Tranh của họa sĩ Đỗ Duy Tuấn (Huế)
Người đàn ông ấy không còn trẻ, mười năm trước tôi gặp, tóc đã hoa râm. Nói giọng đặc Huế. Anh là người Huế chính hiệu, tôi chờ Lan từ thành phố Hồ Chí Minh ra, em điện cho tôi cứ đón ở đường này, khu phố Đại học Huế là gặp. Người đàn ông ấy bán quán. Anh ta gọi tôi: - Này, chờ người nhà hả... Vào quán mình đi... Thấy cung cách hay hay, tôi liền vào quán. Sau này tôi mới biết tên anh là Hải. Chúng tôi không là bạn gần, tôi tận Thanh mà anh ở Huế. Nhưng vào Huế là tôi tìm đến anh. Khoẻ không? - Đã gặp được người yêu chưa? Hải hỏi tôi. Còn anh, tôi hỏi lại Hải, anh cười. Nói là cười đau khổ cũng đúng, mà bảo là cười của người trải lắm sự đời cũng phải. Tôi và Hải đã là bạn với nhau từ dạo ấy.
- Uống gì, hay không uống cũng được... Ngồi quán mình cho vui! - Tôi thích chủ quán kiểu này... Không gay gắt ép khách nên gọi luôn ly rượu.
- Rượu hả... Có đây! - Hả
i rót cho tôi một ly, rót luôn cho mình một ly, cụng cái đến cụp - Mừng hội ngộ. Nhìn tôi chăm chú, rồi hỏi: - Chờ người yêu hả? Tôi ậm ừ cho qua chuyện... Anh ta không hỏi nữa, mắt nhìn sắc chiều buông xuống sông Hương. Cũng có thể anh lắng nghe, tiếng của mẹ con người thiếu phụ nói chuyện - Ba tụi mày còn lo chuyện ngoài đó. Bộ ba quên mẹ con mình rồi má - Tôi bắt gặp anh thở dài, nhưng anh lại hỏi tôi.
- Lính hả!
- Vâng! Tôi cũng đi được ba năm...
- Còn anh?
- Dạ! Chưa đầy ba năm quân dịch...
- Anh dân Huế chính gốc - Tôi nói tránh đi để khỏi chạm đến mặc cảm lính của bên này bên kia.
- Mình đi vì hận đời... Vì bả đó - Anh hất đầu sang nhà bên cạnh. Đang có tiếng chuyện trò của mẹ con người thiếu phụ: - Ba tụi bay bận...
- Thế bà đó không phải vợ anh sao?
- Được thế đã phước.
Tôi sợ làm mất lòng anh, nhìn cặp mắt rầu rĩ kia là biết, vội kêu thêm một ly rượu, âu cũng để giải sầu. Lan dặn tôi anh vào Huế, chờ ở phố Đại học là em xuống xe, tụi mình đi thăm Huế, anh đi một mình không thấu.
- Nào.. Chúc mừng gặp mặt! - Người đàn ông sau này tôi mới biết tên là Hải cụng chén cùng tôi. Tôi và Hải nói chuyện đã thân mật. Hải đặt chén xuống bàn, dường như lắng nghe câu chuyện của người thiếu phụ. Bây giờ tôi mới nhận ra đó là người đàn bà chưa đầy ba mươi, bà mà bán quán thì thật nghịch cảnh. Bà phải bậc quý bà sang trọng... Tôi nghĩ thế và hỏi anh:
- Thế chị kia là...
- Được thế có mà phước! - Anh nâng chén rượu nhấp... Chuyện này không lấy gì làm vui đâu... Đàn ông với nhau mà!
*
Tôi yêu Diệu Hương say đắm, yêu đến mức mê mệt. Cùng hoạt động trong sinh viên Huế mà. Hương là con nhà dòng dõi. Cha du học ở Pháp, lại sang Hoa Kỳ bổ túc, mẹ là con nhà Hoàng Tộc, Diệu Hương đã nói đùa với tôi: - Kinh thành này của nhà em đó... Yêu rồi không biết giận. Tôi là con nhà bán bún bò trên chiếc xe đẩy. Anh mà ngủ đêm ở Huế thuở ấy nhỉ. Tiếng rao “Bún bò ơ” là của mẹ tôi đó. Bà rao như hát. Nàng đã ăn bún bò của mẹ tôi và nhận ra tôi cùng học. Ban đầu tôi xấu hổ nhưng sau thành yêu. Tôi đờn cho nàng ca. Nàng chơi Piano cho tôi tấu. Thương yêu nhau đến dễ sợ. Không nhìn thấy gì ngoài tình yêu. Diệu Hương từng gục đầu vào vai tôi hỏi:
- Anh Hải ơi! Chúng mình không lấy được nhau thì sao?
- Em đừng nói dại!
- Em và anh cùng chết! Nàng dụi nước mắt vào ngực tôi.
Những lúc đó anh bảo sao. Tôi đau quặn. Tôi thấy mình thật bé nhỏ không bảo về được người mình yêu, chết là hơn...
Nhưng chuyện ấy xảy ra thật rồi. Tôi linh cảm mỗi khi thấy tôi và Diệu Hương cặp kè, cha Hương không còn niềm nở. Một hôm ông mời tôi đến lúc Hương vắng nhà.
- Cháu ạ, bác nói cùng con điều này! - Ông đặt ly cà phê trước mặt tôi.
Thú thật anh chưa nhìn thấy cha của Diệu Hương, nếu nhìn chắc mến ông liền. Ông hiểu biết rộng có tư tưởng dân chủ. Bạn bè ông làm trong chính phủ cộng hoà, mời ông nhiều lần ra cộng tác nhưng ông đều từ chối, ông trả lời Chính quyền: Cha ông tôi làm quan nhiều rồi, bây giờ tôi chú trọng vào làm nghề... Thấy tôi ngồi lặng im ông gợi chuyện.
- Hải, cháu đã nghĩ đến sự nghiệp mai này chưa!
- Dạ! - Thú thật tôi đâu có nghĩ, mà nghĩ sao nổi.
- Người đàn ông cần có nghề nghiệp. Phải là trụ cột của gia đình.
- Cháu thật khó nghĩ quá bác ạ! - Tôi mạnh dạn nói.
- Cháu nghĩ sao nổi... Thanh niên thời loạn... Ông dừng lại không nói hết câu.
Cha chết lúc tôi lên ba. Ông không làm cho phía bên này cũng không làm cho phía bên kia. Ông bị một viên đạn lạc. Giá như mà cha của Hương cũng là cha của tôi thì hạnh phúc biết bao.
- Bác muốn giới thiệu cháu ra nước ngoài tu nghiệp. Nó vừa đảm bảo lâu dài, vừa tránh khỏi đi lính, cháu nghĩ sao?
Nghe ông nói, tôi ngồi chết lặng vì bất ngờ. Nhờ vào đồng tiền tần tảo của mẹ bán bún dạo thì biết bao giờ tôi mới học thành tài. Có thật ông muốn cứu tôi... Rời nhà Diệu Hương mà tôi không hết sửng sốt về ý kiến của cha nàng.
Mấy ngày sau Diệu Hương hớt hải đến tìm tôi, đôi mắt nàng đỏ hoe, linh tính báo việc chẳng lành.
- Hương! Nhìn em dễ sợ quá! - Tôi dò hỏi nàng.
- Anh đi mau, em nói với anh một chuyện rất hệ trọng. Sợ nàng quá hoảng hốt mà lao xe vào người đi đường, tôi phải giành phần cầm lái. Tôi đưa nàng đến lăng Tự Đức, nơi đó chúng tôi thường ngồi cùng nhau, bàn chuyện mình, chuyện đời, bàn về ông vua có nhiều tham vọng cách tân, nhưng rốt cuộc chỉ để lại giấc mộng tàn.
- Hôm trước cha em nói với anh điều gì? - Nàng hỏi tôi.
- Bác muốn giúp anh đi tu nghiệp nước ngoài.
- Trời ơi! Anh đã nhận lời rồi sao?
- Đâu có, anh chờ gặp em hỏi lại.
