Lăng Minh Mạng - Huế














- Đến Huế mi cũng định đi đò trên sông Hương chứ chi?
Lão Tra nhìn đăm đăm vào mắt Huy hỏi. Con mắt lão vừa dịu dàng vừa như có lửa.
- Dạ! - Huy trả lời, lấy chiếc thìa vét hết những sợi bún cuối cùng nơi bát, hương vị cay thơm còn ngân mãi trong miệng. Chả trách, người ta bảo bún bò Huế có hương vị đặc biệt. Chỉ miền quê này mới có được. Còn ở nơi khác thiếu một cái gì đó khó mà diễn tả nổi.
- Thế quê mi ở mô? - Lão Tra hỏi. Cặp mắt lão nhìn vào mặt Huy dịu dàng hơn, pha chút thương cảm mà chỉ có được nơi người cha rất đỗi thương con...
- Dạ con quê ở Thanh ạ! - Huy đặt bát xuống chiếc mâm gỗ. Chiếc mâm gỗ là loại đồ cổ còn lại rất ít ỏi, như con người đang nói chuyện với Huy.
- À! - Lão Tra nhìn xa xăm... Tìm trong tiềm thức những dòng ký ức mờ ảo - Ngày ấy, ta còn trẻ lắm. Tha phương nơi đất người kiếm ăn. Ta chỉ kịp ngoái nhìn con sông Lèn như một kỷ niệm xa xôi. Cha ta nói, có người bà con nơi kinh thành Huế, ông muốn ta vào trong đó, thăm và kiếm việc làm. Tiền tích cóp của gia đình ta chỉ đủ mua một chiếc vé hoả xa cho ta từ Lèn vào đây thôi... Ta từng cùng lũ trai tráng xếp hàng cả ngày đón đức vua ngự giá về cố hướng... Cha ta bảo, nếu theo thứ bậc ông ấy còn phải gọi ta bằng bác và xưng cháu. Do cái số cả, trời chấm ai làm vua người đó được... Cha ta dặn, người bà con gần có tên là Tôn Thất Ngự Thực. Ta tiêu đến đồng cuối cùng trong túi mà không tìm được... Mi đã từng chịu nỗi đắng cay không xu dính túi mà ở nơi đất khách quê người chưa? Chưa hả. Nỗi đau khổ về sự bần cùng thấp hèn. Không ai tin vào mình là kẻ lương thiện. Còn mắt họ nhìn ta đầy cảnh giác pha chút khinh thị. Khóc hả? ích gì, nước mắt không xoá đi được réo sôi nổi loạn của cái bụng. Các cô gái Huế nói giọng ngọt, ngon lành lắm hả. Đói, còn thiết chi nghe nhìn nữa. Dịu ngọt, trầm bổng, du dương đều đều mà chẳng thấy có gì cả. Đó là sự khát thèm của bọn nhà giàu, ăn no rửng mỡ muốn tìm khoái cảm. Còn ta không một xu dính túi. Ta còn thiết chi được ngồi nghe giọng nam ai, còn lấy đâu ra tiền ngồi thuyền rồng ngắm tà áo, vuốt những cái lườn mềm mại mát lịm của các ả con trời...
Ông có biết đâu, Huy cũng khốn khổ vì cái trò đi du thuyền trên sông Hương. Nằm tréo kheo nơi mạn thuyền tiêu mất cả tháng lương, nghe tiếng hát đều đều như mưa dầm dê, ảo não buông xuống dòng sông có tên con gái ấy...
- Mi cũng thích con gái Huế hả? - Lão Tra nhìn chiếu thẳng vào mặt Huy tuồng như muốn nuốt chửng kẻ háu gái. Đọc được nỗi lo âu nơi Huy đang hiện ra. Huy vừa muốn thú nhận vừa cố thủ sự không may mà mình vừa phải trả giá.
- Dạ!... Lại dạ - Huy nghĩ trong óc mà chẳng nói được gì cả.
