Sinh năm 1923 tại Tours (Pháp)
Học trung học rồi toán học và triết học tại Tours, Potitiers và Paris
Nhiều công trình về hình dạng và khoảnh khắc của thi pháp
Từ 1960 đã được mời dạy tại nhiều viện Đại học
Giáo sư tại học viện Pháp từ 1981 tới 1993
NHỮNG TÁC PHẨM CHÍNH ĐÃ XUẤT BẢN
1. THƠ : Chuyên luận của người chơi dương cầm, 1946. Vận động và bất động của Douve, 1953. Hôm qua sa mạc ngự trị, 1958. Viết trên đá, 1965. Trong sự lừa dối của ngưỡng vào, 1975. Cái không có ánh sáng, 1987. Truyện kể trong mơ, 1987. Nơi mũi tên rơi, 1988. Cuộc sống lang thang, 1993…
2. TIỂU LUẬN : Cái không chắc chắn, 1959. Arthur Rimbaud, 1961. Một giấc mơ ở Mantoue, 1967. Sự thật lời nói, 1988. Nói chuyện về thơ, 1990. Ghi nhận về hình họa, 1993…
Bên cạnh thơ Đường Trung Quốc, có thơ thời Phục Hưng của Pháp gần gũi với độc giả Việt Nam. Thơ của các nước khác được giới thiệu chưa đủ thấm đẫm tâm hồn Việt Nam. Đối với thơ cuối thế kỷ 19 và 20 của Pháp chỉ số ít những người làm thơ và quan tâm đến thơ mới tiếp cận. Dù trong bối cảnh lịch sử nào, nguời thích mới và lạ không nhiều, người hiểu đúng mới và lạ càng hiếm hoi.
Riêng với thơ từ xưa đến nay người bắt chước viết theo phong cách của nước bạn thường chỉ cố làm giống hình thức. Họ tưởng làm thơ như đóng xe ôtô, cứ đóng thùng xe cho giống là yên tâm (vì máy xe sẽ nhập). Thơ không phải là sản xuất vật thể. Hình thức dùng tân hay cổ là chuyện nhỏ. Ngay từ giữa thế kỷ 19, Nguyễn Văn Siêu đã viết : "Cái tô sức ở bên ngoài (hình thức) thì bên trong tàn tạ ; cái vun đắp ở bên trong (nội dung) thì bên ngoài tốt tươi. Đó gọi là cái lớn (bên trong) thì đủ sức bao dung cái nhỏ, mà cái nhỏ không đủ sức nâng đỡ cái lớn".
Như vậy, học ở người khác trước hết nên suy ngẫm cái lớn, cái bên trong. Cao Bá Quát từng phàn nàn thơ sáo rỗng : "Có thể nghìn bài chứa đầy bể khổ, hầu hết đã cạn khô ruột, ham được khoe (văn vẻ) nhiều, không quan hệ gì đến tính tình cả…" Tô Đông Pha bàn về cách viết có nói: Không học là hơn : Ai hiểu được ý ấy thì có thể cùng nói chuyện và việc làm thơ được"
Vậy dịch thơ của ngôn ngữ khác có nên chăng? Nhà thơ Pháp Yves Bonnefoy trả lời rất xác đáng : "Việc dịch thơ nhận ra và làm nổi bật tính thống nhất của THÂN PHẬN CON NGƯỜI". Dịch không phải chỉ là mô phỏng bề mặt của lời chữ. Phương Đông và phương Tây bao giờ đều chỉ một thông điệp về thơ.
Thân phận con người trong thơ Yves Bonnefoy đã hiện thể đến mức nào mà nhà thơ Pháp này được giới thiệu là ứng viên của giải thưởng văn học Nobel ? Yves Bonnefoy sinh năm 1923 tại Tours, Pháp, đã học toán và triết học. Ông đã đi xuyên qua các trường phái và trào lưu văn học thế kỷ 20 của Pháp (tượng trưng; dada; siêu thực; hiện sinh; cấu trúc; hậu hiện đại…) để còn lại phong cách độc đáo của mình. Kiểu tư duy Yves Bonnefoy: Người lái đò / bằng cây sào ưu tư / đụng vào vai anh / trong bóng đêm che phủ / anh vô vọng dò tìm / tận đáy sông sâu.
Con người sống là dò tìm, không chỉ trượt dài trên lối mòn, dù đó là tiến trình của xã hội hoặc con đường thi ca. Ấy là thân phận cô đơn của lữ khách chân chính.
Trong bài Nghệ thuật thi ca (Art de la posésie) : …trái tim hữu thể / có quỷ dữ trong mạch máu / vừa trốn chạy vừa kêu la / có trong miệng tiếng nói buồn đẫm máu / được lau sạch rồi nói tiếp.
Yves Bonnefoy bị cho là viết khó hiểu, vì sự động não ước lệ và lười biếng. Nếu biết san sẻ ký ức, mở cửa tâm linh sẽ gặp lời đồng điệu nêu trên. Trong thi ca, trái tim chính là hữu thể (L’être), sự tồn tại nền tảng, song khi bơm máu đi trong các đường gân, thớ thịt phải điên cuồng, bạo liệt như loài quỷ. Đó là một trực cảm vô thường, chuyển hoá giữa lành và dữ, giữa đẹp và xấu; giữa nhân tính và thú tính… Tục ngữ Việt Nam có ý tưởng tương đương : "Một lời nói là một đọi máu". Câu thơ là tiếng nói được cân lừơng với máu.
Trong bài Gửi giọng hát KATHELEEN FERRJER (à la voix de Katheleen Ferrjer), Yves Bonnefoy đã chứng nghiệm được những thành tựu của vật lý hạ nguyên tử, các hạt dao động của sóng âm thanh trôi giữa hai bờ :
Dường như em hiểu hết hai bờ / tột bậc sướng vui và khổ đau cùng cực / ngoài kia giữa những cây sậy xám trong ánh sáng / dường như em lấn chiếm vĩnh hằng.
Dù là nhỏ bé như một cây sậy, những người tài hoa vẫn lấn chiếm được vĩnh hằng. Có thể trích thơ của Yves Bonnefoy mãi, vì đến nay đã có hàng chục tác phẩm đã xuất bản. Trong giới hạn bài viết này, Yves Bonnefoy là một gợi ý về vài việc dính dáng đến thi ca.
Suy đến cùng những lời chữ của Cao Bá Quát và Nguyễn Văn Siêu ở phần đầu bài viết giúp người làm thơ soi rọi lại chính mình. Nếu ở thế kỷ 21, mà chỉ làm thơ như ở thế kỷ 13, 15 hay 17 thì không nên làm, vì thời đại nào cũng có đỉnh cao thi ca của nó, bắt chước y như cũ không thể hay hơn được, dẫn đến ước lệ, nhàm chán. Đồng thời bắt chước làm mới theo kiểu hình thức nào đó, giống như ghép nhiều sợi chỉ dọc với nhau, không có sợi chỉ ngang của tâm tư, tình cảm, không thể dệt được tấm lụa thơ óng ả.
Hơn nữa, ai chỉ làm thơ vì cái gì ở bên ngoài nội tâm thì không thể có sáng tạo. Đúng như Rainer – Maria Ricke từng khuyên nhủ : "Tìm lý do bắt buộc ông phải viết, tìm xem nó có cắm rễ vào những nơi sâu kín của tâm hồn ông không ; hãy tự thú nhận với mình xem ông có chết khi bị cấm viết hay không ?" . Những nhân tài thi ca đều trả lời dứt khoát được câu hỏi triệt để này, trong đó có Yves Bonnefoy:
Và đôi mắt hắn nhắm / với tấm thân trần truồng / miệng lại đòi muối mặn / không cần lời chữ suông.
Bút pháp của mỗi dân tộc, mỗi nhà thơ là dấu vân tay của họ. Vì vậy đừng nên mù quáng bắt chước phong cách mà chỉ nên san sẻ thân phận con người trong thi ca nhân loại.
trong NHỮNG CHỮ QUA CẦU TÂM LINH do Nhà X.B. Văn Học xuất bản- 2008.