Tranh của cố họa sĩ Tạ Tỵ
























TRẦN THỊ BÔNG GIẤY





"Bút ký NCQC của Trần Thị Bông Giấy đã từng được một NXB tên tuổi ở Tp Hồ Chí Minh đề nghị mua bản quyền in ấn. Dù sự việc không thành nhưng tác giả vẫn giữ nguyên bản đã được NXB này lược duyệt khi cho phép ban biên tập đăng tải trên Newvietart."



TỰA



Từ những ngày tháng mà cuốn bút ký Nước Chảy Qua Cầu chưa có tên gọi và còn là bao mẩu tâm sự, bao suy nghĩ, cảm xúc trùng trùng của kỷ niệm được ghi nhận lại bởi từng mảng thời gian bềnh bồng trôi giạt, tôi đã đắm chìm trong một không khí huyền hoặc, mê say và cảm động qua lời kể của Trần Thị Bông Giấy về đoạn đời năm năm phiêu bạt của nàng trong tư thế một nghệ sĩ vĩ cầm của một đoàn Cải Lương lưu diễn đó đây trên khắp quê hương, từ sau tháng 11/1975.
Tất cả những điều được kể hoàn toàn là chuyện thật, tại sao lại tạo ra được cái không khí huyền hoặc mê đắm đó? Đất nước Việt Nam sau cuộc chiến tranh dài, tình trạng hỗn mang dâu biển bủa lên mọi cảnh đời. Nhưng trong mắt nhìn từ một tâm hồn mong manh mà hùng tráng của người nghệ sĩ, và xuyên qua những hỗn mang dâu biển đó, Trần Thị Bông Giấy đã nhận ra một thứ hạnh phúc thật kỳ dị: “Ly cà-phê sáng ở một thị xã buồn tênh xa lạ như là một miền cuối cùng của trái đất. Những bữa rượu nửa đêm về sáng sau giờ trình diễn với các người bạn nhạc sĩ khác trong đoàn. Bà cụ già bất hạnh bê từng hũ rượu đi bán dạo. Phiên chợ âm hồn bắt đầu họp vào lúc nửa đêm nơi một làng quê Việt Nam. Người bạn cũ gặp lại trong một thị trấn buồn tênh xa lạ. Người đàn ông ngồi uống rượu một mình trong không gian mờ ảo của chiếc quán khuya, bối cảnh thời đại như nhuộm lên thân hình ông sự cô đơn khốc liệt của một kiếm khách trên đường gió bụi...”
Mỗi mẩu chuyện là một viên ngọc đối với Trần Thị Bông Giấy. Gom tất cả những viên ngọc đó lại, Trần Thị Bông Giấy làm thành xâu chuỗi ngọc khác thường cho chính mình. Bởi đó, khởi đi từ những tâm sự được kể, những kỷ niệm nuối tiếc được nâng niu, tôi đã đề nghị Trần Thị Bông Giấy viết lại thành một quyển sách, một quyển bút ký. Biết đâu lại chẳng có người cũng muốn được chia xẻ với tác giả những hình ảnh, những mẩu chuyện tuy rằng đã có sẵn, luôn hằng hằng rải rác trên khắp cùng sông nước Việt Nam, nhưng cho dù đã sinh ra và lớn lên ngay trên quê hương mình, chắc hẳn trong chúng ta mấy ai đã được nghe, được thấy? Nhất là nghe, thấy từ vị trí một người nghệ sĩ phiêu bạt từ sau cuộc biến động lớn của quê hương?
Thời gian trôi đi. Đời người trôi theo dòng thời gian để mà lạc loài đến những không gian cũng biến động trong từng giây từng phút. Tương quan giữa con người với con người, giữa con người với thời gian và không gian thật là chặt chẽ. Đó là sự cùng trôi đi và mất tăm. Như nước chảy qua cầu. Tôi nghĩ, viết quyển bút ký này, Trần Thị Bông Giấy trước hết muốn giữ cho chính nàng, muốn làm không gian và thời gian ngưng đọng lại, để trong không gian và thời gian đó vẫn còn nguyên những người, những cảnh, những chuyện của kỷ niệm hiện tại và của cả một đời. Vì thế, văn chương không phải là mục tiêu khởi đầu của Nước Chảy Qua Cầu, của Trần Thị Bông Giấy. Văn chương chỉ tự nó thành tựu ở lúc tâm sự, kỷ niệm được tác giả viết xuống thành chữ, thành câu, sau khi đã là những chuyện kể. Những chuyện kể bềnh bồng trôi giạt...

Trần Nghi Hoàng
4 giờ sáng ngày 12 tháng 8 năm 1989


XIV



Paris.

Khi biết ra ý định đi Mỹ của tôi, Daniel có vẻ buồn. Anh đã nói sau đó trong một buổi tập dượt: “Có thể rằng cô có lý, nhưng nếu là tôi, tôi sẽ chọn Âu Châu để bắt đầu lại một cuộc đời khác, hơn là nước Mỹ.”

Tôi hỏi tại sao? Anh giải thích:

“Nước Mỹ đặt giá trị vật chất lên hàng đầu sẽ không thích hợp được với những con người có một truyền thống tình cảm lâu dài như người Việt Nam. Ở đây, cô sẽ thoải mái hơn trong một nền văn hóa và phong tục có những điểm tương đồng với xứ sở cô.”

Tôi đáp rằng đồng ý với anh tất cả những điều vừa nói, nhưng giờ đây tôi không có quyền sống riêng cho chính tôi nữa. Tương lai của đứa con tôi mới là vấn đề quan trọng.

Và tôi tiếp:

“Người Việt Nam lưu vong chúng tôi không chỉ nghĩ đến miếng cơm manh áo, mà còn phải nghĩ đến những cái gì xa hơn, liên quan đến đất nước dân tộc. Với tôi, một người đã sống 7 năm [] trong một xứ nghèo đứng hàng thứ ba thế giới như xứ sở tôi thì bất cứ nơi nào khác trên quả địa cầu này cũng không còn quan trọng nữa trong cái nhìn về vật chất. Nhưng còn con tôi, cũng như tất cả những đứa trẻ Việt Nam khác cần phải được nuôi nấng, học hành đầy đủ. Tương lai dân tộc tôi trông mong phần lớn vào những đứa trẻ ấy.”

Rồi tôi kết luận:

“Tôi yêu nước Pháp và nền văn hóa đẹp đẽ lâu đời của nước Pháp, nhưng ở đây, tôi không hy vọng dư dả để có đủ tiền cho con tôi vào đại học. Một nước Mỹ giàu có sẽ có thể khá hơn cho chúng tôi trong vấn đề này. Cái kiếp lưu vong không thể kéo dài mãi mãi. Phải nghĩ đến một ngày trở về. Và trong ngày trở về ấy, dù cách gì chăng nữa, lớp thế hệ đi sau cũng sẽ rất cần thiết cho dân tộc tôi.”


Sàigòn tháng 10/1979.

Những trận mưa cuối cùng trong mùa tuy không còn dầm dề rả rích như dạo tháng Năm, cũng vẫn làm cho Sàigòn mang bộ mặt ướt át, sùi sụt cả ngày.

Tôi nhận tin một cậu học trò cũ đã chết. Những lời thiết tha trăn trối trước phút lâm chung của cậu đã chính là những cú gõ mạnh lên sợi giây tình cảm trong trái tim tôi. Ước vọng cuối cùng là phải có ai đó đến tìm để báo cho tôi biết rằng cậu –trong phần hành một người lơ của chuyến xe đò chạy đường Sàigòn & Long Khánh- đã chết nửa giờ sau khi ngã từ trên mui xuống đất.

Tôi hình dung rất nhanh cậu học trò 14 tuổi với dáng dấp gầy yếu khẳng khiu trong một lớp dạy ở Sàigòn gần 10 năm trước. Cậu bé không có đặc điểm nào ngoài cái điều thường xuyên bị đám bạn cùng lớp hiếp đáp vì sự nhỏ nhoi còm cõi trên thân thể cậu. Tình thầy trò chỉ kéo dài vỏn vẹn 9 tháng trong niên học năm ấy. Tôi rời Sàigòn lên Dalat. Một lớp học trò mới lại đến để đẩy lui lớp học trò cũ vào trong kỷ niệm.

Điều tôi không ngờ là sự vắng mặt của mình vẫn còn được tiếp tục hiện diện trong ký ức của ai đó. Một điều càng không ngờ hơn nữa là tình cảm ưu ái mà tôi được dành cho ấy, lại xảy ra trong thời buổi đảo điên hôm nay, khi con người không còn đặt giá trị của lễ giáo, đạo đức lên hàng đầu.

Có thể là tôi bi quan khi tin rằng trong một xã hội [] điều đầu tiên cần phải bị diệt đi chính là tình cảm. Miền Nam Việt Nam chỉ [] từ vài năm nay, nhưng [] những băng hoại tư tưởng phát sinh từ chủ nghĩa vô thần, xảy ra không phải là ít. Vậy thì tình thầy trò khiêm nhường kia, làm sao còn tìm được chỗ đứng trong xã hội điên cuồng hiện nay?

Tuy nhiên, trong cái tâm hồn mù mịt niềm tin này, những lời tha thiết cuối cùng của người học trò cũ đã giống như một đốm sáng từ xa nơi chóp ngọn hải đăng cho những con tàu lạc lối trong đêm trên biển rộng. Cái Đẹp vẫn tồn tại trên từng mỗi sự kiện hằng ngày của cuộc sống. Và tình cảm, điểm chính yếu tạo nên cái Đẹp vẫn hiện hữu trong tâm hồn nhiều người Việt Nam, cho dù vật đổi sao dời, cho dù dâu bể tang thương.

[]


Paris.

Tôi ưa thích căn phòng của mình, một khoảng chu vi 9 thước vuông nằm khiêm nhượng trên căn lầu tư của một tòa nhà lớn gần Gare de Lyon, thuộc quận 12 Paris. Màn cửa màu xanh đậm, bờ tường màu trắng, đơn sơ lạnh lẽo nhưng thân mật tuyệt luân. “Quân tử tri giao đạm nhược thủy”(Người quân tử giao tình với nhau lạt như nước). Bàn đọc sách ở đầu giường ngủ, cái giá nhạc và cây đàn vĩ cầm nằm lặng im trong góc. Căn phòng không có lò sưởi, phô bày thật rõ dáng cách đơn lẻ của nó. Màu trắng nhạt nhòa của bờ tường và màu xanh màn cửa đối chọi nhau sâu sắc. Hình như có một vết nứt làm banh cả da thịt, nhưng không thấy chảy máu? Đàng xa, qua cánh cửa sổ, những cuộn khói từ các đầu máy xe lửa bốc lên mờ mịt trong làn sương xám.

Mỗi đêm từ quán café trở về, tôi vẫn có thói quen thức khuya, ngồi nơi bàn viết nhìn qua khung cửa sổ, nghe ngóng thời gian trôi đi và ngẫm nghĩ về những điều xảy ra chung quanh mình. “U cư sầu cực hốt truy hoan”(*) điều này tôi vẫn tự nhủ; nhưng nó càng hiện thực hơn trong một căn phòng ma quái lạnh lẽo vào lúc nửa đêm về sáng ở Paris.

Một lúc nào, mẹ tôi đã nói với tôi: “Thời buổi này mà con sống như một người đang ở ẩn. Thật tội nghiệp!”

(Trong giọng nói có đượm đầy xót xa ái ngại.)

Tôi “ở ẩn” được chứ? Tại sao không? Đâu ai nỡ cấm tôi đêm thâu ngồi khoác chăn rách, nghe mưa rụng dưới giàn bầu và ngâm hoài hủy một bài thơ bốn câu?

Ôi! Bài thơ ngâm thiếu một giòng! Buồn thay!


Sàigòn, tháng 12/1979.

Những cơn gió gầy nhuốm hơi sương làm không gian đột nhiên rét mướt đã nhắc cho tôi biết rằng mùa đông đang trở lại. Mùa đông của Sàigòn –đối với tôi- chỉ bắt đầu vào những ngày tiết trời đột nhiên trở lạnh và những cơn mưa dầm kéo dài từ tháng Tư không còn xuất hiện nữa.

Mùa đông cũng biểu tượng trên những chiếc lá me xanh ngắt rơi tới tấp xuống góc đường Gia Long & Nguyễn Trung Trực, nơi tôi vẫn có thói quen tìm đến ngồi trong một cái quán nhỏ uống ly cà-phê thậït sớm mỗi lúc trở lại Sàigòn. Cái thói quen từ khi còn đi học, đến bây giờ vẫn chưa bỏ. Một dấu tích của thuở nào rất đẹp mà tôi vẫn cứ muốn qua mặt thời gian để lưu lại trong cuộc đời mình.

Cốc-café-mùa-đông mang hương vị đậm đà hơn trong ý nghĩ khi tôi vừa được uống chất nước ngọt ngào vào trong máu, lại cũng vừa ngắm nhìn những chiếc lá me bay. Chiếc lá xinh xinh bé bỏng rớt vào cốc cà-phê đậm đặc chẳng khác nào một chút hy vọng màu xanh điểm vào cuộc đời tối đen chán ngắt!

Khi chiếc lá xa cành,
Lá không còn màu xanh
Mà sao em xa anh,
Tình vẫn xanh vời vợi…

Hồn thơ của Huy Du, một thi sĩ miền Bắc đã đi vào tâm thức tôi lúc nào không biết; để rồi cứ mỗi lần nhìn một chiếc lá me rơi xuống trong khoảng chu vi rất bé của cốc cà-phê, tôi lại nghĩ về những giòng chữ êm đềm kia. Niềm yêu thích nẩy sinh không chỉ riêng vì sự lãng mạn ẩn tàng trong bốn câu thơ ấy, mà còn chính vì nhân vật tạo nên được nỗi lãng mạn lại là một người đã từng sống trong chế độ Cộng Sản ít nhất là 30 năm. Sàigòn với những buổi sáng tinh mơ mùa Đông càng được yêu nhiều hơn do từ điểm đó.

Tháng 12, mùa sao sáng lại về. Cánh cửa của kho tàng ký ức có dịp mở ra để đón nhận thêm nhiều xúc cảm bâng khuâng. Thời gian của mùa Đông có mùa Xuân phôi thai đâu đó mà một ngày của ba mươi năm trước, tôi đã mở mắt chào đời.

Ba mươi năm với những khúc quanh trong định mệnh, những nước mắt và những thất bại, vậy mà cứ mỗi mùa sao sáng trở lại là tôi không khỏi thấy lòng mình rộn rã, nôn nao. Hạnh phúc như gần hơn qua làn sương mong manh buổi sớm, qua cơn gió vồn vã buổi chiều và qua cái khí lạnh ngọt ngào trên đường khuya trở về mỗi tối. Tất cả những điều này, tôi gom lại thành một chuỗi kỷ niệm như một thứ hành trang đáng giá của đời mình.

Và dẫu rằng mỗi lần trở về Sàigòn là tôi lại nhìn thấy qua các người thân thêm một chút khó khăn vật chất, nhưng tình cảm luyến lưu dành cho thành phố thân yêu kia vẫn cứ tràn đầy. Những chiếc lá me xanh bay trong gió sớm vẫn gợi lên nhiều mơ màng xúc động, và cốc cà-phê nơi chiếc quán ngang hông Thư Viện Quốc Gia dẫu có pha mùi xác cau nghiền nát cũng cứ còn làm cho tôi yêu thích, như thuở nào kiên nhẫn ngồi chờ từng giọt màu đen nhẹ nhàng rơi xuống đáy ly.

Khi chiếc lá xa cành
Lá không còn màu xanh.. .

Nhưng với tôi, khi chiếc lá xa cành, lá vẫn còn màu xanh, dù chỉ là màu xanh trong một thoáng cuối cùng nào đó trước khi ngả sang màu úa, tôi vẫn cố bám vào để quý, để thương.

[]




XV



Paris.

Đêm Ba Mươi Tết, đi làm về, từ trên xe buýt bước xuống đi bộ thêm trăm bước nữa là đến nhà, tôi bỗng nhìn thấy trước thềm một quán rượu đã đóng cửa, một cậu trai độ 16, 17 tuổi đang ngồi ôm mặt khóc nức nở. Giữa đường khuya, tuyết rơi như bông gòn trắng xóa, xe cộ thưa thớt, sự kiện một thiếu niên người Á Châu ngồi khóc đã làm tôi tò mò. Sự xúc động càng lớn hơn khi nhận ra lại là một người nói cùng ngôn ngữ với tôi. Tôi bèn ngồi ghé cạnh bên cậu trước thềm quán rượu, mặc cho những hạt tuyết tới tấp rơi trên đầu trên tóc. Cậu bé vẫn ngồi khóc, tôi vẫn kiên nhẫn hỏi han duyên cớ. Mãi sau, vừa úp mặt vào chiếc khăn quàng cổ, cậu vừa nói: “Em nhớ nhà quá chị ơi! Em nhớ mẹ em. Mẹ em chỉ có mỗi mình em. Bố em chết từ khi em còn nhỏ. Bà sợ em bị bắt đi nghĩa vụ quân sự nên gửi em vượt biên với gia đình một người hàng xóm. Em qua đây khi mới mười hai tuổi. Hồi đó còn nhỏ chưa biết nhớ, bây giờ lớn, chịu không nổi với sự cô đơn của đêm Ba Mươi.”

Cậu bé dùng một thứ ngôn ngữ nửa Tây nửa Việt để nói với tôi. Rồi lại khóc nức nở. Tự dưng, tôi cũng thấy đôi mắt mình cay cay giọt lệ. Tôi mời cậu về nhà nhưng cậu từ chối. Vì vậy, tôi ngồi lại một lúc với cậu trước thềm quán rượu, lắng nghe cậu kể những câu chuyện về việc làm và đời sống hiện tại.

Sau khi đã bình tĩnh hẳn, cậu đứng lên chào tôi, thốt lời cảm ơn, rồi nói: “Giá bây giờ được trở về Việt Nam mà có bị bắt đi nghĩa vụ quân sự, em cũng không sợ. Em chỉ thèm gặp lại gia đình, thèm được đặt chân lên vùng đất quê em mà thôi.”

Cậu thêm: “Quê em ở Dalat.”

Xong, đón xe buýt trở về.

Câu chuyện một thiếu niên Việt Nam ngồi khóc giữa đường phố đêm Ba Mươi Tết nơi xứ người đã đeo đuổi ám ảnh tôi suốt mấy ngày sau đó. Quê hương là điều mà bất cứ ai cũng không thể khước từ ra khỏi tấm lòng thuần túy. Ở đây, tôi đã gặp nhiều người Việt Nam già cả bày tỏ tình cảm nhớ nhung quê cũ, nhưng lại chưa thấy sự biểu lộ của một người trẻ nào chân thành và nồng nàn như của cậu bé gặp đêm Ba Mươi.

Có một câu hỏi cậu đưa ra cứ làm cho tôi suy nghĩ: “Tại sao bỗng dưng mà mình mất quê hương vậy chị?” Khi ấy, tôi không biết trả lời sao với cậu. Trong một lúc không thể trình bày cho hết được sự việc của một lịch sử đã trải qua hàng trăm năm.

Khi vừa lớn, mỗi lần có dịp đi ngang Phan Rang hay các vùng miền Trung nước Việt, nhìn thấy các người Chiêm Thành lang thang lếch thếch, tôi không khỏi se lòng tội nghiệp. Sự buồn rầu trên khuôn mặt họ luôn luôn tạo cho tôi cảm nghĩ xót xa theo hình ảnh một loài chim cuốc... Mười mấy năm sau, tôi cũng đeo mang cái định mệnh của những người Chiêm Thành mất nước. Và câu hỏi: “Tại sao mình mất quê hương” như cậu bé đã đặt ra trong đêm Ba Mươi Tết lại cũng chính là câu mà tôi đã từng hỏi với lòng riêng.


An Lộc (Bình Long), tỉnh Sông Bé, tháng 1/1980.

Theo sự phân phối của Phòng Nghệ Thuật Sân Khấu, chúng tôi phải đến biểu diễn một tuần lễ ở An Lộc trước khi trở về Sàigòn trong dịp Tết Nguyên Đán.

Từ Sàigòn, chiếc xe đoàn vượt qua khỏi cầu Bình Triệu thẳng tiến trên quốc lộ 13 dẫn đến các vùng Lái Thiêu, Bình Nhâm, Búng và Thủ Dầu Một, tỉnh lỵ của tỉnh Sông Bé. Từ đây, chiếc xe đoàn đi thẳng qua các huyện Bến Cát, Bầu Bàng, Chơn Thành, rồi dừng bến tại xã An Lộc thuộc huyện Bình Long, tỉnh Sông Bé.

Thị xã buồn tênh chứa đầy bụi bặm, nơi đã diễn ra những trận đánh kinh hoàng máu lửa, ngày nay tưởng như trong không gian, cái hơi tang tóc ghê người vẫn còn quấn quýt. Gió lạnh phất phơ. Dư âm của mùa hè 1972 khiến lòng tôi chùng xuống. Một mùa hè khác với tất cả mọi mùa hè. Mùa hè của lịch sử thiên thu. Mùa hè đầy nước mắt của biết bao gia đình đau khổ. Và mùa hè 72, tôi bỗng dưng biến thành góa phụ khi xuân đời vẫn còn tươi thắm!

……

Lần đầu đến An Lộc (lần đi trước của đoàn, tôi vắng mặt vì bệnh), vậy mà cái địa danh lừng lẫy này sao như thật gần gũi, đi luôn vào giấc ngủ tôi những hình ảnh kinh hãi. Một đêm, trong hội trường Phòng Thông Tin Văn Hóa quận –nơi trú của đoàn- tôi mơ thấy có người cầm chéo mùng giật tung rồi la lớn: “Dậy đi! Dậy đi! Ngoài kia người ta đang đánh nhau tơi bời mà cô còn nằm đây ngủ được sao?” Buổi sáng kế tiếp, trong cuộc cà-phê có cả sự hiện diện của người cán bộ quản lý phòng Thông Tin Văn Hóa quận, tôi kể lại giấc mơ này cho nhóm bạn nghe. Người quản lý xác nhận rằng vùng này nổi tiếng nhiều ma; đặc biệt là chính ngay khu hội trường, ngày xưa trong mùa hè đỏ lửa 1972, người ta đã kéo vô số xác chết về chất tại đây, chờ thân nhân đến nhận diện, mỗi đêm ma vẫn thường hiện về quấy phá…

Một tuần lễ ở An Lộc, sự tưởng tượng lan man làm tôi khó ngủ. Những bóng ma vất vưởng trở về, không còn thù hằn, gây hấn với nhau. Những bóng ma nhảy múa chập chờn, giải khăn xô tung lên trong gió. Những bóng ma ngồi bên nhau luận bàn thế sự, thương xót cho thế giới con người cứ mãi đắm chìm trong chinh chiến vì những tham vọng tàn bạo. Và những bóng ma lưu luyến trần gian, trong đêm đen còn dõi mắt tìm một bóng hình nào đã ngàn đời xa cách.

Cứ vậy, điệu cười hoan lạc và tiếng rền rỉ đau thương vang rần trong trí tưởng tượng, hành hạ các giấc ngủ của tôi trong suốt một tuần lễ.

“Bình Long anh dũng, An Lộc kiêu hùng...” như vẫn được ca tụng trong các bài hát của thời 1972, ngày nay thực sự chỉ là một vùng đất tiêu điều xơ xác. Các cội cao su buồn bã cúi đầu, rỉ ra những giọt máu màu trắng dưới nhát dao vô tình của người thợ. Giòng suối nhỏ nơi mép bìa rừng âm thầm bò lên trên từng phiến đá. Không gian như vẫn bao trùm trong cái mùi chết chóc; và thời gian không buồn nhìn lại những chứng tích hoang liêu.

Một tuần lễ ở An Lộc, tiết trời bỗng dưng lạnh buốt. Đôi vai tôi thường so lại mỗi lần cơn gió thoảng qua. Ôi! Những con gió mùa đông hắt hiu rét mướt! Những cơn gió đậu lại trên các ngọn cây, rung lên cái âm thanh ai oán như một điệu ru não nùng cho giấc ngủ ngàn đời của các linh hồn oan thác tại đây.

[]





...CÒN TIẾP...










© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả ngày 07.06.2008.
. Tác phẩm của Trần Thị Bông Giấy chỉ đăng tải trên tranthibonggiay.net và newvietart.com