Tranh của hoạ sĩ Đỗ Duy Tuấn (Huế)





























NGÔN NGỮ CỦA THÂN XÁC



Quan niệm giáo dục của Á đông xưa được tóm gọn trong tính chất quan trọng số một là ngǎn cách. Trong đầu óc các nhà chính trị, các vị có trách nhiệm tổ chức và nǎ́m giữ guồng máy hành chánh, các nhà luân lý và giáo dục, ngay cả các triết gia dù xuất thế hay nhập thế, hình ảnh xã hội lý tưởng của họ luôn luôn là xã hội của thứ lớp, của giai tầng; mà đã muốn xếp đặt cho có thứ lớp, có giai tầng thì bǎ́t buộc phải ngǎn cách. Ngǎn cách đǎ̉ng cấp xã hội, ngǎn cách thứ bậc trong gia đình và ngǎn cách phái tính. Điều đó trái ngược với nhân tính bởi con người đòi hỏi sự gần gũi va chạm. Ông bố bà mẹ nựng nịu đứa con, chàng Lenny của John Steinbeck ve vuốt con chuột, kẻ tình nhân ôm ấp người yêu. Trong các viện bảo tàng, các phòng triển lãm, chúng ta thường thấy giòng chữ cảnh cáo lễ độ nhưng cương quyết: "Xin đừng sờ mó". Ngoài các nhân vật trong nghề (họa sĩ, điêu khǎ́c gia, các tay phê bình nghệ thuật) muốn xán lại sát cạnh tác phẩm để nhận định cách pha màu, lối thực hiện đường nét, những kẻ còn lại khi đến nhòm sát vào mặt khung tranh hay bức tượng, thì chỉ để thỏa mãn một xúi dục thầm kín hoàn toàn thuộc bản nǎng : chỉ vì họ ưa sờ mó ! Cũng có thể sờ mó chỉ vì tò mò, vì muốn tìm hiểu, nhưng sờ mó trên cǎn bản là để thỏa mãn nhu cầu muốn gần gũi, tiếp cận. Cái nhìn, ngôn ngữ chưa đủ để diễn tả thiện cảm ta mong muốn biểu lộ. Chúng ta cần diễn đạt bǎ̀ng cả sự va chạm. Là một cần thiết của xúc giác.

Bộ môn vũ theo vǎn minh đông phương, đặc biệt trong các quốc gia chịu ảnh hưởng vǎn minh Trung Hoa, có tính chất khá đặc biệt. Anh muốn sử dụng điệu bộ của thân xác để diễn tả tình cảm à? - Được thôi, nhưng phải có một giới hạn rõ ràng. Từng người một, anh trước tôi sau tựa như kiểu di chuyển theo lối mòn trên miền núi, kẻ này trước, kẻ nọ nối tiếp, cấm dàn thành hàng ngang, mà nếu cần trình bày lối tập thể có va chạm thì phải là những thành phần cùng giới tính, cấm sự diễn tả phối hợp, nhất là sự cọ xát giữa hai làn da khác phái. Các quốc gia chịu ảnh hưởng vǎn minh Ấn độ lại khác: những tác phẩm kiến trúc ở các đền đài, những biểu tượng các vũ điệu qua hội họa hay điêu khǎ́c nhan nhản khǎ́p các xứ từ Cao miên, Lào, Thái lan, Nam dương, Mã lai cho thấy tính chất phóng túng khó tìm được nơi xứ mình.

Vũ là hình thái nghệ thuật khác biệt với các bộ môn nghệ thuật khác. Thí dụ hội họa: người nghệ sĩ vẽ tranh, mang tranh đến chỗ công cộng trưng bày cho quần chúng ngǎ́m; nhà vǎn viết sách, rồi mang ra xuất bản, người đọc mua về thưởng thức. Lối tham gia kiểu này của giới thưởng ngoạn khá thụ động. Còn các ngành khác như âm nhạc, vũ, kịch, gọi là nghệ thuật quần chúng, sự tham gia của kẻ thưởng ngoạn mang cách thế tích cực hơn nhiều. Họ trình bày sáng tác phẩm của nghệ sĩ theo khả nǎng và cảm quan của họ (khi chưa đủ hứng khởi để tự sáng tạo). Riêng môn vũ vấn đề còn phức tạp hơn nữa. Rõ ràng có hai mặt khác biệt: vũ trình diễn bởi nghệ sĩ và vũ dân gian, vũ theo bài bản và vũ bộc phát hồn nhiên; điệu vũ ở trường hợp này gần với ca hát, nhǎ̀m diễn tả một trạng thái tâm hồn nên chất tự phát nhiều khi lấn át sự mô phỏng theo một công thức hay kiểu mẩu đã được đề nghị. Bạn thất vọng vì một điều gì đó, bạn cất tiếng hát để nổi buồn loang đi nên nhiều lúc bạn không hát theo điệu nhạc có sǎ̃n, mà hát theo cảm xúc; cũng vậy, khi mừng vui, bạn không nhảy theo điệu slow , điệu valse mà bạn nhảy cởn lên loạn xạ. Ở đây, sự biểu tỏ trạng thái tâm hồn của chúng ta rất gần với thú tính, thô vụng và chất phác nhưng hồn nhiên và rất nồng nàn; chúng ta tạm quên những ước đặt của xã hội loài người. Đứng trên quan điểm này mà xét, xã hội Á đông (theo xu hướng Trung Hoa), nhân danh đạo lý, đã trở nên cứng nhǎ́c khô cǎ̀n giả tạo so với các nguồn vǎn minh khác. Xã hội Tây phương được tổ chức sít sao qui cũ, ấy thế mà họ biết dành chỗ cho thân xác được hít thở chút không khí riêng của nó.

Khởi thủy, loài người đã nhận ra rǎ̀ng việc sử dụng ngôn ngữ thân xác có thể đưa vào các mặt sinh hoạt có tính tập thể. Các bộ lạc, mỗi nhóm ngự trị một vùng. Dục vọng đã khiến nhóm nọ muốn chế ngự nhóm kia, vậy là sinh ẩu đả. Khi chuẩn bị ẩu đả, để kích thích máu hǎng say và để đe dọa đối phương, người ta nhảy múa, không phải bǎ̀ng tâm trạng mừng vui mà bǎ̀ng khí thế phẫn nộ, cốt lay chuyển tinh thần địch ; một hình thức tiền thân của nền chiến tranh tâm lý ngày nay. Sau đó, may ra nếu thǎ́ng thế thì một lần nữa, người ta lại nhäy múa, dưới dấu hiệu của khúc khải hoàn. Từ vũ điệu của chinh nhân, ta bước sang vũ điệu của lễ lạc. Có thể là lối múa may tập thể mang tính nghi thức này đã dẫn đến các hình thức vũ trong tôn giáo. Tuy nhiên, các tôn giáo lớn dường như lo sợ tình trạng suy thoái của loại ngôn ngữ thân xác ấy nên đã lánh xa. Dù sao, sự múa may vẫn hiện hữu trong các nghi lễ cúng tế đối với các dân tộc bán khai. Cũng trong mục đích đi tìm một thể dáng vǎn hóa riêng nên mỗi nhóm xã hội loài người đã sáng tạo ra những vũ điệu độc đáo của họ để diễn tả những sinh hoạt hàng ngày, những phong tục tập quán, những thǎng trầm lịch sử mà họ đã trải qua, bao trùm cả một quan niệm nhân sinh cá biệt. Để đạt đến hình thức cao hơn, những vũ điệu sẽ được phối hợp với các bộ môn nghệ thuật khác như kịch (phải chǎng hình thức vũ với điệu bộ -mimique- là tiền thân của thoại kịch ?) và ca nhạc. Tới trình độ này thì buộc lòng phải có sự tổ chức để phối hợp nhịp nhàng nhiều hoạt động cùng một lúc, như loại vũ ballet của Tây phương...

Tôi cho rǎ̀ng tôi nói đã nhiều nhưng vẫn vòng vo loanh quanh mà chưa đả động thực sự tới điều muốn nói vì chưa trở lại được với câu chuyện lúc mở đầu. Là chuyện khiêu vũ. Tôi hoang rất sớm. Rời mái ấm gia đình, tôi tự cho phép tôi tự do. Tuy nghèo xác xơ, tôi đã dành dụm chǎ́t bóp để biết không khí vũ trường. Và từ chỗ biết đến chỗ nghiện không xa. Dù vậy tôi không hề biết nhảy. Đến vũ trường tôi chỉ ngồi trong góc uống rượu và nhìn ngǎ́m. Tuổi niên thiếu, tôi ngại ôm thân thể người đàn bà. Có lẽ là bởi đã thu nhận một nền giáo dục quá nghiêm khǎ́c; cũng có thể là do những mặc cảm khác, và càng tự cấm đoán mình tôi càng lo sợ một oà vỡ nào đó nếu đụng chạm vào họ. Khi đã có gia đình, tôi không đến vũ trường nữa, kể từ lúc này, may thay, tôi cũng không còn ngại ôm thân thể người đàn bà nữa. Nhiều lúc tôi cùng nhà tôi đến vũ trường nhưng cũng chỉ để ngồi một góc nhìn nàng nhảy với kẻ khác. Vì tôi vẫn không biết nhảy. Tôi không ngờ sự cấm kỵ dù đã được giải tỏa lâu đời nhưng bóng ma của nó vẫn còn lãng vãng đâu đó. Cũng bởi lý do không biết nhảy nhưng lại ham vào vũ trường nên tôi có dịp nhìn ngǎ́m (ghen tuông !) và suy ngẫm về hành động ôm nhau của hai thân thể khác phái theo điệu nhạc và đôi chân, nhất là những trường hợp gọi là close-hold. Không kể trường hợp của những cơn thèm muốn bất tử hay những toan tính có trước, không khí vũ trường với tiếng nhạc, sóng người, ánh đèn, và một thân xác sống gần kề đã đưa chúng ta vào một thế giới ảo rất đáng ...đồng tiền bát gạo. Khung cảnh ấy không phải là khung cảnh thường nhật nên nhiều kẻ đã khôn ngoan từ chối không gặp người vũ nữ ngoài khung cảnh vũ trường để có thể ngǎn chia đời sống thành hai phần riêng biệt : phần mộng rất thực và phần thực rất mộng... "Ta ôm người đẹp mong manh, bên nhau mà hồn xa vǎ́ng/ Ta nương theo làn dư âm của khách nǎm xưa yêu nàng.." (Phạm Duy) Nếu bạn đủ sáng suốt để thấy rõ "vấn đề" cỡ đó thì cũng tốt thôi !

Không khí trong gia đình tôi luôn luôn trang nghiêm. Trang nghiêm đến lạnh lẽo, vô hồn. Lẽ ra nơi ấy là nơi những kẻ cùng một gốc phải hǎ̀ng ngày bày tỏ bǎ̀ng mọi cách niềm thương yêu âu yếm để những đứa con như tôi biết rǎ̀ng đó là chốn náu nương cuối cùng khi gặp khó khǎn trong hồi cùng quẫn. Nhưng rủi thay, mẹ tôi mất sớm, bố tôi xa cách. Bố là dụng cụ sửa sai, tương tự như cây roi hay cái thước kẻ. Tôi tin là bố đã quên đóng những vai trò khác còn cần thiết hơn cây roi và cây thước kẻ. Đã thế mẹ tôi lại vǎ́ng mặt nên chúng tôi thiếu mất chất keo để có thể khǎ́ng khít với nhau hơn, và các chị tôi tạm trở thành đàn ông trong một thời gian để thích nghi với hoàn cảnh. Phải nói rǎ̀ng chính sự rời rạc đáng buồn ấy đã khiến tôi trốn khỏi gia đình, đẩy tôi trôi xa, xa quá! Hôm nay tôi ngồi trong cǎn nhà tọa lạc ở một miền lạnh trong khuôn viên ôn đới thuộc vùng bǎ́c bán cầu ngóng về điểm nǎ́ng ấm nơi ấy trong khi nhiều kẻ quen biết đã dần dần đánh mất chỗ trọ trần gian và một số khác đang chuẩn bị đứng bên bờ ly biệt như các chị tôi; bổng nhiên ý nghĩ này đến với tôi khiến tôi giật mình: đã có bao giờ tôi ôm các chị tôi trong tay chưa ? Tại sao dấu hiệu thương yêu âu yếm bǎ̀ng lối biểu lộ đơn giản hồn nhiên như vậy không bao giờ là một cử chỉ dễ dàng đối với tôi ? Từ khi sang xứ người tôi bèn nhập gia tùy tục  : người Pháp tự coi là dân bên bờ Địa trung hải, và theo quan điểm của họ thì họ nồng nàn hơn giống ...hồng mao ! Vì lẽ người Anh ngay cả đến cái bǎ́t tay cũng còn đǎ́n đo nói chi đến việc a đến hôn xả vào má người ; người Pháp trái lại, không đố kỵ việc va chạm. Đàn ông đàn bà quen nhau rồi thì hôn lên hai má như cách thế chào hỏi ; ngay cả hai người đàn ông, nếu đủ thân mật cũng chào nhau theo kiểu ấy. Lợi dụng tục lệ xứ người, tôi tập hôn các con tôi và mỗi bận hôn con tôi lại tiếc không thể hôn những kẻ thân thương của mình trước đây.

Người Tây phương hết sức cá nhân nhưng họ biết cách chia vui xẻ buồn. Lúc buồn quá hay lúc vui quá họ a lại ôm nhau miễn họ cùng đồng chia chung một cảm giác. Người mình kỵ sự chung đụng thân thể quá nên hụt hẩng trong vui trong buồn, chới với hụt hẩng vì không có một thân xác bên cạnh để tựa: những xúc động quá độ bao giờ cũng làm cho chúng ta chênh vênh!



trích “Xứ Người” (tạp ký), chưa xuất bản











© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải trên Newvietart.com theo nguyên bản của tác giả gởi từ miền Nam Pháp ngày 15.06.2008.