NGƯỜI KHÔNG GIĂNG CÂU KIỀU
Lão Tư Cua mới nhập cư xóm Trạch Thắng gần năm nay.
Có lẽ lão là người khang khác với mọi người trong xóm, khi dám to tiếng với cụ Phiệt, người được kính sợ số một lâu nay: “Ông lộn rồi! Lộn rồi! Đại lầm lẫn! Ăn kiêng uống dè, không phải là nguyên nhân sức khỏe, mà lại là hậu quả của bệnh đau... Tôi không nuốt nổi cái quy tắc quái dị của ông!”
Nghe thế, cụ Phiệt nín thinh, chỉ cười cười.
Ví như có ai đó vô tình nhắc đến tiếng “vợ”, thì lão cười to, nhìn cụ Phiệt: “Phật ngày nào cũng dạy vào tai tôi rằng. Ai có một tình duyên là có một dây ràng buộc. Ai có hai tình duyên là có hai dây ràng buộc...” Tôi đây, lão nhắm mắt, những ánh lửa lấp lánh táo tợn biến mất, râu tóc như mềm lại, nếp nhăn sâu vào, cơ thể như đang gồng ở tầng sâu bởi vướng vào phải trăm ngàn nỗi đau. Lúc ấy, lão giống như một nghệ sĩ phái khắc kỷ muốn đào ngũ, cộng thêm một chút tử tù, pha thêm một chút thiền sư. Tiếp, lão ngâm nga, giờ thì lại giống nghệ sĩ hát opera: “Còn tôi... hậu sinh ngu muội... thêm rằng: Ai có một trăm tình duyên là có... một giàn câu Kiều ràng buộc...”. Lúc ấy, người ta có thể thấy được những gợn chuyển động đau đớn chạy trên da lão. Và, người ta hiểu rằng, lão không nói chơi.
Sáu tháng trước vì túng quẫn, lão bắt chước một ai đó của tổ tiên, mà làm một giàn câu Kiều để bắt Cua Đinh. Lão mua lưỡi câu (đến 500 cái) to bằng ngón út. Từng lưỡi câu ấy, lão cột vào một đoạn dây nylon dài 4 tấc. Đầu kia lão đính vào một cái phao nhựa màu xanh. Cái phao này, lão tính toán kỹ lưỡng, chỉ đủ sức nâng đoạn dây thẳng đứng, còn lưỡi câu vẫn rà sát đáy sông.
Cả 500 đoạn dây có phao và lưỡi câu ấy, lão đem gắn dày vào một sợi dây nylon lớn hơn và rất dài, để làm dây đỏi.
Tại bến Thang, nơi phía có vực Bà Xíu rất sâu, lão chèo ghe và buông dây đỏi từ từ xuống sông. Giàn câu Kiều của lão từ từ chìm xuống và tự động dừng lại khi lưỡi câu chạm đất, tạo thành một hàng rào dày đặc lưỡi câu.
Khi buông câu gần hết dây đỏi, lão nghe động và sợi dây đỏi căng thẳng. Lão cố chèo ghe vào bờ nhưng không được. Lão cột đầu dây đỏi vào thang ghe và cố chèo. Vô ích, sợi dây đỏi kéo ghe lão chạy lung tung. Phải một tiếng đồng hồ sau, sợi dây mới nằm yên. Lão cố chèo ghe và khi tới bờ, lão lấy hết sức kéo dây thu lại.
Giàn câu Kiều của lão trói móc được một con Cua Đinh to bằng cái mẹt và một con Chình Bông to bằng bắp chân.
Lão không tài nào gỡ dây và lưỡi câu ra được. Hàng trăm lưỡi câu móc vào thân thể con Cua Đinh và con Chình Bông. Hai con vật mắc câu Kiều của lão trông thê thảm, thịt da rách toát đến ló xương. Lão không dám nhìn.
Ngày hôm sau, lão đốt giàn câu Kiều. Và từ ấy, lão bắt Cua Đinh bằng tay không.
Và cũng từ ấy, lão khinh bỉ, ghê tởm dụng cụ này, vì nó hiểm ác.
Năm nay, lão 69 tuổi.
Râu lão tua tủa gai xương rồng, tóc bàn chải, da khói bếp, xương cốt dềnh dàng, trông giống cái chân cầu sập sau lụt.
Mặt lão góc cạnh, má lòng chảo, cằm trái búa, mắt hố sâu có lửa, nếp nhăn dao xẻ.
