BẨY :

YÊN BÁI- ĐỀN HÙNG-PHÚ THỌ- HÀ NỘI .



Lên xe ca rời Yên Bái, hướng dẫn viên thuyết minh chương trình trong ngày: thăm Đền Hùng-Phú Thọ, cơm trưa Việt Trì, đến thủ đô sớm viếng Nhà sàn Bác, chùa Một Cột, Trấn Quốc- cơm chiều: ăn bánh tôm Cổ Ngư, tối ngả lưng khách sạn Phùng Hưng-Đường Thành.
Vậy là khách sạn Phùng Hưng nằm trên phố Đường Thành (xưa kia : Rue Citadelle) thuận tiện hơn cả Volga- đây mới đúng trung tâm phố cổ, chỉ cần đi bộ dăm bước sang phố Hàng Bát Đàn ăn phở gia truyền nổi tiếng ngon -mà chủ hiệu lại coi thường khách- qua phố Hàng Điếu mua bột sắn dây hảo hạng nhà tổ trưởng số 4, thêm dăm bước nữa đến số 10 thăm cô Ninh, em gái Kiều Liên Sơn. Năm 1994, Kiều đưa tôi đến đây, lúc cô đang quấn khăn đại tang chồng, khóc lóc sướt mướt, tưởng như chồng qua đời thì tương lai mẹ con cũng chết theo !
Hà Nội chưa có nhiều nhà cao tầng chọc trời như bây giờ- hình như tôi chỉ nhìn thấy hai toà nhà to đùng, một cái trụ sở Ủy ban thành phố, cái kia xây theo kiểu lô cốt cuối phố Đinh Tiên Hoàng, cạnh dốc lên Hàng Đào- xe ô tô ít hơn xe gắn máy, và xe gắn máy lại rất ít so với xe đạp, nhiều nhất xe xích lô đạp, thấy khách lạ là gọi í ới mời lên xe dạo phố phường .Chú Hai ở Sài Gòn mới ra ư, nếu thích tươi mát có tươi mát, thích cà phê ôm có ngay phục vụ, chú muốn gì có thứ đó tất tần tật - nhưng với điều kiện cần và đủ đầu tiên - là tiền đâu lại nhiều mới đạt tới đỉnh cao sảng khoái.
Lần đầu được nghe anh xích lô trạc ba mươi ngoài ,để ria mép, ăn nói liến thoắng, tí ti láu cá, tí ti manh mún, tí ti sành đời, tí ti trình độ, tí ti dạy đời , tí ti khoa trương… lại có tí ti a-mua, tí ti la hen kiểu Trần Dần - trước kia chàng này kiêu ngạo vung vít phê thơ Việt Bắc -*kết cuộc chẳng ăn giải rút gì, chỉ rước bại hoại theo sau . (un peu: tí ti- l’amour: tình yêu- la haine: thù hận- tiếng tây).

Giả thiết thôi nhé , chàng xích lô ba hoa này gặp tổng biên tập Nguyễn Ngọc Lan tạp chí Đứng Dậy sớm hơn, hồi đất nước mới thống nhất, anh ta sẽ giúp tác giả khỏi mất chức ,vẫn có thiên phóng sự người thật việc thật về Hà Nội khoảng cuối 75 ,đầu 76.
Thời đó, ba bố con tôi đi Đà Lạt thăm ngoại, mừng húm có Giấy đi đường , ra đường ngủ vật vờ tại bến đỗ Lê Hồng Phong chờ số thứ tự mua vé- có một vị khách Tân Gia Ba *đọc cho nghe:
-Chú Hai có biết vua Hùng Vương là ai không nhỉ? Vua Hùng sống lại về Phong Châu cũng giống con cháu bây giờ thôi, đi đường phải được ủy ban cấp phép. Chẳng biết kẻ sĩ nhát gan nào giấu mặt tỉ tê ngâm nga :
- Hùng Vương tựa gốc bồ đề/ Chờ xin giấy phép để về Phong châu/Trời mây ảm đạm một mầu… (còn ba câu sau quên tịt).
Lúc đó nhà báo cỡ tổng Lan, mới được đi đây đi đó bằng máy bay ,cùng phái đoàn miền Nam ra tham quan thủ đô là số một. Trong lúc mọi quan chức ăn , ngủ, họp hành theo lệnh trưởng đoàn – thì cựu linh mục Dòng Chúa Cứu Thế ,vốn có máu dân chủ truyền thống phương tây, thích làm theo ý riêng- tách đoàn lẻn vào chợ Đồng Xuân-Bắc Qua - thăm dân cho biết sự tình . Về lại Sài Gòn viết ngay cái gì nhìn thấy tận mắt, nghe được tận tai , hiểu, cảm được từ bộ óc bén nhậy - cộng thêm suy nghĩ riêng đều viết ra giấy trắng mực đen công bố huỵch toẹt. Bài phóng sự tổng biên tập Đứng Dậy chỉ sống được được vài hôm, dư luận xôn sao , bàn tán ồn ào - sếp quân quản ban lệnh hạ ngay bảng hiệu :- cất chức tổng biên tập Nguyễn Ngọc Lan báo Đứng Dậy tức thời, chuyển sang làm thinh ở báo Ngồi Xuống - tout de suite! (ngay lập tức).
Có một sáng qua hẻm Tân Phước, tôi lại bắt gặp lão niên tóc đen nhánh, thân gầy xác ve, quần áo chỉnh tề, đôi mắt tinh anh dưới cặp kính cận chăm chú đọc báo, bút đỏ gạch dọc ngang, đôi lúc đứng dậy đi qua đi lại, khi thì lại gần lồng sắt châm lúa vào hộc cho hai con két** biết nói tiếng người.
Rủ đi café sẵn sàng leo lên ngồi , thân dáng cò bay nhẹ tênh- đôi khi tôi nghi ngờ, ngoái cổ lại nhìn- cảm ơn Chúa – chàng vẫn còn đấy, hai tay nắm càng xe rất vững an.
Có một lần đi cùng Ý Nhi , Hoàng Vũ Đông Sơn, Nguyễn Quốc Thái đến viếng mẹ vợ lão niên qua đời. Thâm tâm có mục đích hoà giải sự bất đồng giữa X…,biên tập viên cũ - thì tổng Lan bắt tay X… hờ hững , giữ vững quan điểm kẻ hại ta không thể người ngoài- và nhắc khéo tôi: -lần sau ông đến, xin đừng cho X… bám. Trươc khi nhắm mắt ,vẫn không quên dặn vợ con: Hãy đóng nắp quan tài lại, khi nhìn thấy mặt X… .

Có một buổi tối năm 2000, chàng lại ngồi phía sau xe ôm chặt lấy tôi tôi phóng vù vù quanh kênh Nhiêu Lộc từ quận một ( nhà tôi) qua quận ba , sang quận Phú Nhuận lẻn vào ngõ sau , mắt la mày lét như kẻ trộm sợ ai theo. Đưa tay thọc ô vuông cửa sắt ,gạt chốt cửa , đi vào quen thuộc hệt chủ nhà . Gặp Thực, cậu trao ngay một bó sách đâu chừng mười cuốn Chủ nhật hồng trong mùa tím, tác giả ôm vào nách thoát cửa sau Hội thánh Báp Tít Ân điển- ra đường hẻm. Chẳng có ai theo phía sau, chàng cười thật tươi:
-Ông ơi, con trai mục sư Chảnh can đảm có thừa , dám nhận in thuê hàng nghìn cuốn mang danh nghĩa NXB Tin Paris. Ông nhắn cậu Thực chở thẳng về địa chỉ … Tân Phước, có gì tôi chịu trách nhiệm. Sách mình viết về tôn giáo, xã hội, không phạm qui, chẳng có gì mà sợ! Sách đẹp như in offset ,chỉ dân trong nghề cầm sách lên ngửi mùi dầu hôi mới phát hiện in lụa thôi.
Và một đêm sau cùng- cuối tháng 2/2007 - đôi mắt tinh anh khép lại, tiếng nói hào sảng tắt hơi, Chúa giơ đôi tay bồng ẵm tôi tớ Ngài về chốn vĩnh hằng. Một rừng bè bạn, kẻ yêu, người ghét, kẻ bạn, người thù , kẻ buồn thật lòng, kẻ lau nước mắt cá sấu- có vị khóc kẻ qua đời đâu đó dăm bẩy câu, kể lể bản thân thì dài dằng dặc rễ rau muống!
- Ngày mai đưa tang, anh có đi tiễn anh Lan không? Hôm ấy cha Ý Vinh Sơn sẽ đọc điếu tang đấy.
Cô Nguyễn Thị Chiên ( cựu nhân viên báo Đứng Dậy) nói vậy. Quay lại nhìn, mắt cô đỏ hoe, đầu chít khăn tang, tôi nhận mảnh giấy trắng có bốn câu :

Một mai đến tận đường cùng
Hỏi chiều sương xuống hỏi sương hỏi chiều
Bao nhiêu lòng kể là nhiều
Thập hình ngả bóng càng chiều càng xa

NGUYỄN NGỌC LAN


Sắp tới Đền Hùng, nhìn trước mặt có bảng chỉ dẫn- Khu Công nghiệp Thủy Vân Việt Trì 1 km -chạy thẳng Đền Hùng còn 4 km nữa. Nhà cửa xây san sát ba bốn tấm trở lên, nóc nhà nào cũng chóp, xe cộ đủ loại, container, xe tải, xe con, xe khách 45 chỗ, xe chở hàng – nhìn là biết đời sống cao lên, dân thị xã sống sung túc.
Lần đầu tiên đến thăm Đền Hùng, dầu nguyên quán Việt Trì- thủ phủ tỉnh Phú Thọ thật, nhưng từ xưa đến nay,tôi chưa một lần biết đền vua Hùng ở chỗ nào. Thời còn nhỏ, theo ba đi tàu hỏa từ Việt Trì lên Trường Tiểu học Động Lâm- đến ga Thanh Ba hay Đoan Thượng , tôi không còn nhớ rõ - thì xuống .
Một đoạn dĩ vãng tuổi thơ sống lại khoảng thời gian 1942, 43 gì đó, buổi chiều xếp hàng vào lớp học là y như tiếng động cơ ầm ầm rền vang trên bầu trời, lại máy bay Mỹ thả bom doanh trại lính Nhật bản đây. Chúng tôi được lệnh của thầy tổng giám thị nhảy xuống tăng xê trú ẩn (tranchée- abri) nấp, máy bay đi khỏi ,xếp hàng lại, quần áo lấm lem đầy cát, miệng vẫn ong ỏng Maréchal , nous voilà !, cứ làm như là thông chế Philippe Pétain đội nón kê-pi (képi) đứng lừng lững trước mặt , lấy tay xoa đầu khuyên họs sinh an nam ngoan ngoãn học hành. Tôi vốn nghịch ngợm- sau mỗi câu Maréchal nous voilà !, tôi nối điệu mais nous ne mangeons pas caca. Bạn học cười ồ, tổng giám thị chạy lại tra hỏi, cậu nào nói gì, ra khỏi hàng được giảm khinh nhiều lắm chỉ ăn vài chục tay thước thôi- nếu không tự thú thầy hiệu trưởng khám phá ra, tội này có thể bị bắn bỏ, vì đã hỗn xược với đại thống chế.
Tự tin con thầy hiệu trưởng thì sẽ không sao, tôi giơ tay ra khỏi hàng, sau đó bị nằm trên băng ghế dài, mỗi lần tay thước đét vào mông, không dám kêu con đau quá, mà chỉ cắn răng chứ không dám hít hà – về nhà có thể bị trận đòn thứ hai không chừng!
Khi ấy, ba tôi thuê căn phòng nhỏ gần trường, hai bố con đi chợ nấu ăn lấy. Còn nhớ như in, ông nấu cơm rất ngon, hột cơm chín không được phép nát quá, không khô quá, gọi cơm con ong trộn mắm tôm rang với thịt ba chỉ- thì chẳng còn gì ngon hơn nữa!
Có một lần đang ăn cơm nghe thấy tiếng máy bay Đồng minh , lại nhẩy xuống tăng xê trú ẩn, tay đang cấm miếng cơm cháy óng ánh vàng phết mắm tôm, cứ cho bom rơi trúng hầm chết chẳng có gì tiếc! Ba tôi kể, lính Phù tang rất ghét cơm cháy ,thì nhất định chúng chẳng biết gì nghệ thuật ăn uống cả, làm sao thuyết Đại đồng Phát xít Nhật làm bá chủ Đại Đông Á được! Rồi ông cười thật ròn, nụ cười hiếm hoi thấy nơi ông- với tôi, ông lại càng nghiêm khắc và tần tiện từng nụ cười , lời ăn, tiếng nói. Mỗi lần ông đưa tờ năm cent tiền giấy- có ảnh bà đầm xòe mua thuốc lá , mấy phong bánh đậu xanh, không cần nói ra lời, ông chỉ lấy hai ngón tay đưa lên miệng, sau giơ tay lên như đang cầm chung trà- là biết ngay ông sai đi mua thuốc là đen hiệu Job cùng năm phong bánh đậu xanh. Phải chọn bao thuốc lá nào thẳng thớm, không méo mó, bánh đậu phải lấy nguyên phong ; rồi bẻ đôi lấy một nửa, năm cái. Thường ra, mỗi lần như thế, ông cho tôi một phong, miệng nuốt nước bọt thèm thuồng bóc ra cho vào miệng, sao ngon đến vậy- nhưng không hiểu sao tôi lại đem cất để dành.
Và một buổi tối chiều mưa, ăn cơm xong, ông ước ao giá có phong bánh đậu xanh tráng miệng thì tuyệt!
Tôi vào bếp mở tủ lấy phong bánh đậu ông cho bữa nọ, đem ra đưa hai tay với lời thưa :
-Thưa ba ,con không thích ăn bánh đậu xanh cho lắm, con xin biếu ba, mong ba nhận cho con vui!.
Lúc đó, giản dị lấy lòng bố sẽ đỡ phải ăn đòn hơn, vì ông đánh ,có trận thừa sống thiếu chết, nhẹ thì được nằm lên băng ghế dài ăn hàng chục chiếc roi mây, sau đó cho phép đứng dậy, xin lỗi ba với lời hứa không tái phạm.
Mỗi lần trở về nông trại Làng Bữu, mẹ hỏi có bị ba cho ăn đòn không, tôi vẫn lắc đầu xác nhận không- dạo này ba thưong con lắm!.
Có một lần , thầy giáo X… ( tôi quên tên) ở xã Hiền Lương xin hoán chuyển về trường Động Lâm và ba tôi lên trên đó xem trường ốc ra sao, dặn tôi trông nhà cẩn thận, không được đi đâu, ai hỏi không mở cửa, ở trong nhà hỏi vọng ra, phải lễ phép xin ghi lại phương danh khách đến giờ nào, ngày nào, lý do đến, rồi về trình lại.
Trời mưa như trút, gần tối vẫn chưa thấy ba về, vừa sốt ruột vừa sợ, tôi đành liều khóa cửa đi tìm. Gần đến trường Hiền Lương, có một chiếc cầu khỉ ,chỉ có một cây gỗ bắc ngang, dưới kia nước chảy xiết- tôi đành liều bò qua, hai tay truớc bám vào cây cầu, hai chân sau nhích từng bước hệt chú chó - nhờ ánh sáng lễ hội trống chiêng từ Đền Mẫu Âu Cơ gần đó. Qua được cầu, đưa tay lau mồ hôi giỏ giọt trên trán, vì quá sợ hãi- chẳng hiểu ba tôi đang ngồi dự tiệc nhìn thấy. Ông gọi vào, chẳng hỏi han gì, giáng mấy cái tát nổ đom đóm mắt. Tôi đỡ đòn ôm mặt, không dám khóc. Và lòng đầy căm giận. Ba tôi lại trở lại bàn dự tiệc tiếp các bô lão chức sắc trong đền- hàng năm sau tết ta vào ngày mồng bẩy giêng- xã Hiền Lương gióng chuông trống, mổ lợn gà, đãi tiệc thật lớn, kỷ niệm Mẫu Âu Cơ đưa 50 con trai lên rừng, còn lang quân 50 xuống biển.
Lợi dụng thời cơ, tôi lẻn ra bến đò huyện Hạ Hoà xuôi Làng Vần - huyện Trấn Yên-Yên Bái, rồi qua Đại Lịch về nông trại Làng Bữu. Chỉ nghĩ được gặp lại mẹ , tôi bất chấp gian nguy dọc đường, dầu hổ báo vẫn thường xuất hiện cũng mặc, tôi đem theo mấy nhánh tỏi soa vào mũi thì cọp sẽ không thể ngửi thấy hơi người, tự nhiên có sức mạnh lạ kỳ. Giả thiết lần này về nhà bình an, tôi sẽ xin mẹ cho ở nhà không theo ba nữa.
Vừa bước xuống bến, có người nắm cổ áo giật ngược , tôi quay lại , thì ra là ba. Giật tay ông, định tháo chạy, không kịp nữa – tôi đang chắc mẩm thế nào tối nay sẽ được ăn trận đòn thừa sống chí chết đây- nhưng ông nói rất dịu dàng: -Ba xin lỗi để con ở nhà một mình, trời mưa gió như thế này con sợ là phải. Thôi ta về, ba sẽ không đánh con đâu, đừng sợ.
Đó là kỷ niệm cuối cùng với ba- một lần duy nhất ông có lời nói nhẹ nhàng, vuốt đầu con, ôm chặt vào lòng nựng nịu của đêm nào mưa gió ở xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà- Phú Thọ.
Vào năm 1946, một buổi chiều nghe tin đoàn quân Pháp sắp tràn về xã Thượng Bằng La , rút sang Vân Nam – chiến dịch vườn không nhà trống , dân chúng tản cư, người chạy vào rừng, kẻ theo đường mòn ra xã Đại lịch, Làng Vần –Trấn Yên trốn chạy. Và từ ngày đó ba tôi bị cầm giữ, người ta sợ ông giáo Đỗ Văn Đức làm thông ngôn cho quân viễn chinh Pháp chăng?
Tôi chụp rất nhiều ảnh Khu di tích Đền Hùng, Bảo tàng Hùng Vương- chúng tôi và bà già trầu Nam Bộ đi loanh quanh trong khu vườn cây cối um tùm, màu xanh mướt vài khóm cọ mới trồng – và Phú Thọ vốn nổi tiếng nhiều đồi cọ - dân trung châu Phú Thọ, Yên Bái thường dùng lá cọ lợp nhà, lá cọ cuốn dầy hơn lá cọ sẻ, lợp mái nhà cọ cuốn có thể trụ được dăm mùa mưa mới phải lợp lại.

Nông trại gia đình tôi ở Làng Bữu, như đã nói, có đồi cọ cao vút mười mấy thước, chim yểng về làm tổ hót líu lo mỗi chiều đất lành chim đậu. Cho đến một buổi sáng đầu xuân, chúng bay đi, chiếu không về lại tổ - giữa năm ấy cuộc kháng chiến bùng nổ. Và chủ, tớ, vợ, chồng, con cái thất lạc nhau trên đường trốn chạy, phong trào tiêu hủy kháng chiến, chấp hành nghiêm ngặt lệnh nhà bỏ trống, vườn không.
Và lần này, chúng tôi về lại Đền Hùng thật thoải mái, tự do, đến không cần báo, đi chẳng ai hay, không còn nạn giấy phép trước, đi đường sau- nên thông cảm thời khó khăn, đến đỗi dân gian râm ran câu vè phúng thích ,đến như vua Hùng về Phong châu không phép cũng bị đuổi về .

Bữa cơm trưa tại nhà hàng Lồng Đỏ- 2195 đường Hùng Vương- đại lộ thênh thang của Khu Công nghiệp Thủy Vân-Việt Trì- thật vừa miệng. Số nhà mang bốn hàng số, tôi ghi đủ-chỉ chứng tỏ trục lộ không những dài tăm tắp, hai làn đường rộng mênh mông chiều ngang mấy chục thươc, khác xa đường cách mạng thêng thang tám thước-nay đã lỗi thời. Xe hơi nối đuôi nhau chạy khiến người muốn băng qua đường vất vả hết nhìn xuôi, lại nhìn ngược, đôi mắt láo liên canh chừng tìm khoảng cách an toàn tối thiểu bảo đảm sinh mạng khỏi què, cụt, có khi mất mạng như chơi. Còn ngước mắt nhìn lên, phải rướn mỏi cổ chưa thấy tầng chót lâu đài khách sạn - cảm tưởng hệt anh nhà quê lần đầu ra phố được mô tả trong truyện La Lettre Persanne.

“Và cô Thảo của cháu ơi, cháu đã về nguyên quán, hệt như tên mất gốc, bật rễ chẳng tìm thấy nhà ông bà nội – vì Việt Trì hoàn toàn đổi mới, với cháu - một thành phố rất ư xa lạ !
Cô Thảo của cháu ơi, cháu định viết một lá thư ngỏ gửi kèm cùng những tấm ảnh chụp khu Công nghiệp Thủy Vân Việt Trì-Phú Thọ, gửi bà Đỗ Thị Thảo ( 1917- ,) hiện đang sống vật vờ trong khu nursing home nào đó ở Vancouver. Chồng bà qua đời, bốn trai, một gái- ( ba trai thành đạt, hai kiến trúc sư, một thạc sĩ khoa học, trai út công nhân , gái bị tâm thần nhẹ-nghề: baby-sit. Còn trưởng nam sang Hoa Kỳ trước 75, có 3 căn nhà cho thuê dài hạn- dành một phòng cho bố mẹ từ Việt Nam qua, đầu tháng không quên thâu tiền trọ 400 đô la/ tháng. Bà cụ ấy nay sống thui thủi nơi trại dưỡng lão, không con cái thăm nom – ai hỏi , chỉ lắc đầu: -tôi vốn dĩ tứ -cố- vô-thân, sang Mỹ theo chương trình nhân đạo, chồng qua đời , con cái thì không, chẳng họ hàng thân thích , nào có còn ai đâu mà
nương với tựa?”

-Anh Năm ơi, xe sắp qua ranh giới Việt Trì phải không ? Cảm ơn thật nhiều!

Chẳng hiểu tại sao tôi cảm ơn, và cảm ơn ai- cảm ơn cái gì - tại sao cảm ơn ? chẳng ai hiểu kể cả bác tài. (lẽ đương nhiên như vậy rồi!)

14 giờ 15 đến thủ đô.
Nắng còn gắt giữa một chiều rực rỡ.
Chụp một bức ảnh thứ hai toàn đoàn trước Lăng Bác-một phó nháy lém lỉnh, láu cá bậc thượng thừa, chốp thời cơ thỏa thuận rất nhanh với hướng dẫn viên thực hiện bài bản chớp nhoáng. Tất cả anh chị em ,cô bác tập trung tại đây xếp hai hàng, cô bác nhiều tuổi đứng sau, các vị trẻ tuổi hoặc già gân ngồi hàng trước. Đứng hay ngồi xin cô , bác, ông, bà, anh chị luôn luôn ở tư thế vui vẻ, đời người chẳng ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông, vậy quí vị đây sẽ chẳng bao giờ được chụp tấm ảnh thứ hai đông đủ , vui vẻ, hào hứng như buổi chiều ngày 13/ 10 trước Lăng Chủ tịch.
Còn chương trình vào thăm Lăng không thực hiện được , Lăng đang trong thời kỳ tu sưả. Chúng ta khẩn trương thật nhanh để còn có thời giờ thăm Phủ Chủ tịch, xin quí vị nhớ cho, quí vị tự thân đến đây không có cơ hội thăm riêng lẻ chỉ có phái đoàn ,đoàn du lịch được chấp thuận đăng ký vào thăm mà thôi.

Chúng tôi ngồi ăn kem căng tin khu Nhà sàn Bác Hồ, đã nhìn thấy thợ ảnh có mặt , tay cầm một lô phóng ảnh huơ huơ, miệng giẻo quẹo :
- Mời cô bác, anh chị nhận phóng ảnh 13x18 thật đẹp, tấm ảnh lịch sử có một không hai , một lần đến thăm thủ đô và một lần về đem theo tấm ảnh kỷ niệm đã đặt chân lên thủ đô đúng lần thứ 52 Hà Nội được giải phóng. Cô bác nhanh tay lên, số phóng ảnh được in ra có hạn.
Vừa cầm ly kem vừa chạy tới, tôi xoè tiền ra chốp ngay một tấm. Ảnh chụp rất nét, mọi người vui vẻ, trừ hướng dẫn viên Tua đứng hàng đầu góc bên trái không cười. Chẳng biết có phải cô vợ rất là Bắc Kỳ nho nhỏ , đang bế con nghe di động, sao giờ này chưa thấy phu quân về hoan hỉ với vợ cùng con ?

Ăn bánh tôm Cổ Ngư phía bên hồ Trúc Bạch, nơi hoa tiêu John Mc Cain lái B 52 rơi xuống hồ , ai tinh ý vẫn nhìn thấy tấm bia lưu niệm giặc lái Mỹ đầu tiên rơi xuống đây vào… ngày.. giờ, tháng… năm….
Phi công sinh năm 1935, nếu ông ta ứng cử tổng thống Mỹ khóa tới, có khi lại trúng cử với mác phi công Mỹ đầu tiên, được ngơi nghỉ an dưỡng tại Khách sạn Hilton Hà Nội, biết đâu dân Hoa Kỳ nhớ tới hội chứng chiến tranh Việt Nam lại dồn phiếu không chừng? (Khách sạn Hilton: Nhà Tù Hoả Lò nơi giam tù binh chiến tranh)

Di dộng reo, Nguyễn Đăng Khải hẹn thết bánh tôm tối nay trên đường Thanh niên, có cả vợ chồng Kiều Liên Sơn, Cao Bá Ân, Nguyễn Gia Vinh. Nhớ đúng năm giờ chiều tại quán, đến trước ngồi vào bàn đợi chúng tao. Tao ban lệnh ,đứa nào không đem vợ theo không được ăn bánh tôm Cổ Ngư cùng vợ chồng Tường đâu nhé. Thằng Dzư hẹn cô giáoThái( vợ nó trùng tên vợ tao)bữa nay thằng Khải thết, em đến dự cho biết mặt vợ Thế Phong.
Tôi nói với vợ, chúng ta đành từ chối thôi, chẳng lẽ ăn bánh tôm Cổ Ngư rồi lại ăn nữa được sao? và Khải hẹn sẽ gặp lại ở khách sạn Phùng Hưng sau tám giờ tối.

Hướng dẫn viên mời đoàn du lịch sang thăm chùa Trấn Quốc. Với tôi, bây giờ chùa đã có bộ mặt khác sau mười hai năm trước - giờ đây nhìn thấy một tháp cao ngất ngưởng mới xây ,đếm được mười một tầng – mấy cây cọ gần đó cao vút, nhìn từ ngọn cũng chỉ ngang tầng thứ tám – vậy ra cây cọ lão niên còn thấp hơn đến bốn tầng so tháp mới. Tất nhiên tháp mới này hấp dẫn mấy cặp tây đầm, họ đang chen chúc đứng trước tháp chụp ảnh, chúng tôi chờ mãi mới tới lượt bấm lia lịa vài pô, vì phía sau còn lô nhô vô số khách chờ. Vậy ra hoà thượng trụ trì viên tịch chùa này được sùng bái phát khiếp!
Vợ hỏi, vậy Petit Đồ Sơn xưa đâu? Là nhà hàng nổi to đùng dập dềnh trên sông nước đầy ắp thực khách đấy thôi, tôi lấy tay chỉ về hướng đó. Xa xa hơn còn mấy tòa lâu đài khách sạn năm sao mới xây trên dốc Cổ Ngư nằm trên hành lang đê Yên Phụ, vợ tôi nhìn theo khen hoành tráng vô cùng!

Trở về khách sạn Phùng Hưng nhận phòng, cô Huyền sắp chúng tôi ở lầu hai- tắm xong leo lên giường nằm, thiu thiu ngủ thật khoan khoái- bỗng chuông điện thoại bàn reo- tiếp tân báo phòng 201 có khách đợi dưới nhà.
Chắc chắn vợ chồng Khải- Thái, Ân, Vinh, vợ chồng Dzư (Kiều Liên Sơn) rồi. Hụt thết bữa bánh tôm, thiếu vợ chồng Dzư – lại có thêm Nguyễn Khôi –Ngã tư Vọng.
Chị Thái giở gói cốm vòng, nải chuối tiêu vỏ lốm đốm, chuối này ở Hà Nội không có, vậy có ai nhận ra xuất xứ không? Vợ tôi sống ở Đà Lạt khá lâu, nên chẳng lạ gì chuối dẻo quánh, đem đi xa không dễ bị dập, để vài ngày thời tiết nóng chuối vẫn không bị nẳng.
Còn vợ chồng Dzư-Thái, (vợ Kiều Liên Sơn cũng tên Thái, trùng tên vợ Khải) thì Khải giải thích, nó lấy cớ xóm Xuân Phương đi về trên hai chục cây số, ăn bát cháo lội ba cánh đồng, xin kiếu- lần sau vợ chồng Tường ra Hà Nội chơi, gặp lại chúng nó, thì đã chết thằng tây, con đầm xoè nào đâu mà sợ ? Khải có lối nói dễ xa nhau, nếu không hiểu bản tính bộc trực, nghĩ sao, nói vậy của Khải bạn bè chấp nhất dễ giận lẩy.

Trò chuyện hồi lâu, chụp ảnh lưu niệm xong, một số các cô trong đoàn cùng thưởng thức cốm vòng ngon, dẻo, bùi. Còn hướng dẫn viênTua ngồi thừ một góc, vừa nhai cốm vừa thở ngắn , than dài, chẳng biết có đúng đang nhớ cô bắc kỳ vợ nho nhỏ, hay nổ chơi cho khách đỡ buồn ngủ trên xe? Giữa lúc đó, con gái Cao Bá Ân từ Định Công lên đón bố, vậy thì cuộc vui giải tán cũng vừa rồi – đám bạn học cũ gặp lại nhau, đứa tóc bạc, đứa da mồi, buồn buồn, tủi tủi, xiết tay nhau thật chặt sau 56 năm dâu bể biến thiên- vẫn hy vọng đây không là buổi gặp gỡ cuối.

-Chúc vợ chồng Tường sáng mai lên xứ Lạng vững an!

Khải nói xong dắt vợ lên tắc xi.



*tân: mới- gia: nhà- ba: ba mươi tháng tư. Trước 75, miền Nam phiên âm Singapore sang tiếng việt là Tân Gia Ba, Indonésia: Nam Dương , Malaysia: Mã Lai, vv…



...CÒN TIẾP...









© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản tác giả gởi từ Sài Gòn ngày 19.06.2008.