Đình Làng





THĂM LÀNG VẠN VỸ












Qua cửa khẩu quốc tế Móng Cái là đến Thành phố Đông Hưng, thuộc tỉnh Quảng Tây Trung Quốc. Từ Đông Hưng, đi tiếp chừng 25km đến khu Kinh Đảo thuộc trấn Giang Bình, cùng nằm trong Vịnh bắc bộ. Kinh đảo gồm ba hòn đảo quy tụ: Sơn Tâm (phía Bắc), Vu Đầu (phía Tây) và Vạn Vỹ (trung tâm). Trong Tam đảo, Vạn Vỹ là lớn nhất, với 13,7 km2, 1022 hộ, 4064 khẩu, 23 đội sản xuất. Cơ cấu hành chính ngang với cấp Xã, dưới sự quản lý của Bí thư Đảng uỷ và ban Chủ nhiệm. Nơi đây, những người Việt xưa làm nghề chài lưới trôi dạt đến, làm ăn sinh sống đã hơn 500 năm. Khởi thuỷ là hoang đảo, họ quai đê, lấn biển, chống trọi với thiên nhiên: Mưa gió bão lụt, thú dữ, hải tặc...Xây dựng nhà cửa, làng, xóm, khai hoang cấy trồng, chài lưới. Họ đoàn kết đùm bọc thương yêu nhau, sinh sống, tồn tại và phát triển, giữ gìn truyền thống Việt, phong tục thờ cúng và nói tiếng Việt...Được nhà đương cục công nhận là dân tộc Kinh, cùng chung sống với 55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc như hiện nay.

Biểu tượng của cộng đồng bởi ngôi Đình của làng :

Đình làng Vạn Vỹ là nơi thờ các vị Thần linh, nơi tập trung để bàn thảo công việc cồng đồng, lễ hội, sinh hoạt văn hoá...Theo ông Cung Chấn Hưng, người quản lý Đình còn gọi là (Mo), nói tiếng Việt thành thạo cho biết: Đình có khoảng 400 năm, cùng với thăng trầm biến đổi lịch sử, lúc đầu chỉ là ngôi nhà nhỏ, vách phên che, mái rạ, sau đó được tu sửa, mở rộng, nâng tạo nhiều lần, từ trước năm 1958. Lần tu tạo gần nhất là năm 1984, do hiệp thợ từ Việt Nam sang xây dựng, khang trang, mái ngói, cột gỗ, hoạ tiết, hoa văn đẹp. Sân Đình có tường bao quanh, cổng bằng sắt, trước Đình có hồ nước,có cây cầu có mái che dẫn đến đường làng. Trước cửa khi bước vào là tấm biển đề : Trung tâm văn hoá dân tộc Kinh trung quốc và bảng giới thiệu về nguồn gốc ngôi Đình, Làng Vạn Vỹ bằng tiếng Việt. Đình thờ các vị thần theo thứ tự cao thấp: Thần Bạch Long trấn Hải Vương – là thần chủ cao nhất; Đức Cao Sơn, Thánh Tô Quảng Trạch Đaị Vương; Thần Điểm tước thần Vũ Anh linh Đại Vương và Đức Trần triều.
Ngoài ra, còn thờ vị anh hùng dân tộc của người Kinh Đỗ Quang Huy chính giữa khán nhưng thấp hơn các vị trên. Hai bên khán là ban tả chiêu và hữu mục thờ “thập nhị gia tiên”- 12 vị tổ tiên của 12 dòng họ ở Vạn Vỹ này. Sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng, tâm linh của cộng đồng người Kinh thờ các vị thần đều xuất từ quê hương người Việt đưa sang. Chẳng hạn, Đức Trần triều – Trần Hưng Đạo, Mẫu Liễu Hạnh, Cao sơn Đại Vương – Tản Viên Sơn hoá Thánh...Trước cửa Đình có treo hai câu đối: Thành đức lưu tồn thiên cổ tại/ Thần ơn tín ngưỡng vạn đại truyền. Những ngày mùng một, ngày rằm đều sắm lễ hương hoa cúng tế giống như nơi quê Việt vậy. Được biết, phần lớn dân Vạn Vỹ là gốc ở Đồ Sơn, Hải Phòng, Thanh Hoá... Đến nếp sống sinh hoạt, tổ chức làng, dòng họ, nhà cửa và gia đình đều có dáng dấp như truyền thống của người Việt. Vạn Vỹ xưa tổ chức quản lý hành chính bao gồm các chức danh như: Ông Thôn, người đứng đầu chức trách cao nhất quản lý mọi mặt về hành chính của làng. Ông Khoán, quản lý về đất đai...Ông Hương, quản lý về công ích, điều phối nhân lực; Ông Ký, quản lý về văn hoá, sổ sách thu chi ngân sách chung và xếp đặt ngôi vị trong làng “hương ẩm bạ tịch”...Ông Mo, quản lý, quét dọn đình , đền...Ông Đám, lo quản lý việc lễ, hôi, đình, đám. Ngày nay, các chức” Ông Hương, ông Khoán, ông Ký được thay đổi theo hệ quản lý chính quyền do Ban Chủ nhiệm và Bí thư Đảng uỷ chỉ đạo quản lý, còn các chức danh khác vân như cũ. Vạn Vỹ hiện có 12 dòng họ: Tô, Nguyễn, Đỗ, Cao, Hoàng, Bùi, Vũ, Lương, Ngô, La, Khổng, Cung. Trong đó họ Tô, Nguyễn, Đỗ là lớn nhất, lâu đờ nhất và uy tín nhât. Người trưởng họ thực sự quan trọng trong mọi gia đình như hiếu hỉ, giỗ chạp...đều phải thông qua trưởng họ. Quan hệ gia đình theo hai hình thái: Gia đình lớn và gia đình nhỏ. Những gia đình cùng chung sống “tứ đại đồng đường” trở lên (ông bà, cha mẹ, con, chau) gọi là gia đình lớn, còn lai gọi là gia đình nhỏ - điều này phù hợp với thực tế xã hội phát triển, do điều kiện công việc, học tập xa nơi cư trú. Trong gia đình quan trọng bậc nhất vẫn là phát triển kinh tế, và điều độ gia đình vẫn thuộc vai trò người đàn ông, phụ nữ trong việc nội trợ nuôi dạy con cái, vẫn giống như các gia đình ngươi Việt Nam.

Khi đến thăm các gia đình ở Vạn Vỹ được ông Tô Biên Phương Bí thư Đảng uỷ xã, rất phấn khởi, không tiếp khách ở Đình, hoặc trụ sở Uỷ ban, hội trường lớn, mà đón tại ngôi nhà của mình trong làng, ông bảo:
- Lần đầu được tiếp đoàn ở “quê” Việt sang thăm thời gian “lâu” đông, nhiều vị học giả, tìm hiểu nghiên cứu. Đoàn Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội, do PGS, TS Hán Nôm, Đỗ Thị Hảo, Chủ tịch Hôi làm trưởng đoàn. Trong đoàn gồm nhiều vị: GS Kiều Thu Hoạch, GS Đặng Việt Bích, nhiều nhà nghiên cứu văn hoá, nhiều văn nghệ sỹ...
Bà Đỗ Thị Hảo nói: “Đoàn đến thăm làng Vạn Vỹ như đến thăm những người thân, đã dâng quà - lễ, sách thắp hương các vị thần ở Đình rồi, trong lúc vui vẻ này, xin mời các cụ, dân làng thụ lộc... Nhiều bà con trong làng kéo đến quây quần ngay trong sân, không khí đầm ấm gia đình, cởi mở, trò chuyện băng tiếng Việt.
Bà Nguyễn Hương Liên 83 tuổi người gốc Đồ Sơn vui vẻ nói: “Chúng tôi vui lắm, lâu rồi không mấy khi gặp một đoàn người Việt Nam đông vui thế này”. Ông chủ họ Hoàng cũng ở tuổi 83 nhưng vẫn nhanh nhẹn, da sạm nắng, sởi lởi chuỵện trò với đoàn, thì ông Hưng ( người quản Đình) bảo ông hát một bài đi. Ông chủ họ Hoàng hát rất rõ:

Anh nhớ chăng, cờ đỏ sao vàng
Trên thành phố thủ đô Hà Nội
Ngày mồng 2 tháng 9
Ngày toàn dân hân hoan
Miệng tươi cười ha ha ha ha
Anh em ơi mang yên vui nhà ta...

Hát xong ông nói; “Chúng tôi bao giờ cũng nhớ về Việt Nam. Đấy là bài hát cụ Hồ giải phóng non sông”. Một người bảo cụ hát nữa, cụ lại hát tiếp giao duyên nam nữ ngày xưa, thật ấm áp vui tươi.

Những ngôi nhà dân Vạn Vỹ đã khang trang, nhà xây mái ngói, có nhà xây 2 tầng, nhưng vẫn theo dạng Việt. Ngôi nhà 3-5 gian, gian giữa để bàn thờ tổ tiên, phòng ngủ ở bên phải và bên trái, giữa nhà để tiếp khách, uống nước, ăn cơm. Cấu trúc nhà, có nhà trên, nhà ngang, nhà bếp, chuồng trại lùi phía sau.
Nhà ở cũng giống như nhà của người Hán, trước cửa dán bùa giấy đỏ, nhưng khác ở chỗ, nhà người Kinh bao giờ cũng có chút sân, vừơn, có bờ giậu, trồng cây na, cây mít, bụi tre, có giếng nước, nuôi thả gà vịt...
Trong nhà của chủ họ Hoàng, hoành phi có chữ: “Tổ đức lưu phương” và hai câu đối:

“Hợp gia hoan lạc nghênh tân tuế
Nội ngoại bình an hảo vận lai”

Và những lời của người già thường bảo nhau dặn con cháu :
Phải giữ lấy phong tục, giữ lấy văn hoá của người Việt mình.
Thực sự đây cũng là điều rất khó khăn. Do sự phát triẻn xã hội ngày càng hiện đại, đời sống hàng ngày hoà nhập, như làm việc, học tập, giao lưu, trang phục, tiếng nói...là sức ép lớn trong mỗi gia đình muốn giữ gìn bản sắc riêng mình.
Hiện nay, trong gia đình ở Vạn Vỹ sử dụng tiếng Việt cũng chỉ phạm vi hẹp. Dạy cho các thế hệ sau, vẫn theo kiểu truyền miệng, nên đa số chỉ nói theo được, chứ không viết, đọc được chữ Việt.
Nhưng, dù sao chúng ta thấy điều đáng mừng là, trong quá trình phát triển xã hội, kinh tế nhanh chóng, mọi mặt đời sống đều hoà nhập phù hợp, tiếp cận đầy đủ về y tế, giáo dục, thông tin, mở rộng đa chiều, buộc phải thích nghi; Một mặt họ phải giữ gìn nền tảng văn hoá truyền thống, cội nguồn trong suốt hơn 500 năm qua, thật rất quý giá, rất trân trọng, rất tự hào của những người Viêt làng Vạn Vỹ.
Thực sự là cầu nối các nền văn hoá khác nhau, nối buộc tình hữu nghị giữa các dân tộc Trung Quốc và tình hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc càng thắm đậm.













© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải trên Newvietart.com theo nguyên bản của tác giả gởi ngày 01.07.2008.


. TẠI NƯỚC NGOÀI TÁC PHẨM CỦA VŨ QUANG TẦN CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM