ ngàng như ác mộng. ấy là khi Gấm sinh con, thai ngược và Gấm băng huyết. Mẹ chết và con cũng chết. Lau sạch máu me cho vợ và con, Thuần lấy cánh cửa đóng thành quan tài, liệm cả hai mẹ con vào một, chôn ở trong vườn nhà.

Chôn cất vợ và con xong, Thuần như người mộng du, cứ lang thang ngoài cánh đồng, khi lại vẩn vơ ngoài chợ. Đời Thuần sao khổ quá, trời ban cho Thuần hạnh phúc, rồi trời lại cướp đi một cách phũ phàng. Thà rằng Thuần đừng gặp Gấm, đừng lấy Gấm, đừng có con, cứ kiếp làm thuê lang bạt kỳ hồ, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường lại đỡ khổ. ấy rồi không hiểu vì sao cái căn bệnh hủi chết người đó lại đổ vào Thuần. Lúc đầu chưa tin, sau rồi mọi người rì rầm to nhỏ, xa lánh Thuần mới thấy nghi ngờ. Thực ra Thuần cũng chả hiểu bệnh hủi là như thế nào? nhưng cứ thấy người sần sùi, đỏ tấy lên. Cũng chỉ thế thôi, vẫn khoẻ mạnh, làm ăn bình thường, nếu thế thì không lo, có chết đâu mà sợ, chỉ có điều mọi người không thuê Thuần làm nữa, họ không quí Thuần như trước. Cũng may Gấm để lại cho Thuần ngôi nhà tranh vách đất, mấy thước vườn và sào ruộng, trồng trọt chăn nuôi cũng đủ sống.

Bệnh mỗi ngày mỗi nặng, cho đến khi bị rụng mất một ngón tay, lúc đó Thuần mới hoảng hốt, nghĩ lại cái đêm nằm mơ gặp người đàn ông lạ cụt hết ngón chân, ngón tay nhận Thuần làm con. Chẳng lẽ Thuần cũng như người đàn ông đó sao? Chẳng lẽ Thuần cũng bị người ta trói lại, nhét giẻ vào miệng rồi chôn sống sao? Thuần phải bỏ cái làng trung du này mà đi thôi, nhưng đi đâu bây giờ, dưới cái gầm trời này có ở đâu người ta không xua đuổi người bị bệnh hủi? Thuần khóc, khóc thương cho số phận hẩm hiu của mình, rồi Thuần căm thù cô Bi và căm thù cái gì đó vẩn vơ vô hình mà Thuần không thấy được, không lý giải nổi. Nếu thế thì Thuần tự chết, chứ không để người ta làm như bố của Gấm, như bố của Thuần. Đang lúc tuyệt vọng thì ông chủ tịch xã và bà y tá đến. Hình ảnh cô Bi xỉa xói vào mặt cha Thuần lại hiện ra... tai hoạ chắc sẽ lại ập xuống thôi, nhưng thật may, họ cho biết Thuần mắc bệnh hủi - bây giờ người ta gọi là bệnh phong, khoa học hiện nay đã nghiên cứu và chữa khỏi, do đó Thuần phải đi chữa bệnh. Đi chữa bệnh hay là đi để họ chôn sống mình đây? Làm sao một người như cô Bi có thể tốt trở lại được? Cô Bi là đàn bà làm chủ tịch còn ác như thế, thì làm sao cái ông chủ tịch này lại không ác? Cả hai người đến nhà Thuần chỉ đứng ngoài sân, khăn bịt miệng, nói lúng búng trông như đội Thái Hùng thời còn đánh Pháp đêm đêm đi lùng ác ôn để thủ tiêu. Đành vậy, số phận Thuần trời đã định thì biết làm sao được.
Thuần được đưa đến một cái làng rất xa, ở đó toàn những người mắc bệnh hủi, mà họ gọi là bệnh viện, mọi người thông cảm, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau để chữa bệnh. ở đây không có chủ tịch, không có ông Đội và cũng không có cốt cán như cô Bi, người có quyền cao nhất là trưởng bệnh viện, rồi đến các bác sỹ... họ rất ân cần chỉ bảo và ra sức chăm sóc chữa chạy cho bệnh nhân.

Thuần chữa bệnh và sinh sống ở đó được 5 năm thì khỏi. Bệnh khỏi nhưng Thuần bị cụt mất 5 ngón tay, 4 ngón chân và một vành tai, di chứng này cũng đủ cho Thuần khó mà nhập được vào cộng đồng, nhưng mà Thuần nhớ quê quá, nhớ làng Bùi thân thương, nhớ bãi biển mênh mông bát ngát, hơn nữa việc phải sang cát - giải phóng cho cha không thể chậm trễ. Thuần cũng tính cả rồi, Thuần về sẽ sống ngoài bãi, ở đó có biển, có đất, có rừng, chỉ cần Thuần có sức lao động là sẽ sống được. Anh chị em trong bệnh viện sắm đầy đủ các dụng cụ lao động và sinh hoạt để Thuần chuẩn bị cho một cuộc sống mới. Thuần phải về, nhất định về vì còn phải tìm bằng được ông Đội, cô Bi để rửa tội cho cha, không để cha phải chịu tiếng nhục.
Thế là Thuần quyết định về quê. Anh chị em, bác sỹ, hộ lý trong bệnh viện thấu hiểu hoàn cảnh Thuần nên cũng tôn trọng và ủng hộ, nhưng ai cũng ái ngại. Về quê Thuần một mình côi cút, hơn nữa xã hội lúc này đã mấy ai hiểu và chia sẻ cho những người mắc bệnh phong. Một vài người khuyên Thuần nên ở lại bệnh viện làm ăn sinh sống, coi đây là làng quê của mình, mọi người đây là anh em ruột thịt. Thuần cũng biết vậy, nhưng cái ý chí về quê đã nung nấu bao năm trời, lời hứa trước mộ cha mẹ và chị nay đã cháy bỏng như ngọn lửa trong tim.





...CÒN TIẾP...
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 07.09.2008 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội .