CÕI ĐỜI HƯ THỰC



17


Bắc hồi hộp bởi lẽ tối nay được nhận trọng trách đọc cho bố vợ tương lai nghe một đoạn nhật ký. Buổi sáng Bắc đến bệnh viện đưa thông tin ở nhà cho cô Mạ và Quế, buổi chiều trở về mang tin tốt lành cho bác Củng và cô Bằng, và bây giờ lại được thay cô Bằng làm việc hệ trọng này. Bắc cảm thấy anh đã được chấp nhận là thành viên của gia đình. Người con trai yêu và được gia đình người yêu chấp nhận đã là hạnh phúc, đối với Bắc còn hạnh phúc hơn bởi anh đang được bám vào bờ niềm vui có cha, có mẹ dẫu đấy không phải là người sinh ra Bắc, nhưng có thể sẽ coi Bắc như con đẻ.
Cầm tập nhật ký dày cộp trong tay, một số trang đã ố, Bắc vụng về mở tìm trang sách cô Bằng đã gập lại.
Đọc những trang sách do cô Bằng hướng dẫn, Bắc thật sự kinh hoàng. Chiến tranh tàn khốc đến khó tưởng tượng.
Bắc ở với người bác họ. Bác không đi bộ đội. Suốt đời bác chỉ biết đến cây lúa, củ khoai… Vì vậy không bao giờ bác kể cho Bắc nghe đại loại những chuyện liên quan đến chiến tranh. Cả ngày bác cặm cụi làm, moi móc từng tí đất, vạc đến lõm bờ tre để lấn đất hàng xóm, cố làm sao mỗi năm lấn được nửa gang, phấn đấu đến khi chết lấn được nửa mét đất của người khác, thì mới yên tâm nhắm mắt.
Anh Củng bảo Bắc cất cuốn sổ để hai bác cháu ngồi nói chuyện. Con cún chui vào gầm ghế, nằm ngửa ư ử đùa với bàn chân của Bắc.
- Cô Bằng không có chồng hả bác? - Bắc vào chuyện.
- Tội cô Bằng lắm. Cô sống một mình, không nơi nương tựa.
Bắc mất cha mẹ, cô Bằng mất chồng con, giá mà trước đây Bắc rơi vào cô Bằng thì hay nhỉ, lại gần nhà Quế… Bắc mỉm cười vì ý nghĩ kỳ quặc vừa thoáng qua trong đầu.
- Ngày còn trẻ cô Bằng đẹp lắm. - Anh Củng kể tiếp - ở Trường Sơn cô Bằng như bông hoa rừng, ai cũng quý. Hồi ấy bác gặp cô Bằng ở tây Trường Sơn, cô còn trẻ và tươi rói, không héo như bây giờ đâu.
- Cháu thấy cô vẫn đẹp chứ ạ.
- Lần thứ hai bác gặp lại cô ấy, cũng ở Trường Sơn. Lúc đó cô Bằng vừa qua cơn chấn động thần kinh. Cô gầy rộc, da xanh tái trông thương lắm. Sau này về quê gặp lại cô vui khỏe, đẹp ra nhưng nhất quyết không chịu lấy chồng. Mấy năm liền tìm về quê chồng, nhưng họ hàng không còn ai. Cả cái giấy báo tử chồng cũng không có người nhận. Cô không được công nhận là vợ liệt sĩ. Lấy nhau ở Trường Sơn thì làm gì có giấy đăng ký kết hôn. Những người chứng kiến, một số đã hy sinh, còn lại phiêu bạt mỗi người một ngả. Không có ai làm chứng. Thế là cô không có chế độ chính sách gì. Cũng may có nghề y sống cũng tạm. Chỉ lo sau này về già, con cái chả có…

♣♣♣

Anh Củng chống chiếc gậy đi vẩn vơ ngoài sân, ra vườn, ra ngõ. Đã hơn ba giờ chiều chưa thấy Bằng đâu. Sáng sớm Bằng tất tưởi đạp xe đến đưa gói xôi, thu dọn qua quýt, khám bệnh, tiêm thuốc, rồi bảo:
- Anh ở nhà. Em phải đi đây. Có ca sản phụ phức tạp lắm.
Mười một giờ, Bằng lại lọc cọc đạp xe đến, nấu vội bữa cơm, sắp lên hai người cùng ngồi ăn, rồi dồn bát đũa vào chậu ngoài giếng, vội vàng dắt xe đi:
- Xong việc là em về ngay.
Sau câu nói ấy là khoảng trống làm đầu óc Củng vẩn vơ mong đợi. Người ốm thường thế, sợ cô đơn. Hơn thế nữa, Bằng đối với Củng không phải chỉ là thầy thuốc.
Củng ra đầu ngõ xí xóa ý nghĩ mong đợi bằng cách ngắm ngôi nhà hai tầng, có chóp đỏ rực, nửa quê, nửa tỉnh như tháp nhà thờ của một tay buôn sắt vụn. Ngày trước nó nghèo rớt mồng tơi, được cái tốt và thương người. Hắn làm gì cũng sợ mếch lòng và ảnh hưởng đến người khác. Thời mở cửa, đùng một cái, hắn giàu lên ú ụ. Giàu rồi, hắn không sợ mếch lòng ai; đàn bà, con gái, lớn bé nó không "thương" ai hết, nếu cần vung tiền ra làm tuốt.
Cuối năm 1989 Củng từ Cam-pu-chia về nước và nhận nhiệm vụ Huyện đội trưởng, sững sờ ngạc nhiên là sau bao nhiêu năm anh và đồng đội chiến đấu để giành từng tấc đất cho Tổ quốc, bảo vệ sự bình yên ấm no cho mọi người, thế mà giờ đây quê hương anh còn nghèo đói, lạc hậu thế này. Cũng may nhờ công cuộc đổi mới mà sau mươi năm cuộc sống đổi thay. Con đường làng cát bỏng xưa, nay đã được láng nhựa, trường học, trạm y tế lợp ngói đỏ, điện kéo về làng sáng trưng, nhà hàng, quán xá mọc lên… Ai cũng béo, cũng trẻ ra, mặt mày tươi rói. Chỉ có mấy cụ già quấn khăn ngồi than thở không khéo cứ cái đà này mất chủ nghĩa xã hội.
Anh Củng thấy người khó chịu. Trong đầu hình như có con ong bay vu vu. Có dấu hiệu bệnh trở lại. Đã hơn một tháng nay, những cơn tâm thần của Củng không tái phát. Không biết do thuốc, hay do những câu chuyện anh nghe hàng ngày. Có thể cả hai cộng lại. Tâm thần tuy không diễn ra, nhưng mắt thì giảm thị lực trầm trọng. Vì thế Củng phải có thêm cây gậy trúc trợ giúp khi đi lại.
Hôm nay chỉ còn mình Củng với Bằng ở nhà. Không biết Mạ đã bình phục hẳn chưa? Con Quế vừa làm việc cơ quan, vừa phải chăm sóc mẹ, cực lắm. Thằng Bắc chạy đi, chạy về cũng vất vả. Giờ này Bằng chưa về, chắc là bệnh nhân cũng phức tạp… Bao nhiêu thứ trong cái đầu vốn đã ốm yếu, làm Củng đứng ngồi không yên.
"Hực, gâu gâu, gâu!". Con cún từ góc sân bật dậy như cái lò xo, phóng ra ngõ. Chiếc gậy trúc trong tay anh Củng cựa nhẹ trên nền gạch. Nhưng con cún không sủa nữa, thay vào đó là tiếng động cơ xe máy. Đi đầu là Bắc chở một đùm chăn bông, bên trong là Mạ thò khuôn mặt trắng xanh. Tiếp theo là Quế, chở đồ dùng, dụng cụ lỉnh kỉnh như đi sơ tán. Anh Củng đứng hẳn dậy đón chị Mạ. Bắc đỡ chị Mạ xuống như đỡ một bó rơm. Chị Mạ nhìn anh Củng cười và liếc mắt vào trong nhà, dưới bếp xem có thấy bóng dáng Bằng.
- Đáng lẽ mẹ phải nằm viện mấy ngày nữa cơ. - Quế vừa gỡ đồ đạc, vừa nói - Tự dưng sáng nay đùng đùng đòi xuất viện.
Bắc tiếp lời:
- Bác gái bảo: "Chúng mày không cho tao về, thì tao đi bộ". Chịu các cụ.
Bước vào nhà, trút cái chăn xuống ghế, chị Mạ quay ngay vào buồng anh Củng. Nói là nằm cho đỡ mệt, nhưng chị Mạ quan sát trên giường chỉ có một chiếc gối của anh, không có chăn, không có kẹp tóc, không có sợi tóc dài vương trên gối, trên giường. Chị nghiêng mặt kề mũi xuống gối, không có mùi lạ. Chị ngồi dậy, xỏ chân vào dép.
- Mình cứ nằm nghỉ. - Anh Củng nói với chị Mạ khi bước vào buồng.
- Em đi tiểu cái.
Chị Mạ bước xuống bếp. Một luồng khí ấm áp tỏa lên. Chị ngồi xuống trước cái kiềng xoà hai bàn tay tìm hơi ấm, ngó ra sân không thấy ai. Chị cầm chiếc móc thép bới. Đống tro tuy không còn đỏ, nhưng vẫn nóng. Thế nghĩa là trưa nay Bằng đã nấu cơm ở đây. Chị Mạ đi ra giếng. Trong chiếc chậu nhôm ngổn ngang bát đũa chưa rửa. Một tô, một đĩa, ba chiếc bát con, một muôi, một thìa, hai đôi đũa. Thôi rồi! Trưa nay họ ăn uống với nhau. Chỉ có hai người, làm gì mà bát đũa chưa kịp rửa. Mình về ngay trưa nay có phải kịp không. Con ranh lại cứ chần chừ. Chắc chắn họ có với nhau rồi. Cơm treo, mèo nào chịu nhịn đói? Sao Mạ khổ thế này? Để thằng Bắc ở đây thì mất con Quế. Mà để Bằng ở lại thì… Mạ im lặng lên nhà, vào buồng, lên giường đắp chăn.
Anh Củng gọi con gái và Bắc vào bảo:
- Các con bắt gà, mua thêm thức ăn làm cơm cúng gia tiên, mừng mẹ con tai qua nạn khỏi. Quế đi mời luôn cô Bằng nhớ.
Lần đầu tiên Quế và Bắc cùng nhau làm bữa cơm gia đình. Quế đun nước, Bắc bắt gà. Đến khi cắt tiết, người cầm chân, người cắt tiết; rồi vo gạo, nhặt rau… vừa làm vừa liếc, vừa nguýt, vừa trò chuyện. Hạnh phúc tràn ngập. Thỉnh thoảng tiếng Bắc vang lên: "ấy, để đấy anh làm cho", hoặc: "Em cứ để mặc anh". Quế cười, bảo:
- Sau này cưới rồi em phân công: Đến bữa, em làm cơm, anh điểm báo. Xong bữa em rửa bát, anh nghiên cứu ti vi được không?
Bằng đến, sà vào buồng hỏi han sức khoẻ của Mạ. Mạ vẫn nằm thò đầu ra ngoài chăn, nói chuyện rời rạc. Bằng bảo:
- Tao xem ra mày còn yếu. Phải nghỉ ngơi, điều dưỡng mạnh vào… Giấy ra viện đâu? Thuốc men họ cấp theo, xem nào.
Bằng xem giấy ra viện, đơn thuốc và kiểm tra số thuốc bệnh viện cấp, quay ra nói với anh Củng:
- Tiêm hết chỗ thuốc này, anh bảo con Quế đi cắt cho Mạ mươi thang thuốc Bắc. Bệnh thận chữa thuốc Bắc tốt ra phết.
Bữa cơm cúng gia tiên và sum họp gia đình chỉ có Bắc và Quế vui. Anh Củng điều hòa không khí không mấy thành công. Chị Mạ lấy cớ người còn mệt, nên ăn nhỏ nhẻ, ngồi chống đũa, ậm ừ không nói chuyện, làm chị Bằng thiếu tự nhiên, đành quay sang nói chuyện với Bắc và Quế. Hai đứa hút vào nhau, nên khó gắn được với câu chuyện của người khác.
Bữa cơm chuẩn bị kết thúc, anh Củng đứng dậy trước, bỗng loạng choạng rồi xoài ra nền nhà, bất tỉnh. Bắc bế xốc bác Củng đưa vào giường để cô Bằng cấp cứu. Thực ra cơn choáng ngất của anh Củng được báo hiệu từ trước. Song vì, chị Mạ xuất viện về, có bữa cơm sum họp nên anh Củng phải cố chịu đựng, và tỏ ra bình thường cho không khí gia đình vui vẻ. Ai ngờ, ý chí của anh không thể thắng được sự suy sụp của sức khỏe. Khoảng 15 phút, anh Củng tỉnh. Chị Mạ lo anh tỉnh theo kiểu trước đây thì gay. Thật may, giọng anh thều thào nhưng tỉnh táo:
- Tôi đã thấy khó chịu từ chiều.
Chị Mạ hỏi bâng quơ:
- Hôm nay đã đọc cho anh Củng nghe chưa nhỉ?
Không ai trả lời. Chị Mạ đứng dậy mở tủ, lấy cuốn sổ nhật ký mở đại một trang đọc tạm cho anh Củng nghe:
… Ta cho ngươi gạo để ngươi đói khổ. Ta cho ngươi rượu để ngươi thèm khát. Ta cho ngươi tình yêu để ngươi trói buộc và buông thả - ông linh mục xứ Viền nói tiếp - Đó là lời của Chúa.
- Thưa linh mục, quan niệm của Thiên chúa về sự đoàn kết của loài người, phải chăng thiếu cảnh giác?
- Kinh thánh Tân ước chép - Linh mục nói - "Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà thần khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau… Chỉ có Thiên chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người? Làm được như lời Chúa dạy. Làm cho mọi người tin như thế, tôi nghĩ trên thế gian sẽ bớt chém giết lẫn nhau; hành hạ lẫn nhau. Bởi, dẫu sao con người chung một niềm tin. Mục đích của Chúa về tình đoàn kết, bác ái là thế. Còn phương pháp có lẽ cũng phải bàn.

♣♣♣

Mất gần hai tuần Quế bận giải quyết công việc gia đình và chăm sóc mẹ ở bệnh viện, nên việc khảo sát để kết luận dự án nuôi tôm giống ở Tiền Hải đành bỏ dở. Theo số liệu thu thập được, Quế nhận thấy vùng biển Tiền Hải không thuận lợi cho việc đầu tư nuôi tôm sú giống bằng vùng biển Thái Thụy. Độ mặn, tỷ lệ phù sa, sóng và độ nhiễm của môi trường ở Tiền Hải đều khó thích hợp đối với con tôm khó tính này so với vùng biển Thái Thụy. Thế nhưng chủ đầu tư lại một mực xin xây dựng trại giống Tiền Hải. Mãi gần đây, được tiếp xúc với các bác, các chú bên Tỉnh đội và nghe bố nói chuyện, Quế mới phát hiện ra một điều kẻ thù của dân tộc không bao giờ từ bỏ ý đồ thôn tính đất nước. Chiếc tàu của người Pháp đánh đắm ở cửa sông Trà Lý, tọa độ người Mỹ xin được thăm dò máy bay Mỹ bị ta bắn rơi trong chiến tranh ở ngoài khơi, nối với cửa sông Ba Lạt tạo ra một tam giác ôm trọn vùng bờ biển Tiền Hải. Các chú bên Tỉnh đội còn cho biết, thời kỳ tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh, phía Mỹ đưa ra một danh sách có đến bốn tọa độ máy bay Mỹ bị ta bắn rơi ở vùng biển này. Tra cứu trong lịch tác chiến thời điểm bốn chiếc máy bay bị rơi đều không có chiến sự xảy ra. Rõ ràng chúng lợi dụng để thực hiện ý đồ khác.