Ta đã làm thực khách của chùa Thiên Mụ. Thật không may cho ta, người bà con mà cha ta dặn có tên là Tôn Thất Ngự Thực đã chuyển sang Pháp sinh sống. Căn nhà mà ta đã mất công tìm hàng tháng trời đã trong tay một chủ mới. Sau này thì ta biết, họ cũng là anh em trong hoàng tộc, chỉ vì tranh giành nhau quyền thừa kế mà kiện tụng đến nỗi gia sản của Tôn Thất Ngự Thực rơi vào tay người chủ mới là Bửu Tôn.
- Mi cũng có ý thích ngắm mưa rơi trên sông Hương hả? - Lão Tra khẽ mỉm cười, nụ cười thật trải đời.
Huy nhận ra sau sự khô lạnh là tấm lòng của một người nếm bao cay đắng nhọc nhằn...
- Ta không tài nào kiếm nổi công ăn việc làm... Lão Tra nhìn Huy với con mắt đắng cay. Như thể ông đang sống lại những ngày đầy bi quan chán nản. Ngồi trong mái chùa Thiên Mụ lắng tiếng mưa rơi cứa vào linh hồn. Cặp mắt vô hồn nhìn những tà áo tím bay trong gió. Những chiếc lườn mát rượi như là lườn cá, mà chẳng chút hy vọng vào ngày mai...
- Một ý nghĩ lóe lên trong óc ta, lão Tra cười với Huy, nụ cười đầy thông cảm. Bộ mi nghĩ ta định tự tử chắc? Không đâu. Ta định đi xin. Ta thử làm vài lần mà không kết quả. Đói ăn hàng tháng trời đã biến thằng con trai người thợ cày thành thân tàn mà dại. Ta giơ chiếc gáo dừa nhặt được của một vị sư ra trước mặt mấy cô gái xem sao?
- Ui chao ơi! - Những chiếc môi, có phải gặp người mà họ yêu chắc là duyên dáng lắm. Nhưng với ta là kẻ thất thế họ chẳng cần che giấu sự khinh khi. Sự duyên dáng biến đi đâu mất, chỉ còn nanh ác, giọng nói đều đều khó chịu như tiếng mưa rơi gõ xuống mái ngói dai hoi trì uất.
Huy rất muốn nói với lão Tra tình cảm của mình nhưng kịp ghìm lại. Một người đàn bà đã luống tuổi bê một tích nước đặt xuống chiếc sập gụ, chẳng nói chẳng rằng. Lấy khăn lau chiếc sập, rót nước vào hai chiếc bát bịt miệng bằng bạc. Huy đoán có lẽ là báu vật của lão Tra. Bà già đẩy khay nước về phía lão Tra và Huy rồi lặng lẽ vào nhà trong. Huy chợt nghĩ - có phải là tính cách của người đàn bà Huế chăng?
Ta thấy mình là kẻ vô tích sự. Mở miệng ra xin thì người ta nhận ra người từ nơi khác tới mà câm miệng dơ bát dừa thì nhìn bộ mặt của ta không ai chịu nổi, họ chẳng thèm nói với ta một câu nào cho tử tế. Lạ thế, giữa cái xứ sở chết tiệt. Người và cảnh đều đẹp nhưng mà tấm lòng hẹp hòi cố chấp. Ta nghĩ thế. Lúc bĩ cực ai chả muốn trút sự căm thù cho đồng loại.
Ta xin đủ tiền nhờ ông thợ cạo gọt cho chiếc đầu nhẵn thín như mông đít để xin được vào quét dọn sân nhà chùa. Thôi rồi ta không còn con đường nào thoát ra khỏi cảnh ăn mày nơi cửa Phật. Ta giận cho tông tộc của mình. Có người ngồi trên ngai vàng ngự trị thiên hạ, lại có kẻ bần hàn đến mức không ngóc được đầu dậy. Ta oán cả những bậc đế vương nằm dưới mồ kia, chết rồi mà vẫn kéo theo bao thứ quý, châu báu ngọc ngà, những của đắt tiền mà chỉ cần chút xíu của họ thải ra ta đã có cả một cơ nghiệp. Lại còn những cung nữ quần là áo lượt thâu đêm suốt sáng hầu hạ, say mê chuyếnh choáng ăn no rửng mỡ...
Đi tu mà ta không hề biết được bao lăm kinh kệ. Bộ óc tăm tối của con gã thợ cày không chịu dung nạp những lời thâm sâu, cao siêu mà chỉ đức Phật mới hiểu thấu được.
Cho đáng đời mi - Ta nghĩ thế - Có lẽ suốt đời mi không bao giờ được cầm tay người đàn bà, dẫu chỉ một lần. Nghĩ tới đó, nước mắt ta tự dưng trào ra... Để có được chiếc vé hoả xa cha ta đã phải bán đi mất nửa gia tài: một con trâu và ba gánh lúa. Thuở đó, đi tàu hoả chỉ bọn nhà giàu và quan lại mới có đủ tiền. Ta cứ tiếc, nếu cứ cưỡi con trâu mà vào trong này biết đâu không mất trắng cả một món tiền lớn. Nhưng thật lẩn thẩn, nếu cưỡi con trâu đi mất hàng tháng trời, biết đâu đã bị bọn lục lâm cướp trâu quăng xác xuống biển rồi. Dù sao ăn mày cửa Phật ta cũng được bữa đói bữa no.
Sức khoẻ, được ăn uống không cao sang đầy đủ gì, ta cũng mau lấy lại sức. Sư trụ trì bảo, phải thử thách một thời gian, rồi xem có Phật tính trong con người không mới làm lễ thụ giáo chính thức đặt tên.
Huy nhìn lão Tra định cắt lời, nhân lúc lão dễ dãi mà nói thật sự tình nhưng lão Tra khoát tay ngăn lại, ý chừng ông không muốn cắt đứt luồng suy tưởng của mình. Lão Tra nhìn Huy, cái nhìn độ lượng, dịu dàng giọng tâm sự:
- Ta không ngờ số phận của mình đã được định đoạt nơi chốn cửa thiền. Không hiểu kiếp trước ta đã tu nhân tích đức có cao dày hay không mà trong lúc gian nan lại gặp người giơ tay cứu nạn. Chùa Thiên Mụ vốn là nơi có nhiều các vị có chức trọng quyền cao ngoài đời thương đến dâng hương vãn cảnh. Tìm câu trả lời cho kiếp sống bé nhỏ của đời người. Không hiểu ngoại hình của ta có được vẻ gì khác người mà có lương duyên, lọt vào mắt một người. Cha của nàng từng đưa nàng tới đây cầu nguyện. Ta nhìn thấy nàng đôi mắt đăm đăm nhìn vào Phật. Không một nụ cười, đôi mắt mấp máy niềm tin vào sự huyền diệu chốn cao siêu. Còn người cha quỳ sụp xuống bệ thờ. Ông năn nỉ điều chi mà đôi mắt đẫm lệ. Nhìn thấy cung cách cầu xin sự vi huyền của ông, ta không khỏi thở dài, thương cảm. Ta không tài nào hiểu được hành vi thiếu cẩn trọng của mình lại đánh thức sự nhập Phật của cha con nàng. Họ nhìn ta một giây. Ta xót xa vì hành vi quá trớn của mình. Vội vàng rời gót khỏi gian chánh điện, ra lia những lát chổi gom lá rụng nơi cây đại cổ thụ miệng lẩm nhẩm niệm Phật: A di đà Phật! Tôi là kẻ thất cơ lỡ vận có điều gì thất xá xin đức ngài lượng thứ, cứu vớt sinh linh bé nhỏ này thoát khỏi sự cám dỗ. Tôi có quyền chi mà dám mơ ước ánh mắt của nàng.