- Còn hỏi gì nữa... Cha em muốn thưởng cho anh chút đỉnh đó... ổng nhận gả em cho bác sĩ Giôn-ni, bạn học của ba em bên Mỹ... Anh còn nhớ dịp No-en năm ngoái ổng đã đến nhà em chứ!
- Lại có chuyện đó sao? Em nhận lời rồi chứ - Tôi nói với Diệu Hương mà tan nát cõi lòng.
- Không đời nào! Thà chết còn hơn lấy lão già giầu có mà ham của lạ đó!
Nhìn khuôn mặt xinh đẹp của Hương mà tôi thấy mình tội nghiệp. Rồi đây nàng sẽ được gả bán cho người ngoại quốc. Chính nhờ tiền bạc ấy mà tôi được ăn học, thành đạt. Nhưng tôi biết làm gì để cứu được nàng trước sức mạnh của đồng tiền.
- Anh biết làm gì để cứu em đây! - Nghe giọng rền rĩ, bất lực của mình mà càng tự giận lòng, giận cho thằng đàn ông hèn yếu trong tôi.
-... Kìa có xe dừng lại, xem có phải là người quen không? - Hải lại rót tiếp ra hai ly rượu. Cái cung cách uống của Hải thật đặc biệt, khác với cách dô trăm phần trăm mà tôi gặp ở phía Nam. Hải nhâm nhi nuốt từng giọt - Thấy tôi ngồi im lặng, Hải mới chậm rãi hỏi: - Thế ông đón...
- Vâng! Tôi đón người bạn gái cùng học... Quê em ở Huế nhưng sinh ra tại Hà Nội, sau chiến tranh tôi học cùng nàng. Bây giờ nàng lập nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh - Cũng không cần dấu diếm ông ta làm gì, ông cũng là người đang đau khổ như ta mà... Tôi nói ra cùng Hải - Xem lần này chuyện của bọn này đi đến đâu...
- Ồ! Ông có sự khắc khoải mà chờ đợi, còn tôi - Hải hất hàm sang phía có tiếng nói - Tôi chỉ được nhìn nàng... Ai bảo chiến tranh chỉ giành bi kịch cho đàn bà, tôi lại nghĩ nó giành cho cả đàn ông đấy!
Không muốn sa đã vào triết lý thân phận, tôi giục Hải:
- Chuyện của anh kết cục ra sao?
- Nàng không chết... Nàng quyết chí đi tu... Tôi thấy mình sống cũng vô nghĩa, nhưng tự tử lại hèn. Tại sao tôi phải huỷ hại đời mình, mà không dám đương đầu với khổ hạnh... Tôi bỏ học và xin vào quân dịch, lạy trời tôi muốn nhờ bàn tay của mấy ông “đòm” cho thoát kiếp.
*
Chiến tranh không mấy dễ chịu - ở đó gặp cái bất công đè nặng. Quen sống nhởn nhơ thơ mộng với những buổi chiều tím đi dạo trên sông Hương. Quen thả hồn hoài cổ, bây giờ phải làm lính thú, làm tôi đòi của tôi đòi. Ông bảo tôi làm sao chịu nổi... Nhưng số phận lại mở ra cho tôi một chút hy vọng. Tôi có văn hoá nên được chọn đi đào tạo sỹ quan ở Đà Lạt. Tôi được nghỉ mấy ngày về thăm nhà trước khi nhập trường nên đến nhà Hương dò hỏi địa chỉ của nàng. Lúc Hương trốn nhà đi tu tôi đâu có biết. Cha Hương lại tưởng tôi đưa Hương đi trốn để phá đám. Hương viết thư về cho mẹ, nàng bảo nếu không cho gia đình biết, người phải chịu oan ức là tôi.
Mẹ Hương trước nay đều thương tôi, coi tôi như con. Bà muốn tác thành cho tôi và Hương. Bà tin tôi sẽ làm tròn bổn phận của người chồng, là chỗ dựa cho con gái cưng của bà. Lạy vong hồn của bà, con người nhân đức ấy, từ lâu tôi vẫn tôn thờ. Thấy tôi bà oà khóc. Bà giục tôi đi tìm Hương, kéo Hương trở về với cuộc đời thường.
- Bảo Diệu Hương vì phẫn chí phải làm thế, nhưng giờ mẹ có thể đứng ra làm chỗ dựa cho các con rồi... Yêu mến cửa Phật ai cấm... Nhưng biết thương yêu nhau cho phải lẽ, cũng là con đường dẫn đến đất Phật con ạ!
Tôi hứa cùng bà, sẽ tìm mọi cách thuyết phục Hương. Đem Hương trở về với cuộc đời.
Nhập học xong là tôi tìm mọi cớ đi tìm Hương, ở đâu có chùa chiền là tôi tranh thủ viếng thăm. Tôi bị phạt và cấm trại nhiều lần vì không chấp hành kỷ luật quân đội. Mấy cha tuyên uý còn đề nghị đưa tôi ra toà quân sự vì tội không xả thân vì tổ quốc. Nhưng thôi nói chuyện đó với ông phỏng có ích gì. Tin tôi hay không thì tuỳ, tôi chỉ biết ông cũng là người đang yêu, người tốt - yêu là làm cho người ta tốt hơn lên - Có phải không nào? không muốn sa đà vào triết lý tình yêu tôi vội hỏi:
- Ông có gặp được nàng không?
- Cứ bình tĩnh rồi tôi kể... Tôi đã làm một điều không tha thứ được... Hải thở dài. Vẫn con người mới hôm qua còn yêu dấu ta, thoắt cái đã thành xa cách... Thấy Diệu Hương trong bộ quần áo nâu sòng, đầu cạo trọc tôi làm sao cầm nổi nước mắt.
- Làm sao mà đến nỗi này Hương ơi!
- A di đà phật! - Nàng đáp lại tôi bằng cách lạnh nhạt lần tràng hạt, miệng không ngớt tụng kinh.
- Bây giờ anh có thể che chở cho em rồi... Em về với anh đi Hương ơi!
- Xin người hãy xá tội... Tôi đã tình nguyện dâng mình cho cõi Phật... Đừng đánh thức sợi dây oan nghiệt phàm trần...
- Ông biết không? - Hải nhìn tôi cầu cứu - Mới hôm qua cầm tay nhau trào lên niềm cảm xúc yêu thương... Vậy mà bây giờ thấy Hương, tôi không dám cầm tay... Còn nói chi giãi bày, thuyết phục em trở về cõi thực, chăm chút cho nhau nỗi đau xa cách. Thật chả bõ cho ngày nào.Tôi đưa Hương đi thuyền, thả những ngọn đèn trôi trên sông, nàng nói như thổn thức, như thề bồi! - Anh xem hồn của hai ta đã nhập vào cùng sông núi. Em nghe dòng sông Hương nói rằng: - Không thể sức mạnh nào chia cắt nổi hai ta.
Lại có tiếng xe đò dừng lại ven đường đổ khách. Tôi chạy ra xem Lan có trong đoàn người vừa xuống xe không. Hải ngồi im lặng chiếc chén cầm trong tay, cặp mắt ướt vô cảm, nhìn mà như chẳng nhìn thấy gì cả. Hải hỏi, mắt vẫn nhìn tận sâu thẳm lòng mình.
- Không thấy hả... Ông bị rớt rồi... - Không tìm được lời diễn tả hết ý nghĩ, tay Hải xoay tròn chiếc chén nói sang một ý khác: - Kể ra uống rượu đâu có tốt... Nhưng khi người ta muốn trôi trong màu của thời gian. Muốn nhìn vào khoảng vô hình của đời người... Ông bảo tôi nói vậy có đúng không? Không muốn sa vào triết lý, tôi hỏi Hải khi nghe từ bên kia có giọng nói vọng sang:
- Các con lo chuyện học đi... Thời má học... Má được ngoại lo cho đầy đủ... Bộ bây giờ các con thiếu cái chi... Thật khổ cho Hải, hàng ngày anh vẫn nghe không sót một lời trong tổ ấm của nàng, sao anh có thể chịu đựng nổi.
- Tôi có hành động sai lầm! - Giọng Hải ngùi ngùi cám cảnh - Tôi rủ mấy thằng bạn thân cùng học, nói với chúng tình cảnh của mình. Tìm cách bắt cóc nàng, tin rằng khi nàng đã nằm trong tay tôi, mọi chuyện sẽ yên. Nhưng tôi đã thất bại. Nàng trách tôi. Rằng bạo lực không chiếm đoạt được phần hồn của con người. Nếu Hải dùng bạo lực thì nàng sẽ chết. Nhưng hôm qua em là của anh. Em của anh hôm qua, hôm nay em đã là kẻ tu hành. Em và anh đã có hàng rào ngăn cách. Em chống bạo lực; anh là kẻ dùng bạo lực. Tôi không dám ép buộc nàng, tôi sợ mất nàng vĩnh viễn. Tôi cần có sức mạnh nào đó kéo nàng về với cuộc đời, dẫu là vợ Giôn ni nào đó cũng được. Tôi không muốn nàng tàn phai trong chốn khổ hạnh. Tại sao nàng phải ăn năn, tự dày vò mình. Tiếng đồn về vụ bê bối của tôi lọt đến tai chỉ huy. Họ căm ghét hành vi thì ít mà căm ghét cái “thiên tình sử” của tôi thì nhiều. Họ quyết định phong cho tôi quân hàm thiếu uý, điều về vùng chiến thuật I. Anh biết đấy thời kỳ cuộc chiến tranh sắp kết thúc, số phận mỗi con người ra trận mong manh đến nhường nào. Cái số mình chắc chết, tôi nghĩ vậy, tình đã tan mà chức vụ không cầu lại tới, âu cũng là đại họa.
- Thế sao bây giờ anh lại ở đây?
- Thì tôi đã nói với anh từ đầu, tôi nhập vào đám tàn quân bại trận. Sau khi đầu thú, học tập ba tháng, tôi được tự do. Tôi lại tiếp tục đi tìm nàng... Bây giờ tôi mới có dịp nhận ra Hải. Hải vẫn trẻ trung, nếu ăn mặc cẩn thận, bớt rầu rĩ còn ra dáng lắm... Ông thấy tôi cũng được phải không? Nàng vẫn hay khen tôi có gì đó thu hút được người đời... Có gì, chẳng có gì hết - có nỗi buồn...
*
Người đàn ông ấy đến với nàng trong một hoàn cảnh khác. Anh ta bị thương lúc rượt đuổi tàn quân nguỵ tràn qua Bảo Lộc. Anh ta bị thương lết đến nương nhờ cửa Phật để trút hơi tàn. Như thường lệ sau buổi niệm Phật buổi tối, Hương cầm đèn đi đóng cửa tịnh xá. Sư cụ trụ trì đã dặn nàng: - Thời buổi loạn lạc, phải chăm sóc tôn nghiêm cửa Phật, tránh mọi sự rủi ro có thể hiện hình trong phút chốc. Nàng nhìn thấy xác người nằm bất động trước cửa. Quên cả niệm cầu cửa miệng của Phật tử - Nàng quay vào trình đức bề trên. Sư trụ trì tryền dạy: - Dù đó là ai, nhưng gặp nạn, Phật dang rộng niềm từ bi độ lượng... Nàng dùng kiến thức ít ỏi được học ở trường về y tế, rửa vết thương, băng bó cho người ấy. Anh ta còn rất trẻ. Một tuần sau thì chàng bộ đội giải phóng hồi phục. Tất cả những gì ám ảnh lâu nay về quân giải phóng, về phía bên kia trong phút chốc được xua tan bởi nét nhu mì dịu dàng của chàng. Anh cảm ơn sư trụ trì, lại thắp hương vái Phật cầu cho nàng sớm thành chính quả
- Hình ảnh sống động đó thức tỉnh nàng gần gũi với thế tục, nhưng không lay chuyển được lòng trung thành của nàng đã nguyện đẩy cuộc đời ngang trái ra khỏi lòng mình. Nàng càng siêng năng chăm chút cho phần kinh kệ. Nàng muốn vùi đầu vào bận bịu.
Chàng trai được nàng cứu sống lại xuất hiện. Anh ta nói:
- Đang điều trị ở bệnh viện gần lắm, tranh thủ đến thăm viếng chùa, thăm nàng. Mong nàng chấp thuận cho chàng được đến chùa, tỏ lòng biết ơn của mình về việc cứu chàng thoát khỏi tử thần.
- A di đà phật! Đó là cái số của ông còn nặng nợ với việc đời... Còn bần tăng này chỉ làm bổn phận mà thôi... Nàng từ chối mọi lời cảm ơn, nàng sợ làm mất sự thanh sạch mà nàng nguyện dâng hiến cho nghiệp tu hành. Chàng lại đến và chuyện trò cùng nàng như một bạn. Chàng nói, quê chàng cũng có ngôi chùa, nằm bên dòng sông đổ ra biển cả. Chàng thường cùng mẹ đi chùa từ thuở ấu thơ. Từng được nhà sư cho trèo lên tắm cho Phật trong năm, vào ngày Phật đản. Có lẽ vì việc làm thuở ấu thơ mà Phật độ trì gặp được bàn tay cứu giúp của nàng.
- Thưa! Sao hết chiến tranh rồi... Ông không về quê, thăm lại cố hương... Có ngôi chùa mà ông đã từng gửi gắm nỗi nhớ!
- Tôi cũng nhớ lắm, sư cô ạ! - Chàng gọi Hương như vậy - Nhưng còn có ước ao... Muốn biết được một người, nhờ có người ấy mà hoàn sinh cho cuộc đời tôi hôm nay... Tại sao nàng lại vào đây?
- Mô phật... Ông đừng hỏi tôi điều ấy... Nó là lý do mà tôi dấn thân vào nương nhờ cửa Phật... Tìm thấy sự giác ngộ cho mình.
Người lính lại đến như một Phật tử. Anh ta nói đã chuyển ngành. Thấy người thấy cảnh ở đây hợp mà ở lại. Nàng buột miệng chất vấn lại:
- Thế ông không coi trọng quá khứ ư? Quá khứ đã cho ông thể xác, cho ông tinh thần để tồn tại đến hôm nay?
- Chính vì tôn trọng quá khứ ấy mà tôi chiến đấu... Chiến đấu vì người thương yêu tôi... Nhưng cũng vì những người khác nữa. Người khác ấy tôi không tài nào hiểu nổi, tôi chỉ biết Hương đã cứu tôi, để tôi tồn tại đến hôm nay...Tôi biết lấy gì trả ơn lớn đó...
Thế là chàng đã biết tên của nàng. Đã trò chuyện cùng nàng. Cảm thông với nàng nỗi đau khổ mất mát. Chàng khuyên Hương nếu gặp người xưa (là tôi đấy) nên chắp lại mối tình tan vỡ. Đam mê kinh kệ cũng là hạnh phúc nhưng làm cho cuộc đời thường đẹp hơn cũng là con đường đi đến đất Phật. Hương cảm ơn tấm lòng của chàng, nàng cố gắng chống lại sự cám dỗ lôi kéo mình. Xin trụ trì chuyển về Huế mong muốn gần gũi quê nhà, gần gũi người mẹ mà nàng hết mực yêu thương. Nhưng cũng tìm cách xa lánh chàng trai. Thật vô lý, nếu từ chối việc lấy Giôn ni thì nàng đã làm được rồi. Cha của nàng đã sang Pháp sống cùng bà vợ bé, còn mẹ nàng sống đơn độc chốn quê nhà... Nàng đã vào cửa Phật, muốn tu cho trọn kiếp, vậy mà lòng vẫn nhớ mẹ, nhớ Hải... Về đến Huế nàng được mẹ cho biết, tin đồn Hải đã tử trận. Nàng lập bát hương cho Hải nơi chùa cầu nguyện. Tuy tu hành nhưng nàng vẫn chưa quên nhận thức về cuộc đời, thì tôi đã kể cùng anh nàng thường đàn các bản nhạc cổ điển trong đêm lửa trại sinh viên. Nàng từng thức tàn đêm đọc những áng văn hay của nhân loại. Khoảng cách của nàng và người ấy đã xích lại gần trong sự đồng cảm về nỗi đau con người. Điều tệ hại nhất là nàng đã tâm sự chuyện đời nàng cho chàng trai ấy nghe, chuyện về tôi. Chắc các tôn giáo chưa có điều cấm kỵ người ta được kết bạn tâm tình. Chính điều đó mà người lính ấy đã đến được cùng nàng. Vì nàng vẫn còn trái tim đầy cao thượng. Tôi nghe chuyện nàng xuống tóc mà tan nát cõi lòng. Thật kỳ quặc, tôi thầm cảm phục chàng trai đã cảm hoá được nàng. Anh ta cũng phải chịu bao ê chề về điều tiếng. Nghe đâu cũng bị cắt chức vì đã dám yêu và lấy một ni cô. Tôi thì không nghĩ đến chuyện thất thiệt. Tôi ghen tị cùng người ấy. Anh đã làm một điều mà tôi không làm được; có phải tôi đã từng cầu mong cho nàng có hạnh phúc, có gia thất dù không phải là tôi...
- Thế Diệu Hương đã lấy người lính giải phóng ấy?
- Đúng vậy! Tôi trở về Huế sau cả mấy năm trời đi khắp chùa chiền tìm nàng thì nàng đã có con. Nàng xinh đẹp bên người lính bị thương năm nào...
- Thế Diệu Hương đã nói với anh sao?
- Còn nói gì nữa... Nàng vẫn thương tôi... khuyên tôi lập gia đình. Khuyên tôi về bổn phận với đời... Nhưng một điều nàng không thể khuyên nổi, là trái tim tôi vẫn khao khát nàng...
Có chiếc xe đỗ lại cho khách từ phía Nam ra Huế. Hải dừng kể hỏi tôi:
- Có thấy người ông định tìm không?
Tôi lắc đầu ngao ngán, nhưng cũng nói để trấn an lòng mình:
- Chắc cô ấy bận!
- Thế ông và cô ấy? - Hải hỏi tôi.
- Tôi học cùng Lan, lúc đó tôi là thương binh, mất một chân ở chiến trường ra...
- Chờ đợi nhau ngần ấy năm?
- Thật ra chỉ có một người chờ...
Những tia nắng yếu ớt cuối cùng chiếu xuống dòng sông Hương. Mấy chiếc đò xuôi dòng, tiếng hát nghe mà buồn lằng lặng...Đò em xuôi rồi sao bây chừ anh mới đến?
Lỡ rồi... đâu còn chuyến đón anh sang!
Sông Hương trôi mặt nước bẽ bàng...
Có con đò cặp bến anh có sang thì sang kẻo lỡ đò...
*
Lần ấy Lan không ra, chuyện của tôi và Lan không thành. Em làm báo tận thành phố Hồ Chí Minh, còn tôi ở Thanh, hiểu nhau rồi đã muộn. Hải phàn nàn với tôi về Hương. Nghe tin chồng của nàng có đính ước một người phụ nữ tận ngoài Bắc, nàng dục chồng ra thăm. Hải có nghe một nguồn tin không chính thức, người đàn ông ấy bội bạc với nàng, sống ở ngoài Bắc với vợ khác. Diệu Hương của Hải vốn không hề biết chân lấm tay bùn mà tần tảo nuôi con. Hải chuyển về ở cạnh nhà nàng, mong được nàng nhận lời cầu hôn. Điều mong ước của Hải không thành... Anh nghe được tiếng của nàng ríu rít cùng đàn con... Hải bảo tôi: - Chuyện về sự bội bạc của người kia chưa chắc thật... Nói cho tôi nghe thôi... Chuyện của đàn ông với nhau... đừng kể cho người khác nghe, Diệu Hương biết được mà tội nghiệp...
© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản của tác giả ngày 04.07.2008.
. TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN TỪ NGUYÊN TĨNH CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM TẠI WEB NƯỚC NGOÀI
|