Nói chung, lão như được làm bằng sắt truyền điện, có thể bị sét gỉ ăn mòn, nhưng đến cọp cũng không dám cắn.
Người xóm Trạch chưa thấy lão bệnh lần nào.
♣♣♣
Tuần trước, trong đám giỗ nhà ông Sùng máy gạo, người xóm Trạch Thắng mới biết hết về lão Tư Cua, khi lão gay gắt với cụ Phiệt (cũng cứ với cụ Phiệt): “Ông kêu tên Thắng của tôi làm chi? Một cái tên gần xuống lỗ, mà ý nghĩa còn nằm trong tương lai”. Lão ngưng một chút, tợp hết ly rượu, to tiếng: “Tôi thứ tư, có nghề bắt Cua Đinh không thèm dùng câu Kiều, thì ông cứ gọi tôi là Tư Cua cho gọn, chừng nào tôi bắt được con Cua Đinh Xe Tăng, nằm dưới hố bom cầu Phả bầu Ấu, chừng ấy, ông hãy gọi tôi là Thắng”.
Ngửi thấy mùi rượu nồng nặc từ lão Tư Cua bay ra, cụ Phiệt ngừng nhai. Nhìn kỹ lão, đột ngột cụ buông đũa: “Ôi! Ông dám bắt Cua Đinh Xe Tăng bằng tay không à?”. Cụ vuốt ngực, thè lưỡi, tròn mắt hãi hùng gật đầu, nói tiếp: “Thật đáng bái phục!”. Xong, cụ cười sằng sặc: “Nhưng mà chừng nào ông bắt?”. Cụ nhướng mắt nhìn thẳng vào mặt lão Tư Cua, vẻ chờ đợi câu trả lời.
Lão Tư Cua nín thinh. Lão kiềm chế.
Cụ Phiệt cười khẩy, mắt sáng lên, vẻ sợ sệt biến mất, cụ đảo mắt, ý thức rõ ràng xung quanh có đông người, cụ đứng dậy, to tiếng: “Ông nói chí phải... Cứ gọi Tư Cua là đúng, còn Thắng thì...”. Cụ Phiệt bỏ lửng câu nói, bước ra khỏi bàn. Đi thẳng lại chỗ chú Quết khùng, cụ thì thầm vào tai chú, rồi trở về chỗ cũ, cầm đũa ăn tiếp.
Ai cũng nhìn sững cụ.
Chú Quết khùng là một người bệnh tâm thần, chú lặp lại mãi bất cứ câu gì người ta nói vào tai chú.
Mọi người có mặt đều im lặng, căng thẳng.
Bỗng chú Quết khùng cười ré lên, vỗ tay, giọng lại cái: “Ô hô! Tên Thắng chỉ để ghi trên bia mộ... Ô hô! Tên Thắng chỉ để ghi trên bia mộ!”.
Lão Tư Cua nóng bừng mặt, sợi gân khóe mắt trái lão giật liên hồi.
Thấy vậy, cụ Phiệt vội đứng dậy, đi xa bàn ăn một đoạn, cụ quay lại nói với Tư Cua: “Ông nợ tôi một câu trả lời đấy nhé?”.
Lão Tư Cua bật dậy như một lò xo, hét: “Nợ câu gì?”.
Cụ Phiệt trỏ ngón tay nhịp nhịp theo từng lời: “Chừng nào ông bắt được con Cua Đinh Xe Tăng mà không dùng câu Kiều?”.
Gian ngoài vọng lại giọng lại cái của chú Quết tâm thần. Lão Tư Cua đập bàn chỉ tay vào mặt cụ Phiệt: “Ngày mai tôi bắt”.
♣♣♣
Lúc lão Tư Cua tuyên bố trong cơn bị kích động vì dồn ép, rằng: “Ngày mai tôi bắt”, thì tại hố bom cầu Phả bầu Ấu, con Cua Đinh Xe Tăng ấy trèo lên bờ, hiên ngang chạy vào đồng ruộng, rượt bầy vịt của chú Bảy ấp tán loạn.
Nó to bằng cái nia, mốc xì như xe tăng, cổ bằng bắp chân, chỉa ra như nòng đại bác.
Và, chỉ 5 phút sau, tại đám giỗ nhà ông Sùng máy gạo, mọi người đều hay, do đám trẻ nít mang tin đến.
