Tranh của họa sĩ Bửu Chí














I

Anh tôi là sư cụ trụ trì chùa Tụng Thiên. Chùa Tụng Thiên được xây trên ngọn núi cao chon von dãy con Ngựa bên sông Mẹ, có từ lâu đời. Các bậc nhiều chữ nói từ thời Lê lập ra để nhớ ơn một bà ăn mày giúp ngài lúc hàn vi. Lại có người bảo thờ một ông quan bại trận tuẫn tiết không chịu hàng giặc. Điều đó với tôi không quan trọng. Vì tôi đâu có chữ nghĩa nhiều để biết. Chỉ biết anh tôi là sư cụ chùa này. Thật ra ngày mai mới được phong sư cụ. Hiện giờ, anh vẫn là sư bác coi chùa, một cấp bậc cao nhất ở ngôi chùa heo hút, đắm mình vào những ngọn thông. Anh tôi là người có công đi quyên góp của bố thí của người từ tâm làm lại chùa. Lúc xây dựng lại chùa nhiều ý kiến lắm. Người thì bảo nên xây ở sát đường để dễ bề cúng bái thuận lợi xe con, xe máy đến ăn mày cửa phật. Anh tôi ngồi toạ thiền hàng ngày trời lĩnh ý phật tổ. Lúc mở mắt ra reo to:
- A di đà phật! Chính chỗ bần tăng ngồi đây… chính chỗ này có ấn chỉ!
Người ta phải đưa gạch lên núi bằng ba lô. Anh tôi là người bê từng viên gạch lên cho thợ xây.
Bây giờ ngôi chùa đã hoàn tất. Soi mình xuống dòng sông Mẹ. Rặng thông xanh, rì rào trước gió, phảng phất màu sương giăng. Tiếng chuông buông trên mặt nước màu u tịch.
Tôi nhận tin anh được phong sư cụ mà không cầm được nước mắt. Thế là gần ba chục năm anh em xa nhau bây giờ mới được tin anh còn sống. Những năm chiến tranh tôi vào lính, biền biệt tin anh. Mấy lần nghe nói máy bay bỏ bom vào chùa, sư sãi không còn sót một ai. Nền chùa bị san phẳng. Thương anh nhưng biết đâu mà dò hỏi. Tuy là anh em nhưng bây giờ đã khác cõi. Hết chiến tranh tôi trở về căn nhà cũ kỹ của cha mẹ lo xoay cuộc sống. Làm thợ cày đói ăn, đi buôn mất vốn. Tặc lưỡi, thích nhậu mở quán thịt cày. Vợ tôi lành tính nên kệ bố mày, con cái được khúc sương mà gặm. Được tin anh còn sống lại được phong sư cụ nhà tôi trợn tròn mắt:
- Chết chửa! không biết bác ấy có tha cho bố mày cái tội sát sinh không?
- Trời. Mẹ mày tưởng mấy bố đó không ăn thịt chó hay sao? Tôi nói liều.
Dù muốn hay không tôi cũng phải treo cái biển “Nghỉ phép” để đi thăm anh. Mà đúng hơn đi ăn mừng ông anh được phong sư cụ. Anh tôi là người làm to nhất họ, chữ nghĩa nhiều nhất họ. Thằng em tôi tuy quân hàm trung tá về hưu, loay hoay với lợn gà mà vẫn đói. Nó cũng chẳng được học nhiều. Đi liên lạc ở xã rồi thoát nạn mù chữ mà lên. Đứa cháu họ tôi cũng đại học, nhưng làm nghề thiến lợn. Thành không mấy ai có danh. Bà cô tôi trúng một khoá huyện uỷ nhưng vì tham ô công quỹ nên bị cắt chức. Còn làng nhàng trung uý, thiếu uý, sơ cấp nấu ăn, anh nuôi bộ đội… như tôi là loại bét, có ai tính đến. Thế là anh vẫn là người có danh ở đời. Khi nghe tin này tôi đứng ngẩn ra bần thần cả chân tay. Vợ tôi chép miệng:
- Đúng là bác ấy không nghĩ đến trần tục. Suốt đời phấn đấu cho lý tưởng cửa Phật. Bố mày tắm giặt cho sạch kẻo mùi thịt chó làm hôi hám cửa Phật.
- Bố ơi cho con đi với bố!
- Cho con đi thăm bác nhà ta nhé!
Mấy đứa con tôi nhao nhao cả lên đòi đi. Vợ tôi lừ mắt:
- Làm lễ phong sư cụ chứ có phải việc của tụi mày?
Tôi nhảy ùm xuống sông kỳ cọ đỏ cả người. Tâm trạng muốn tẩy rửa phần bụi trần để đến với anh. Ôi người anh. Có biết bao kỷ niệm thuở ấu thơ…
Ngày chín mười tuổi, có người hành khất đến xin ăn nói với cha tôi: “Hai đứa con của ông rồi cũng có đứa phát quan to”. Cha mẹ tôi phì cười, nói bỗ bã cùng người ăn xin:
- Thôi xin bác tha cho. Hai đứa con tôi có gì khác đời đâu. Một thằng nghịch như quỷ mà tham ăn, còn thằng lì lì cả ngày không mở miệng. Ông nhìn anh thương hại.
Ông hành khất ngồi lặng đi hồi lâu, rồi chỉ anh tôi thề:
- Rồi bác xem cậu này ngày sau sẽ có chước lạ.
Chước lạ gì không biết nhưng đi học bị bọn trẻ đánh cũng mặc, về nhà lại bị tôi bắt nạt. Được chia phần củ khoai thì không ăn ngồi ngắm nghía như người niệm phật. Tôi là đứa tham ăn nên vòi vĩnh, cướp giật. Có lần cha tôi bắt cả hai đứa quỳ xuống sân trời nắng chang chang bắt phạt. Tôi khóc bù lu bù loa rồi chuồn, còn anh vẫn ngồi mà chẳng nói chẳng rằng.
Hai anh em sinh đôi, tôi là kẻ phàm phu tục tử, còn anh chay tịnh. Nếu lúc ấy biết phong độ của anh bây giờ thì tôi đỡ phần bát nháo, nhưng sự đời lại chẳng thể nào ngờ.
Một buổi chiều tôi đưa trâu từ đồng về, cha tôi đã đón tôi từ cổng.
- Cu Tít ạ! Anh mày đi theo nhà sư rồi con ạ!
- Trời ơi! sư nào hả cha?
- Sư cụ, cái ông đến ăn xin và xem tướng ấy!
- Không! không! Con bắt đền cha, tìm anh cho con!
- Thôi con ạ! Đó là cái số của anh mày!
Không có tin tức của anh trong mấy chục năm qua. Thỉnh thoảng ở chiến trường nhận được thư của cha tôi, nhưng ông ít nhắc đến anh. Trước khi nhắm mắt ông nói cùng tôi:
- Con ơi! con sống được trở về cùng cha là do anh của mày đêm ngày niệm Phật đấy!
- Anh ở đâu hở cha?
- Nó đi với sư cụ chùa Tụng Thiên, nhưng chiến tranh bom đạn đã phá mất chùa rồi con ạ! - Dừng một lúc ông nói giọng xa xăm: - Sống ở đời... con đừng làm điều ác với ai...
Tôi kiếm kế sinh nhai bằng nghề thịt chó. Tôi nhớ đến anh. Đến lời tiên tri của người hành khất. Tôi lần sang tìm ông bác họ làm nghề thầy bói hỏi về anh. Ông chẳng nói được gì nhiều nhặn. Cười, mặt ngưỡng thiên - Mày thì... loại vô sư vô sách. Anh mày đã đến với cõi Phật, nó đã thành bất tử rồi con ạ. Kẻ tu hành còn đâu nghĩ đến gia đình nữa, lý tưởng của họ là cõi trên kia. Ông giơ tay chỉ lên trời.
Tôi không tin lời ông bác. Tôi nhớ đến anh. Tôi bất lực vì không một lần gặp lại anh mình. Vì trong anh có một phần của cha mẹ tôi tách ra. Nhưng anh không cam chịu phần lầm lỗi của trần gian như tôi.
- Đem cái gì làm quà cho bác được, bố mày? - Vợ tôi căn vặn.
- Hay gói cho bác ít thịt chó! - Thằng con láu cá của tôi nói láo.
Tôi chực bợp tai nó thì vợ tôi cười ra nước mắt: - Nó là miệng lưỡi của ông cả đấy thôi.
Vợ tôi chuẩn bị cho tôi một gánh nặng. Nào là hương vàng, hoa quả. Thị nói rằng là ngày rằm tháng bảy xá tội vong nhân nên nhờ bác tụng niệm cho cha mẹ. Cho một đứa con tôi bị chết oan - cho cái tội tôi hay sát hại những con cày tơ nữa.

II

Tôi tưởng tượng ra sự đón tiếp của chùa chiền. Tôi tưởng tượng ra người anh của tôi như trong truyện mà mình được đọc. Nhưng tất cả đều khác xa.
Một người đầu trọc không nhận ra đàn ông hay đàn bà gặp tôi ngay cổng chùa, đôi mắt không sinh khí chỉ trả lời bằng câu: “Mô Phật”.
- Cụ ơi, tôi đến thăm anh là sư cụ Nhớn ạ!
- Mô phật!
- Cụ ơi! Anh tôi trụ trì ở chùa này ạ!
- Mô phật!
Thật nhục, biết thế này để mấy cậu nhóc đi theo xem chùa, chúng gánh gồng cho đỡ mệt.
Tiếng chuông chùa buông xuống. Từ già cả, trẻ con đều quỳ rạp khấn khứa.
Tôi lần đến ngắm nghiá những khuôn mặt trọc lốc. Không suy nghĩ không ý tưởng, mong tìm kiếm anh mình. Họ đều như nhau, sống đấy nhưng mà như chết, chết mà như nhìn thấy cảnh sống của mình ở cõi cực lạc. Trong hộp sọ kia đang nghĩ gì về thái nhân gian. Tôi hỏi không ai nói. Tất cả mọi người, trong đôi mắt chứa chan niềm ngưỡng vọng. Tưởng chừng ngày mai họ sẽ tìm thấy niềm vui. Kẻ buôn bán thoắt thành giàu có. Kẻ lần mò leo trèo chức tước sẽ có ngay chức tước. Kẻ vô đạo trái tim sẽ ứ đầy lòng thiện. Kẻ si mê tình ái tẩy rửa được thèm khát của nhục dục. Đứa sát nhân khóc lóc, hối hận sẽ hoàn nguyên bàn tay sạch sẽ. Lão già đói bụng được no lòng bởi cõi vô thuỷ vô chung. Tôi đứng nhìn họ, lòng bợn những ý nghĩ hỗn hào của kẻ không tín ngưỡng. Tượng to tượng nhỏ nhìn tôi, khinh miệt trách cứ... Anh tôi là ai, trong những người mặc áo cà sa màu đà kia? Tôi không đến cửa phật để tìm tín ngưỡng mà tìm anh tôi. Người anh sinh đôi của tôi xa nhau từ lúc lên mười. Tôi lếu láo, hiếu động đi tìm cái vui say nơi trần tục. Anh thoát tục tìm lên cõi hư vô. Trời ơi! Sao hai anh em sinh đôi mà chúng tôi khác xa nhau. Tôi lầm lỗi mà anh cao xa. Tôi thực tế, kiếm tìm cho triết lý của dạ dày thì anh ẩn mỉnh trong hương khói?
Một nhà tu hành, đầu trọc khẽ lay tôi:
- Mô phật... thiện nam... muốn thỉnh phật điều chi?
- A men (vì ngu muội tôi đã thốt ra lời đó) - Thưa con đi tìm ông anh là Nhớn ạ!
- Mô phật! - Cụ quỳ sụp xuống mắt ngước nhìn đức phật trên bệ thờ - Rồi lùi xa tôi một bước chân - Đệ ơi “Cu Nhớn” của Đệ đây!
Tôi lao vào ôm lấy anh Nhớn khóc hu hu, mặc cho mọi tín đồ trố mắt ra nhìn. Mặc cho phép tắc của tu hành chia rẽ. Vì tôi chỉ nghĩ một điều, dẫu nay mai anh tôi thành Phật nhưng có một thời anh được Phật gửi cho mẹ tôi hoài thai. Có một thời anh lớn lên từ trần tục. Từ miếng cơm manh áo của làng quê. Trí khôn làm cho tôi sực tỉnh. Tồi quỳ xuống, vái anh lia lịa.
- Mô phật! Em cu Tít đây ạ! Có hai con rồi. Già rồi, khổ lắm anh ơi! Mẹ nó, nhận được tin anh phong sư cụ, gửi quà đến đây biếu anh và cửa Phật. Anh khấn hộ em để cha mẹ phù trợ cho anh thành quan to. Em đỡ đói khát...
- Mô phật! - Anh tôi kéo tôi đứng dậy. Đẩy tôi quỳ trước bàn thờ Phật. Tôi bắt chước người đời lạy như tế sao.
Tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng khấn, hương thơm lừng. Tình cảm gần ba chục năm xa anh làm tôi mê mẩn tâm thần như một nhà tu hành thực sự.