Quế như người bắt được của, tính toán lại các dữ liệu đã thu thập, phóng xe xuống cửa sông Trà Lý xác minh tọa độ chiếc tàu người Pháp cho đắm. Xong việc, cô phóng xe dọc đê biển 7 về chiếc lều coi tôm của Bắc. Gió lồng lộng hất tung mớ tóc trông Quế như chiếc buồm no gió dướn về phía trước. Kia rồi, cái lều hạnh phúc của Quế như chiếc nón úp trên mặt đê, nơi Quế thả nụ hôn đầu tiên, nơi Quế neo thuyền để tìm bến đậu.
Bắc đang ngồi trong lều đọc sách, bất ngờ thấy Quế đỗ xe trước cửa, anh ngẩng lên, nhắm mắt, há miệng, dang hai tay như vòng ôm chờ đợi. Nhìn bên lều, Quế thấy một chiếc đó tre úp dưới đất liền cầm lấy rón rén mang vào trong lều, từ từ ấn vào ngực Bắc. Bắc mở bừng mắt, thấy vòng tay mình ôm trọn chiếc đó tre. Anh lẳng chiếc đó sang một bên, nhoài người ghì lấy Quế trả thù. Quế xứng đáng được trả thù. Cô nằm gọn trong vòng tay Bắc, không chống cự giả vờ cam chịu, nói:
- Cái đó bẹp mất rồi…
- Bẹp thật à, xem nào?
- Ơ, cái anh này. Em nói là cái đó đánh tôm của anh kia kìa.
- Vậy mà, anh cứ tưởng… anh làm bẹp…
- …
- Cho anh xem… nào.
- ứ…
Bắc đặt bàn tay vuốt nhẹ má Quế, rồi như vô tình rơi xuống đậu vào khuy áo ở cổ. Quế giả vờ mất cảnh giác. Bắc nhẹ nhàng bật tung chiếc khuy. Làn da trắng nõn thoai thoải khiến Bắc không thể dừng lại được nữa, anh bật tiếp chiếc cúc thứ hai và tiện tay lật tung chiếc xu chiêng màu trắng. Hai bầu vú như hai trái bưởi non, có cái núm đo đỏ đậu trên cái quầng nâu nâu làm Bắc run lên như người được của. Tay phải Bắc phủ trọn bầu vú trái, hai ngón tay vân vê cái núm mềm; rồi Bắc vùi đầu xuống ngực Quế, miệng ngậm chặt bầu vú còn lại, thẩy cái lưỡi chơi đùa với cái núm lây lẩy.