Ta vẫn thảng thốt không yên lòng vì sự đụng độ với cha con vị khách đến chùa cầu xin điều lành. Một hôm điều lạ đã xảy ra với ta, hoà thượng trụ trì đã gọi ta lên chỉ giáo. Ta thật hoảng sợ thấy viên quan lại đang ngồi dùng trà cùng hoà thượng. Không thấy quý cô con gái đi theo. Ta quỳ xuống dưới chân hoà thượng mà rằng:
- A di đà Phật! Con xin được hoà thượng chỉ giáo.
- Mô Phật... Con đứng dậy đi... Nghe ta nói đây.
- Dạ! Thật sự con không biết mình phạm phải tội trọng gì.
- Con ạ! Có lẽ đường đời của con còn nhiều việc phải làm để trả nợ. Con đã lọt vào mắt đức ông đây. Ôi! Đó là cái phúc lớn của tổ tiên con đấy!
- Dạ!
Ta chả biết nói chi, chờ đợi sự phán truyền của bề trên. Lòng ta không khỏi thương người cha nơi quê nhà. Chắc sẽ khó bề về quê thăm người...
- Này chàng trai! - Đức ông nói giọng ấm trầm xua tan nỗi sợ hãi đè nặng trong lòng ta - Ta có ý định này, không biết chàng trai có thuận lòng không?
- Dạ! - Ta phải lấy hết can đảm nhìn ông lớn chờ đợi.
- Ta muốn sung nhà ngươi vào đội gác lăng mộ của vua cha, ngươi có nhận lời không?
Ta không tin vào tai mình nữa. Ta như con thuyền đắm được vớt lên. Số phận của con người thợ cày chốn cố hương đã được định đoạt. Làm cái chân gác lăng mộ của Chúa Đàng Trong.
Ta cần mẫn thức khuya dậy sớm gác lăng mộ. Được các bậc cao niên trong hoàng tộc giảng các ngôi vị từng lăng.
Dần dà ta cũng vỡ ra, không phải ai cũng được chọn vào chân gác lăng. Trong một lần hoà thượng chủ trì chùa Thiên Mụ lộ ra, đức ông là người trong hoàng tộc đã nhận ra người bà con xa từ quý hương đang thất cơ lỡ vận. Ông nhờ hoà thượng cho trú chân để trau rồi kinh kệ rồi mới tuyển vào làm người hầu hạ trông coi phần mộ vua cha.
Từ kẻ thất cơ lỡ vận ta đã thành người thân tín tin cậy. Những ngày được lau chùi bệ thờ, tắm rửa cho các ngài. Ta vẫn thầm khấn mong chờ, đời gặp may mắn.
Một lần quý cô đi lễ ở lăng tổ, nàng vì lúng túng thế nào đã ngã xuống đò khi đi trên dòng Như Ý. Sẵn nghề chài lưới ở sông quê, ta đã cứu nàng thoát nạn. Nhưng nàng đã đau ốm hàng năm trời. Qua cơn tai biến nàng thành người trầm lặng, ít giao thiệp. Quý ông gọi ta đến dinh thự đãi cơm. Thật không thể diễn tả xiết sự xúc động trong lòng. Quý ông nhìn ta rồi gọi vào trong:
- Đào Hoa con, ra đây cha dạy!
Nàng ra ngồi đối diện với ta, ánh mắt nhìn đầy ơn trọng.
- Cháu ạ! Ta biết cháu là chàng trai có hiếu, chăm lo dầu đèn cho tổ tiên... Ta muốn gả con gái yêu của ta cho con. Trong lòng, nó cảm mến cháu từ lâu... Chỉ hiềm một điều, kể từ lần ngã xuống sông. Như ý nó không còn nói được nữa, ta cũng chạy chữa hết các thầy rồi... Nói đoạn ông nhìn vào mắt ta - Nếu con không muốn ta không ép - Con gái ta cũng có chí hướng vào hầu hạ đức Phật.
Nghe đến đó ta giật thót con tim, chỉ nghĩ phải xa nàng là lòng ta chẳng còn thiết sống nữa. Nếu có số mệnh thì nàng đã định đoạt đời ta từ lần gặp đầu tiên. Nàng nghe và hiểu điều ta nói. Nàng chỉ biết «dạ» đáp lại lời ta - Ôi! Tiếng dạ mới mến yêu quý giá làm sao. Chỉ ở các cô gái Huế mới có tiếng dạ ấy - Phải không nào?
Huy miên man trong suy tư không dứt được câu chuyện lão Tra kể về cuộc đời cái đêm gác ở lăng Tự Đức. Huy tự hỏi, không hiểu ông vua ham thơ phú kia, có biết con người si mê coi thi ca là thần tượng lại làm việc trông coi bia mộ. Có biết hậu duệ của các ngài là lão Tra kia đang chi phối cuộc đời Huy. Là lăng mộ, các cung điện nguy nga, hay con gái yêu của lão Tra - Tôn Nữ Hương Giang đang kìm chân Huy lại, Huy neo đậu lại nơi này là sai hay đúng đây?
Huy từng có những ngày sống âm thầm đọc sách về chùa chiền lăng mộ. Từng có lúc tự hào nói với bạn bè ngửi được trong gió thoảng có mùi vị của lịch sử.Từng viết những vần thơ đọc cho bạn bè nghe và in trên báo... Đến Lam kinh ngồi lặng trước kinh thành, nghe tiếng gió cổ thụ nói với Huy những thông điệp về thời gian. Thấy chạnh lòng cùng thành đá nhà Hồ chôn vùi ước mơ cải cách của Hồ Quý Ly... Cùng bạn bè chèo thuyền trên sông Bạch Đằng đoán xem nơi nào có cọc cắm của Trần Hưng Đạo trong trận thuỷ chiến với quân Nguyên.
Lịch sử tưởng chừng bắt trúng mạch đập của tim anh. Như vậy kinh thành Huế đã là nơi anh chọn. Anh phải sung vào chăm chân gác lăng mộ rồi từ đó chiếm lĩnh lấy nghề. Hoặc không bao giờ có cơ hội. Hàng ngày dẫn khách đi, ngó nhìn hướng dẫn cho họ hiểu những phần chính yếu nhất của người nằm trong mồ. Có phải tượng này là ảnh hình thật của người này, người nọ. Ông này sống lành hay dữ, có bao nhiêu vợ... ăn những món chi, yêu nước hay bán nước? Có lúc phải quên đi chí hướng của đời họ mà giới thiệu cái vỏ lịch sử dưới dạng vãn cảnh du lịch. Gợi nhớ về nơi nhọc nhằn của người nông dân vô danh, chở đá xanh ở Nhồi, gỗ lim ở Nghệ An, đá trắng ở đất Quảng, bát vỡ ở Bát Tràng... dát lên cho vừa ý nhất thời của người nằm dưới mộ.
Nghề nghiệp, hay tiếng gọi của nàng, người con gái xứ Huế - Tôn Nữ Hương Giang.
Anh đã toan đào tẩu về chốn ruộng đồng, để mặc phía sau lưng khát vọng của thi ca, của dòng Hương Giang thơ mộng, của những cơn mưa dài hoi, đều đều cứa vào giấc ngủ, cùng sự im lặng của hàng người trăm năm đứng chầu dưới sân rồng.
Lão Tra con người kỳ cục ấy đã bỏ cả tuổi thơ về giấc mộng kinh thành. Chiến tranh, giặc giã, sự chia cắt Nam Bắc không cho lão gặp được người cha. Từ lúc cầm chiếc vé hoả xa ra đi, năm sáu chục năm sau lão dẫn người vợ câm về đứng lặng trước nấm cỏ xanh nơi đất quý hương mà cả đời lão thì thầm với lăng tẩm bệ rồng trước sự ngạc nhiên của dân làng, thân thiết mà xa lạ. Lão không khỏi nhớ đến người cha nông dân của mình. Họ là vua đấy, nhưng lý ra gọi con là bác và xưng cháu... lão Tra đã làm được điều cha dặn. Tìm được bà con họ hàng, không chăm sóc các đức vua lúc họ còn sống, ông chăm nom hương khói cho họ lúc dưới mồ. Ngày ngày ông như nghe được tiếng nói bằng cử chỉ. Nhưng ông và người vợ yêu quý phải học nhau từ hai thế giới nhập vào làm một. Từ một gã cha căng chú kiết ông phải học cả chữ Tây, chữ Tàu để đọc được lời người nằm dưới mồ kể lại... khúc ca của họ đêm thú vui trên sông Hương. Lệnh truyền của họ tới lê dân... Bù lại sự nhọc nhằn, nhàm chán là lão và người vợ đẹp nhưng câm đã nói với nhau bằng cử chỉ, kí hiệu và chữ viết... kể từ lần ở chùa Thiên Mụ năm ấy, số phận lão Tra đã khác.
Huy nhận ra sự bực bội của lão đối với mình. Ông nhận ra sự chản nản, thất vọng của chàng. Ông muốn Huy và những người trẻ tuổi hiểu như ông hoặc hơn ông tiếng nói của người nằm dưới mồ. Huy có lúc đã nghe tiếng cười tự tin nơi lão Tra.
- Lúc sống có khi hùng hổ gây oan ra cho người ta vậy mà nằm dưới đó ngài trở nên hiền lành... Lúc đầu ta rất sợ... mấy ông giải phóng phá trụi chùa chiền và lăng mộ như có kẻ nói. Ta sẽ bị thất nghiệp, phải rời xa thói quen được lắng nghe ý nghĩ của mình trong u tịch... được lau bụi bặm cho những khuôn mặt ngồi im lìm đắm chìm trong thời gian... Ta thật mừng, lão Tra nhìn Huy với con mắt hiền dịu, gia ân của vua chúa.
- Mi có thấy hàng ngày các ngài nói gì không?
- Dạ! Lại dạ - ý nghĩ ấy làm cho Huy thấm buồn, vì anh chả nói được điều gì cho ra hồn. Anh thành kẻ vô vị, thụ động như một cái máy, vâng dạ cho qua chuyện... mà cái đích của anh không phải là vậy.
- Anh có nghe được tiếng của cha em nói không? Tôn Nữ Hương Giang hỏi chàng.
Đó là cô con gái út của lão Tra. Khác với mẹ trời cho sắc đẹp và giọng ca hút hồn. Lão Tra yêu mẹ cô bằng cả cuộc đời. Yêu mến sống và tin cậy, trung thành và kính trọng. Huy lại khác, anh đến với Tôn Nữ Hương Giang bằng khát vọng của kẻ đi tìm quá khứ, đi tìm định mệnh của mình và thi ca...
Bằng sự xúc động cồn cào khi rời lăng mộ thả hồn theo sông Hương. Uống từng lời của nàng qua giọng ca buồn lằng lặng:
Bây giờ gõ chén sông Hương
Lanh canh phách nhịp bốn phương cung đình
Một suông trăng ở hoàng thành
Một trăng suông nhạt chòng đáy sông (1

Huy và Tôn Nữ Hương Giang ngồi im lìm mặc cho mưa rắc đẫm mái đầu. Nước mắt họ chan vào nhau nghẹn ngào trong hạnh phúc. Lời lão Tra nghe thoảng thốt trong hơi mưa:
- Mi có nghe được sau lời ca ấy nói gì không?
- Dạ! - Huy chưa kịp suy nghĩ gì cả. Anh đang chết lặng vì hạnh phúc. Hạnh phúc của lão Tra là được công ăn việc làm, người đẹp câm lặng và niềm vui dâng hương, cần mẫn chăm sóc cho lăng mộ, nằm im trong giấc ngủ hàng trăm năm... Huy còn có thêm tiếng hát của nàng. Phải, tiếng hát trên con thuyền trôi trên sông Hương.
Đêm nay, đi đò trên dòng sông Hương, Huy mới nhận ra điều lão Tra nói sau lần trở lại nhận chân gác lăng mộ. Số phận đã ban cho ông tình yêu, nhưng lấy mất tiếng nói của người vợ mà ông hằng yêu dấu. Lăng mộ thì im lìm chứa trong nó những bí mật của vua chúa. Ơn đức và tội ác. Nhưng với người vợ là bí mật của cuộc đời ông. Hầu như toàn bộ niềm yêu dấu, tin yêu chứa trong tim bà trầm lặng, khát khao như dòng sông. Ông tìm thấy trong đó sự yên ổn, đức tin để lại im lặng lắng nghe tiếng nói của thâm nghiêm. Cuộc sống lặp lại nhiều khi đến nhàm chán. Nếu chùa chiền là nơi khách thập phương đến cầu xin lời giải đáp, thì lăng mộ cho người ta sự so sánh cật vấn cùng lịch sử. Người ta tìm thấy sự sáng tạo của cha ông. Đời người qua đi như ánh chớp nhưng bia mộ còn đó, vớt vát cái bóng trong cõi vô cùng.
- Anh nghĩ chi mà thần mặt ra rứa! - Tôn Nữ Hương Giang lay vào vai anh, thì thào.
- Anh đang nghĩ đến em! - Huy trả lời nàng.
Mà anh nghĩ đến nàng thật. Anh không phải như cha nàng, toan cắt tóc đi tu trong cơn bĩ cực. Anh cũng lúng túng về sự lựa chọn công việc. Anh không được như cha của nàng, biết lắng nghe tiếng nói của bia mộ. Tìm trong đó sự bí mật của tâm linh. Anh là nhà khoa học, tin nhận ra sự thấm đẫm của mồ hôi người lao động vô danh làm người tình ngôi mộ. Anh đọc được niên đại của từng viên đá lát. Tưởng như trong đó có lời thở than của mồ hôi và muối mặn. Nhưng anh thật sự choáng ngợp trước hạnh phúc bất ngờ của nàng đem đến. Nàng bí mật như dòng sông Hương. Nàng khác xa mẹ, mẹ đem tình yêu nồng cháy ban cho cha mà không hề mặc cả. Còn nàng biết ca lên khúc nam ai, rắc vào tâm hồn họ sự diệu kỳ của lăng mộ, đất đai và dòng sông. Như dòng sông hiền dịu, nhưng vẫn là bí mật. Anh khát khao được thổ lộ cùng nàng điều suy nghĩ ấy.
- Em ạ! - Anh phải nói ra tất cả ngay đêm nay hoặc không bao giờ.
- Dạ! - Lại dạ - Huy thoáng nghĩ, thói quen mà anh học được ở Huế. Nhưng với anh chỉ là hư từ, còn với nàng là trái tim yêu đương, biểu cảm sự dịu ngọt của tấm lòng.
- Anh rất yêu em!
- Dạ!
- Nhưng anh rất sợ - Sự ích kỷ của gã đàn ông không cho Huy nói ra lời - Anh rất sợ tiếng hát của nàng không còn là của riêng anh, mà là cho tất cả mọi người. Nàng lại dạo đàn và buông xuống sông Hương lời tỏ tình vĩnh cửu này như thuyền trôi trên sông
Trên sông Hương chừ em chèo thuyền đưa khách.
Anh có về kịp phiên chợ Đông Ba
Bây chừ nói với mẹ với cha
Nên duyên thì đặng kẻo ra thì đôi ta lỡ đò...

Thuyền ai thả đèn trôi trên sông, Huy bắt gặp trên đó mắt của nàng, dịu dàng mà cháy bỏng.
- Huế như con gái nơi ni... yêu cứ lẳng lặng như dòng Hương Giang nờ...
- Tiếng nói của nàng hay dòng sông cất lên. Không phân biệt được rõ rệt.



(Rút trong tập truyện ngắn: Từ Nguyên Tĩnh- NXB Công an nhân dân- 2006)










© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản của tác giả ngày 20.08.2008.