III

Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ tôi chưa một lần được ăn ngon và thoả mãn thèm ăn đến thế. Nem công, chả phượng nhồi đầy vào bao tử. Mấy người, có lẽ là tín đồ của cửa Phật biết tôi là em của cu Nhớn nên gắp cho đầy bát. Trong ánh mắt của họ chứa chất sự khâm phục mà sau này tôi mới phát hiện ra vẻ khinh khi.
Anh tôi ngồi ngắm tôi ăn. Trong men rượu tôi nhìn anh như được sống lại ngày ấu thơ. Tôi nhìn mọi người, cái nhìn đầy kẻ cả. Đại loại, anh tôi to nhất ở đây thì tôi có chút quyền sai khiến mọi người. Xin thêm ít xôi, lấy thêm cút rượu, ăn uống nhồm nhoàm... Tôi biết đâu, trước cửa Phật mỗi chúng sinh đều bình đẳng. Tôi biết đâu, muốn leo trèo lên chức sắc như anh Nhớn của tôi phải thông lầu kinh sử. Phải lao tâm khổ tứ ăn đói, mặc rách, cày ruộng. Lại phải thành tâm trong sự nhận ra lỗi lầm của dương thế. Phải xa lánh sự cám dỗ, cấu véo nhục dục. Tẩy rửa chứ không giấu giếm tội lỗi, không bịp bợm vì họ không sợ bị người trần mắt thịt phán xử, họ sợ sự tối thượng dìm trong bể trầm luân.
Tôi uống rượu, thầm so sánh rượu nhà chùa với rượu quán thịt chó. Tôi nhồi của lạ vào dạ dày thầm so sánh với món dựa mận thịt chó mình nấu có đủ giềng mẻ và mắm tôm.
Tôi không sợ tội trước mắt Phật. Vì tôi tưởng Phật tại tâm nên cốt phần sướng trần tục rồi lên kia mặc kệ (kiếp khác mà lị). Nhưng tất cả không qua mắt anh tôi. Có lẽ anh tôi muốn khảo nghiệm, quan sát tôi để ngày mai, ngày rằm tháng bảy nhận phong hàm sư cụ cho đắc đạo. Anh muốn nhìn đứa em sinh đôi của mình để nghiệm lại cuộc đời đã chọn, đi đến lý tưởng của Thích Ca.
Còn tôi, tôi buông thả cho sự đam mê. Vợ mới dặn lúc sáng: Rằng bố mày chớ say, bố mày thành kính, nhưng lại quên đi ngay. Bố mày chuộc lỗi lầm, bố mày tu nhân tích đức, bố mày đừng tham tiền. Bố mày đừnh ghẹo gái... Tôi trót nhìn vào những bộ mặt ngây thơ như mặt Phật nhưng đam mê sự giàu có. Tôi trót nhìn những gương mặt từ bi nhưng nhai thịt chó đến tắt thở. Tôi lại nghe những lời phỉnh nịnh giả dối mất rồi. Có nghĩa sự từng trải làm cho trái tim tôi nhói đau và nói ra những lời cay đắng với khách hàng đến ăn nên chẳng từ chối sự tham lam tiền bạc?
Tôi cười cợt với những kẻ thắng thế, mượn quán thịt chó của tôi làm nơi hội ngộ. Mượn tôi làm nơi gửi tiền cho sự phô phang. Tôi cười cợt, vụ lợi, tôi si mê thần tiền cho cuộc mưu sinh. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tôi chưa được đánh chén ngon và lạ như đêm nay. Anh nhìn tôi niệm: Mô phật!
Thày chùa (cấp dưới của anh tôi) chắc họ chưa thoát tục hoặc chưa đủ độ dày chân tu khúc khích cười, che giấu nỗi đau của nhục dục.
Tôi say, nằm lăn ra ngủ nơi bệ Phật.
Mọi lỗi lầm tự thi vị hoá. Mọi tiếng cười tôi cho ngoài tai. Tôi là kẻ cho rằng ở đời mọi người đều kém mình, vì vô học tôi nhìn Phật mù mờ.
Tiếng chuông chùa xa vắng, tôi tưởng còn trẻ. Hai anh em nơi sân nhà. Một lão hành khất đến xin ăn. Tôi giấu củ khoai vào túi. Anh tôi đưa cho người ăn xin củ khoai.
Ôi! anh của tôi là người cao nhất họ có chức tước sư cụ. Hơi rượu lâng lâng. Tôi tự hào về anh.
Tôi nhìn thấy một chú tiểu trẻ đẹp nhìn anh tôi mắt không nháy. Tôi nói khẽ với chú tiểu:
- Này em! Em đưa ta đi ngoài đi!
- Mô phật! - chú tiểu, dắt tôi đi trong chuếnh choáng của hơi men.
- Thiện nam, ngài cứ tự tiện! - Chú tiểu nói với tôi rồi dừng lại ở góc chùa.
Lòng tham lam của con người, nỗi ham muốn sắc đẹp làm tôi chếnh choáng. Tôi ôm chầm lấy chú tiểu. Trời ơi! hoá ra không phải là đàn ông, chú tiểu này là đàn bà...

IV

Đêm đó tôi nằm ngay sàn gạch giữa chùa ngáy. Gió thổi làm những tượng phật lay động. Ông hộ pháp, ông thiện, ông ác... cựa mình chuyển động. Họ di chuyển từ các bệ xuống quây lấy tôi. Họ không dùng tay mà chỉ dùng mắt nhìn đã dựng tôi dậy. Không ai nói một câu. Tôi sợ hãi úp mặt xuống đất. Nhưng từ đất các con mắt nhìn vào tôi. Tôi quì rạp xuống vái lia lịa vì không biết rõ ai là cấp cao nhất nên tôi cứ vái vòng tròn. Vái mãi mệt lử không ai nói cho tôi một điều gì có ích. Không ai có lòng tốt giơ tay hoặc nói một lời cho tôi được thôi vái.
Phía sau mọi người đầu trọc lốc tiến đến. Họ ăn mặc toàn áo cà sa. Nhìn lâu toàn người quen thân. Cha tôi, mẹ tôi, anh chị tôi, làng xóm của tôi. Khách đến ăn thịt chó cũng đông đúc. Mấy anh lái xe con và thủ trưởng của họ. Mấy cô gái bát nháo làm nghề “tươi mát”... Đầu trọc lốc như quả bưởi không nói không rằng vây quanh tôi. Trời ơi! Thế hoá ra chỉ có mình không đi tu, đầu còn tóc đây này. Tôi hỏi vợ, thị chẳng nói chẳng rằng đáp lại “Mô phật”. Tôi vái. Vái mong được sự tha thứ. Hoá ra những người thân của tôi, khách đến ăn thịt cày tì tì kia nay đã quay lưng lại với tôi, coi tôi là xa lạ mất rồi.
Tôi quát tướng lên:
- Ta không sợ các người đâu!
Trên các bệ, theo ngôi thứ: Phật Thích Ca, phật Quan Âm Bồ Tát... ông thiện, ông ác mặt xa xăm không thèm chấp chứa đứa tiểu nhân. Tôi quát vào người thân quen. Họ không trả lời, mặt từ bi dõi theo mục đích cao thượng của mình. Người vợ mà tôi từng yêu dấu, có với tôi hai ba mặt con cũng ruồng bỏ tôi. Trời ơi!
Anh tôi ngồi nhắm nghiền mắt niệm Phật.
Tôi đợi chờ anh mở mắt nhận ra mình. Nhưng anh ngồi bất động hướng lòng mình vào cõi xa xăm.
Tiếng chuông chùa rơi vào màn đêm u tịch.

V

Sáng mai tôi theo anh lên ngọn núi sau chùa. Anh muốn hái cho tôi ít lá thuốc đem về làm quà. Anh nói, lộc Phật cả đời tu hành của anh chỉ có lá thuốc trị bệnh cứu người. Cha mẹ sinh ra anh em mình nhưng thiên chức và số phận đã định rồi. Dẫu tôi ở với cõi người cũng phải tu nhân tích đức đặng lên cõi niết bàn. Còn anh, làm môn đệ cửa Phật, anh chẳng ham muốn điều gì. Sống gửi cuộc đời nơi trần gian. Anh em cách biệt không lúc nào gặp nhau.
Tôi lặng lẽ đi theo anh. Dẫu sao anh vẫn là người cao cả của dòng họ. Nhưng còn chuyện chịu khổ của kiếp tu hành tôi thương anh biết nhường nào. Như đoán được ý nghĩ vớ vẩn của tôi, anh nói nhỏ nhẹ.
- Đừng lấy ý nghĩ tội lỗi của mình mà âm mưu, áp đặt cho người khác đệ ạ!
Dòng sông buổi sáng bảng lảng mù sương. Những hàng thông liêu xiêu khổ hạnh lao vun vút lên trời cao. Tôi giật mình vì tiếng la thét đâu đây bên sườn đồi:
- Trời phật ơi! Tôi chết mất!
- Mô phật! Em có nghe tiếng la khóc không!
- Có, em có nghe!...
Hai anh em tôi chạy về phía đồi thoai thoải trải dài xuống bến sông. Tôi nhìn thấy một thiếu phụ ôm bụng la khóc. Tôi đến gần hỏi:
- Chị đau đớn ở đâu mà khóc dữ vậy?
- Trời Phật ơi! tôi chết mất! - Người thiếu phụ vô tình cởi tuột quần áo, trơ ra cái bụng như chiếc trống. Tôi sợ hãi úp mặt xuống đất.
Thú thật hàng ngày làm thịt chó có khi cáu tôi dùng gậy đập chết chó, chả thế vợ tôi nói - Bố mày đi đến đâu chó sủa đến đấy. Có lẽ nó nhận ra cái ác của bố đấy. Nhưng chuyện này tôi hoàn toàn sợ hãi.
Anh tôi vặt nắm lá ở cạnh người thiếu phụ và bảo người ấy nhai. Anh đón tiếng khóc đứa trẻ chào đời. Lấy chiếc liềm cắt cỏ của chị ta cắt rốn cho đứa trẻ.
Tôi không biết làm gì, mặt úp xuống đất vì sợ hãi và vì xấu hổ. Anh dơ hai bàn tay nói với tôi: - Anh đã làm một điều thiện nhưng bàn tay anh đã dơ bẩn mất rồi... Tôi theo anh xuống bến sông. Anh nhảy xuống kỳ cọ đôi tay chảy máu. Miệng tôi lắp bắp:
- Anh ơi, em thật có lỗi với anh!... - Tôi chẳng hiểu mình nói gì.
- Không! Em không có lỗi. Anh mới là người có lỗi. Anh nhìn tôi đăm đăm không sinh khí. Em hứa, hãy để mặc anh... Bàn tay của anh đâu còn sạch sẽ để hành lễ nơi cửa Phật. Nói rồi, anh thả mình trôi theo dòng nước...
Tôi chạy lên bờ hét toáng lên: - Cứu lấy anh Nhớn của tôi - Cứu lấy sư cụ! Cứu lấy!
Người ta đổ ra bến sông. Thuyền bè nườm nượp quăng lưới. Anh tôi được vớt lên ở cạnh chùa. Anh nằm như một con cá. Mặt tươi tỉnh như chẳng hề biết sự việc sảy ra.
Tôi đến ôm chầm lấy anh, mới vừa đây mà giờ cách biệt. Tôi khóc lóc vô vọng.
- Trời ơi! có tôn giáo nào dễ dãi không? Để anh tôi khỏi chết oan, chết uổng vì làm điều thiện?













© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản của tác giả ngày 27.07.2008.


. TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN TỪ NGUYÊN TĨNH CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM TẠI WEB NƯỚC NGOÀI