Cua Đinh là loại động vật có họ hàng với ba ba và rùa, nhưng nó khá lớn, có thể to bằng cái nia là tối đa. Sở dĩ gọi là Cua Đinh vì khoảng trước đầu và xung quanh mai, có nổi lên đều đặn một hàng những cục thịt nhỏ, trông giống như được đóng đinh. Đó là những cục u mềm mà ở rùa không có. Cua Đinh là loại ở nước, nhưng lại đẻ trên cạn, có mai cứng ở phần trung tâm, càng ra xa càng mềm, phần có hàng đinh là phần mềm nhất. Cua Đinh bơi, bò 4 chân như rùa, nó có cổ dài, đầu hình mũi mác và một cái đuôi rất ngắn. Răng nó không phải từng chiếc, mà là một bờ xương cứng như sắt. Nó ngậm rất chặt và mạnh như mõ kìm. Người ta thử dứ lưỡi rựa, nó thò đầu táp và lưỡi rựa mẻ sứt. Nó đặc biệt hung dữ khi tự vệ.
Thịt Cua Đinh ăn ngon, bổ và mát. Mai Cua Đinh phơi khô, dùng làm đòn ngồi rất sang và đẹp. Càng ngồi lâu năm càng bóng láng hoa văn. Nếu túng quẫn, có thể đem bán những chiếc đòn ấy cho hiệu thuốc Bắc để chế cao Quy bản thay Rùa, có chất lượng tương đương.
♣♣♣
Khi nghe tin, mọi người có mặt ở đám giỗ nhà ông Sùng đều xôn xao. Linh tính họ ngửi thấy một biến cố.
Lúc này, cụ Phiệt mạnh dạn quay lại vỗ vai Tư Cua: “Sao? Đại trượng phu nói là hành đấy nhé!”. Lão vuốt kéo bộ râu cằm trắng như tuyết ra phía trước, cười hinh hích như bị hút nhột, rồi tiến lại bàn nước, ngồi uống trà.
Thầy Tào, tu tại gia kiêm nghề địa lý, lê dép tiến lại lão Cua, thầy phe phẩy quạt, nói mát: “Thắng mà lị”
Mọi người cười ồ.
Lão Tư Cua nhìn sững tóe lửa vào thầy Tào.
Lại có tiếng bà Phón, giọng ồ ồ như vịt đực từ nhà dưới vọng lên: “Nó nghe ổng nói, nó run rét, trèo lên bờ để trình diện đấy! Oai nhỉ!”.
Mọi người lại cười ồ.
Ở hiện trường, chú Quết tâm thần cứ vỗ tay: “Ô hô! Tên Thắng chỉ để ghi trên bia mộ... Ô hô!”.
Mọi người cười tiếp.
Mặt lão Tư Cua tím lại. Lão cắn chặt răng. Lão thấy rõ ràng, mình không những chiến đấu với con Cua Đinh Xe Tăng, mà còn phải chiến đấu với một bầy Cua Đinh nữa.
Đột nhiên, lão muốn chiến đấu liền. Lão nắm chặt nắm đấm, đi lại bàn nước, chỗ cụ Phiệt đang ngồi. Mắt lão long lên, nẹt lửa, tiếng nói rít trong hàm răng: “Con Cua Đinh đầu tiên, dùng tay mà không cần giăng câu Kiều là... mày”. Rồi cùng lúc với tiếng “mày”, là một cú đấm như trời giáng vào mặt cụ Phiệt. Cụ lăn quay xuống nền xi-măng, ngã đổ chiếc quạt máy.
Tiếp rất nhanh, lão Tư Cua đến chỗ thầy Tào, tiếng nói cũng rít trong hàm răng: “Con Cua Đinh thứ hai, chỉ dùng tay mà không giăng câu Kiều là... mày”. Một cú trời giáng nữa vào mặt thầy Tào. Thầy lại lăn quay.
Lúc này mọi người nhốn nháo.
Lão Tư Cua chạy xuống nhà dưới. Thấy lão, bà Phón hoảng vía vụt phóng ra cửa sau. Bà vấp ngã, té vào nồi ca ri đang sôi sùng sục, bà thét lên.
Nghe tiếng thét của bà Phón, lão khựng lại.
Nhìn quang cảnh tán loạn, đột nhiên lão nhận ra mình thật bơ vơ, không nơi nương tựa.
Lão lầm lũi bỏ đi.
Sau lưng lão không còn tiếng cười, không còn tiếng chế nhạo, chỉ có tiếng la làng, tiếng chửi rủa náo loạn.
♣♣♣
Lão không đi về nhà, lão đến cầu Phả bầu Ấu, lão đi bắt con Cua Đinh Xe Tăng.
Lão men theo bờ bầu Ấu đến nơi lỗ bom. Lão chăm chăm nhìn xuống mặt nước. Bỗng, lão thấy có những đường tăm sủi bọt trồi liên tiếp trước mặt lão, cách bờ khoảng 5 mét. Lão mừng rơn, lẩm bẩm: “Mày đang thở đấy à! Chờ nhé! Ta đi tìm hòn đá”.
Lão chạy đến chân cầu, bê cục đá to bằng cái đầu. Lão đặt hòn đá xuống bờ, rồi bắt đầu cởi quần áo, chỉ mặc xà lỏn.
Lão nâng hòn đá, chao qua chao lại như đưa võng để lấy trớn, và quăng đúng ngay nơi có từng đợt bọt sủi tăm từ đáy bầu vọt lên. Tiếp, lão phóng ngay chỗ hòn đá rơi, lặn xuống...
Bằng những động tác nhanh chóng và chính xác, lão đến ngay đích hòn đá rơi.
Hòn đá rơi thẳng đứng. Chìm xuống đáy bầu, đập trúng ngay phần mai trước đầu con Cua Đinh Xe Tăng. Bị độâng bất ngờ, nó thò dài đầu chui vào đất bùn, như một phản xạ.
Vận hết sức lực, bàn tay trái lão bấu chặt vào chỗ lõm đầu mai, nơi cổ con Cua Đinh rụt ra rụt vào, níu chặt vào người. Bàn tay phải lão bám chặt vào chỗ lõm sát đuôi, cùng lúc với đầu gối chân phải ấn mạnh vào mai, đẩy ra.
Con Cua Đinh Xe Tăng hoảng hốt rụt đầu vào, bung bốn chân vọt đi chỗ khác. Nó chở lão Tư Cua trên lưng.
Lão thu hết sức lực, kéo tay trái vào, đẩy tay phải ra, cộng chung với sức đầu gối. Con Cua Đinh Xe Tăng bị dựng đứng trong nước, nó vọt lên, lôi theo lão Tư Cua.
Chân trái lão đạp nước đẩy theo, dùng hai tay lái con Cua Đinh vào bờ. Bàn tay phải lão cố bấu mạnh từng nhịp vào chỗ lõm sát đuôi của Cua Đinh, nó vọt thẳng lên bờ.
Lão không đủ sức dùng hai tay xoay, để lật ngửa nó lên, nó nặng quá, to quá.
Bỗng lão nghe tiếng quát lớn: “Tránh ra”. Lão ngước lên và thả tay, nhảy vọt sang một bên.
Sáu tiếng súng M16 nổ vào thân thể con Cua Đinh Xe Tăng.
Lão Tư Cua sửng sốt.
Trưởng công an xã và hai du kích tiến sát lại. Trưởng công an quát: “Ông vừa đánh người phải chở đi bệnh viện. Gây mất an ninh trật tự tại nhà ông Sùng. Chúng tôi giải ông về xã”.
Lão Tư Cua không ngạc nhiên về chuyện ấy, lão chỉ ngạc nhiên, tại sao họ lại bắn chết con Cua Đinh Xe Tăng bằng súng, mà con Cua Đinh ấy lão vừa bắt sống. Con Cua Đinh của lão.
Nghe súng nổ, dân xóm Trạch Thắng kéo đến. Họ cứ nhìn mãi con Cua Đinh Xe Tăng, rồi nhìn lão. Trông họ nhợt nhạt vô hồn.
Lúc này, lão cảm thấy rõ ràng mình trống vắng đến cực độ. Lòng lão, đầu lão đều trống trơn. Lão nhìn xung quanh như xem ti vi, lão thấy đám đông bao quanh như không có thật, kể cả con Cua Đinh Xe Tăng cũng vậy, tiếng súng nổ cũng vậy. Không những không có thật, mà còn vô nghĩa, mà vô nghĩa thì cũng từa tựa như vô ích.
Lão muốn xa đám đông, lão hét lớn: “Các ông dẫn tôi đi nhanh lên”.
Trưởng công an lại hét chuyển sang hai chú du kích: “Dẫn lão đi. Tao ở lại lo con Cua Đinh”.
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả ngày 19.08.2008.
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.
|