Quế run rẩy, ngửa mặt, mắt nhắm, hai tay ghì chặt mái đầu Bắc vào ngực, rồi lại đẩy ra, lại ghì vào làm miệng Bắc tụt khỏi bầu vú mấy lần… Quế như người nghẹt thở, hai bầu vú căng cứng, toàn thân như trái bom sắp nổ tung…
Trước khi xuống đây, Quế dự định nói với Bắc nhiều lắm. Nào là Quế đã đủ dữ liệu để trình Giám đốc Sở không đồng ý cho đối tác đầu tư sản xuất tôm giống ở Tiền Hải, phải chuyển sang Thái Thụy. Không phải vì Bắc, mà vì lý do an ninh đất nước. Rồi chuyện mẹ Mạ phải chấp nhận cho hai đứa lấy nhau. Chuyện bố Củng ủng hộ nhiệt liệt, ngay cô Bằng cũng có cảm tình đặc biệt với Bắc. Thế mà bây giờ Quế chỉ ngồi trong lòng Bắc, im lặng hưởng thụ. Gió biển thổi thuờ thuờ vào mái lều, như người đàn ông chụm môi thổi vào mái tóc dài. Xa xa, ngoài khơi nước triều co lại, gồng lên như con đê bao màu sẫm đục. Một đàn chim mố trắng như bông sà xuống bãi lầy, xâm đất kiếm mồi. Một chiếc thuyền gắn máy đuôi tôm từ cửa sông Trà Lý phịch phịch đạp nước ra khơi. Bắc ghé sát miệng vào má Quế thầm thì:
- Anh yêu em lắm.
- …
- Quế ơi, hai đứa mình "ăn nhau" nhé?
- …
- Chắc cưới nhau rồi, anh vò em đến chết thôi.
Quế vẫn im lặng để cho lời yêu của Bắc thấm vào từng tế bào ngọt lịm. Dưới bờ đê, gần chân lều một chú cáy lông bằng nửa bao diêm từ dưới lỗ chui lên, giương hai con mắt như hai bóng điện cao áp, ngơ ngác, cảnh giác. Cách đó vài mét có một con sứa nhỏ nằm xõa tóc như kẻ chết trôi.
- Kia là con sứa, anh nhỉ?
Bắc đang mê mải kiếm tìm cảm giác trên mái tóc thơm và đôi vai tròn của Quế. Cho đến khi Quế gỡ tay Bắc, hỏi lần thứ hai, Bắc mới trả lời:
- ừ, sứa!
Quế còn nhớ, đã có lần Bắc đã kể về con sứa cho cô nghe. Sứa trông như một chiếc dù nhỏ lửng lơ trong nước biển. Phía dưới "chiếc dù" có hàng chục cánh tay tua ra nghều ngào như tua con bạch tuộc. Gặp tôm, cá chúng quờ các tua tóm lấy và phóng ra một thứ nọc độc làm con mồi chết, để đưa vào miệng. Anh bảo, có loại sứa màu hồng chứa độc tố mạnh đến mức có thể làm chết một con mồi lớn gấp hai, ba lần con sứa. Bắc cũng bị nọc sứa đốt bỏng rộp, sưng đau như bị lá han đốt.
Vùng biển của Bắc có nhiều loại sứa. Sứa rễ là loại tay tua ra như rễ dứa. Loại này trôi trong nước trông trăng trắng, hồng hồng màu bích ngọc, xung quanh màu vàng chanh rất đẹp. Nếu gặp một loài sứa nhỏ hơn sứa rễ, thân màu xanh lơ, tua hồng tươi đó là sứa sen. Thỉnh thoảng Bắc còn gặp một loại sứa khá lớn, tán dù rộng hơn hai mét, tua dài gần hai gang tay. Loại này thân màu vàng tươi, có đường viền quanh màu đỏ thắm, xung quanh miệng màu hồ đào, xúc tu màu hồng. Gặp lúc nó bơi trong nước biển trông như chiếc đèn trang trí rực rỡ. Bắc nói:
- Du lịch biển mà chỉ đứng nhìn sóng nước, mây trời, thì một lần là chán ngay em ạ.
Nhưng nếu chịu khó tìm hiểu, khám phá sâu thêm một chút thì biết bao thú vị mà sách vở không thể nào có được.
Quế gí một ngón tay vào trán Bắc, mắt long lanh:
- Biển cũng giống như anh đấy!
- Anh mà là biển? Anh đã nhấn chìm, nuốt chửng em từ lâu rồi.
Quế vênh mặt:
- Thật không?


...CÒN TIẾP...












© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 29.06.2008 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội .