CỔ TÍCH MIỀN CÁT TRẮNG





Năm 2002, khi Đại tá Nguyễn Xuân Phòng cùng một số cán bộ chiến sĩ của Trại giam Thanh Lâm dẫn một số phạm nhân xuống vùng đất ven biển chỉ có cát và nắng của xã Quảng Lưu, huyện Quảng Xương, Thanh Hoá khai đất xây dựng cơ sở sản xuất. Các cụ già trong làng hỏi con cháu: Có phải mấy đứa ở trên trại Cau xuống không? Ý các cụ là có phải những người này trốn trung tâm điều trị bệnh tâm thần cầu Cau ra không? Khi nghe con cháu thưa chuyện lại, rằng không phải, mà là "ông Phòng" giám thị trại giam Thanh Lâm cùng các cán bộ chiến sĩ đến lập rào khoanh vùng xung quanh quả đồi cát ở thôn 1 của xã để xây dựng cơ sở sản xuất và chăn nuôi gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản.

Không thể tin được chuyện con cháu thưa lại. Chiều, các cụ già trong xã tập trung lại rồi bắt con cháu đưa ra tận nơi để "mục sở thị" cái chuyện "hoang đường". Khi được tận mắt chứng kiến và nghe tận tai câu chuyện của Đại tá Nguyễn Xuân Phòng thưa lại "kế hoạch" thì có nhiều cụ lắc lắc đầu, lặng lẽ bỏ đi. Dăm ba cụ nhẹ nhàng nhắc nên đi vào bệnh viện đến khoa thần kinh khám xem có bị "trục trặc kỹ thuật" gì không? Cũng có đôi ba cụ không nói không rằng chỉ lấy hai tay phẩy phẩy vạt áo rồi phe phẩy chiếc quạt thủng thẳng đi về. Bà con dân làng trong thôn, trong xã thập thò hỏi nhỏ các cụ xem thế nào? Các cụ nhất cử đưa tay chỉ lên giời. Ý bảo: Cái việc này chỉ có hỏi giời mới biết thực hư được.

Đêm, khi dẫn anh em cán bộ chiến sĩ về nằm trên cả một triền cát trắng. Không bóng cây, không một nơi trú nắng, dựng tạm chiếc lều bạt, nằm nhìn lên trời sao, lòng anh lo lắm. Lo đến thắt ruột thắt gan. Bao nhiêu câu hỏi cứ tràn đến. Tại sao từ khi khai sinh lập đất, bao nhiêu thế hệ người dân nơi đây đã sống, đã chết trọn đời với mảnh đất Quảng Lưu này mà người dân vẫn không làm và xây dựng các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản khi mà cả nước, đâu đâu cũng nói đến đầm tôm đầm cá. Báo chí hướng dẫn, sách hướng dẫn rất đầy đủ các mặt về kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản mà tại sao người dân vẫn không làm, vẫn phải chịu cảnh trông chờ từ biển. Mà biển đỏng đảnh khi nắng khi mưa, kiếm được con cá từ biển có nhiều khi phải đổ mồ hôi thậm chí cả máu và nước mắt. Chịu thương chịu khó mà cái khổ, cái đói đeo đẳng suốt bao kiếp con người. Khổ đói triền miên mà sao người dân vẫn không làm được đầm tôm đầm cá. Tại sao thấy anh đưa anh em cán bộ ra xây dựng cơ sở sản xuất nuôi trồng thuỷ sản, các cụ nghe xong chỉ thở dài rồi rũ tay áo bước đi? Cái gì đang ẩn chứa phía sau tiếng thở dài ấy?

Hết nghĩ đến những gì mà người dân nơi đây đã trải lại đến chuyện kỹ thuật nuôi trồng. Con tôm con cá nuôi trồng theo lối công nghiệp như mong muốn của anh liệu có thành công? Dưới sông, dưới biển con tôm con cá đã khó sống. Đằng này lại cùng con người lên vùng cát trắng. Nắng chang chang, gió chang chang, khí hậu môi trường sống thay đổi. Rồi ra con tôm con cá liệu có sống được không? Cả nước một thời phong trào nuôi trồng thuỷ sản phát triển sầm rộ thế mà cũng khó có mấy người trụ lại được. Có bao nhiêu người đã phải chịu cảnh phá sản vì con tôm con cá, phiêu bạt lang thang đất khách quê người vì trắng tay với cá với tôm.

Càng nghĩ Nguyễn Xuân Phòng càng lo. Rồi kế hoạch mà anh xây dựng cơ sở nuôi trồng thuỷ sản ở đây mới chỉ nhận được sự đồng thuận của đảng uỷ chứ cấp trên chưa biết. Làm như thế này liệu các anh trên cục, trên bộ có hiểu cho anh không hay lại cho anh là người chơi trội, vô ý thức tổ chức kỷ luật. Cái tư duy theo lối cơ chế ràng buộc đã ăn sâu bám rễ vào không ít người. Nếu thành công thì không sao nhưng nếu thất bại, cả một đời quân ngũ với hơn ba mươi năm trong ngành của anh sẽ thành con số không? Và tất nhiên là anh sẽ phải chịu hình thức kỷ luật của tổ chức. Dám làm dám chịu nhưng khi đó liệu người đời có hiểu cho anh không? Vợ con, bạn bè có hiểu cho anh không? Nếu bây giờ rút lui, phá bỏ kế hoạch xây dựng cơ sở sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản ở đây vẫn còn kịp. Có nhiều người bây giờ người ta chỉ phấn đấu cho sự bình yên, ăn cơm chúa múa tối ngày. Ngay bạn bè thân thiết khi nghe anh nói ý định xây dựng cơ sở nuôi tôm ở trên vùng cát trắng Quảng Lưu này cũng đã khuyên anh nên bỏ. Theo họ, cái đáng lo nhất của người cán bộ là không sợ không làm được việc mà cái đáng lo nhất, đáng sợ nhất là cấp trên không bằng lòng.

Nhưng rồi, nếu anh không làm thì anh em cán bộ chiến sĩ sẽ hiểu anh như thế nào? Liệu niềm tin vào anh trong họ còn nữa hay không? Biết đến bao giờ đời sống của anh em mới được cải thiện, đời sống của phạm nhân mới được cải thiện nếu chỉ trông chờ vào đồng lương và chế độ của nhà nước cung cấp. Khi tiếp xúc với rất nhiều phạm nhân, anh hiểu. Có rất nhiều người vì đói khổ mà sinh ra phạm pháp luật. Vì không có nghề nghiệp trong tay mà sinh ra phạm tội. Vì thu nhập không đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của cuộc sống mà sinh ra tham ô, thâm thụt tiền nhà nước. Biết rằng việc làm của họ là vi phạm pháp luật và họ phải chịu hình phạt thích đáng cho hành vi của mình nhưng trong đó không ít người đã tâm sự với anh rằng khi hoàn lương trở về với xã hội, họ có được việc làm, có thu nhập để họ phấn đấu. Giam giữ các phạm nhân không chỉ là duy trì hình phạt mà cũng là quá trình đào tạo và xây dựng lại con người. Mà bản chất của con người là lao động. Tất cả đều từ lao động. Nhàn cư vi bất thiện. Đói khổ tất sinh đạo tặc. Để khi chấp hành xong bản án họ đã vi phạm trở về với cộng đồng, không tái phạm pháp luật, có thu nhập có nghề nghiệp kiếm sống thì phải tạo cho họ cái nghề. Có nghề trong tay, có thu nhập, ổn định đời sống thì xã hội cũng bớt đi tội phạm.

Tự đặt ra câu hỏi rồi lại tự mình lý giải, trả lời. Dẫu biết rằng không phải cái gì của đời cũng có thể mang lên cân đong đo đếm nhưng Nguyễn Xuân Phòng thấy việc làm của anh dẫu có thất bại thì cũng là cái giá anh trả cho một mục đích lớn. Mục đích đó chính là vì con người. Đối với anh em cán bộ chiến sĩ thì ý chí và lòng quyết tâm có thừa. Chỉ có anh. Anh có quyết tâm làm hay không? Mà cái đó thì với anh luôn thường trực, là phẩm chất có từ trong máu huyết ngay từ khi anh bước chân vào cuộc đời quân ngũ. Nằm cả đêm không ngủ, Nguyễn Xuân Phòng đau đáu một điều: Thử làm và làm hỏng còn hơn không làm. Nếu làm mà thất bại thì anh chịu và nó cũng là bài học cho những người đi sau. Nếu chỉ nghĩ mà không dám làm thì biết đến bao giờ mới thành hiện thực.

Làm. Chỉ một từ làm và làm bám riết lấy mọi suy nghĩ của anh.

Quyết tâm làm nhưng rồi khi bắt tay vào làm mới thấy trăm ngàn cái khó. Trước hết phải có chỗ cho anh em ngủ nghỉ. Việc dựng nhà lấy chỗ ngủ nghỉ không chỉ là lấy nơi ăn ở sinh hoạt nữa mà là sự khẳng định việc lập nghiệp của con người. Cả một dải cát dài hàng ngàn mét, rộng hàng trăm héc ta không một bóng cây. Nhìn ngút mắt người chỉ có một mầu cát trắng và nắng. Cái mầu trắng đến dờn dợn và đầy thách thức.

Sau khi dựng tạm được mấy gian nhà lợp mái tôn quay mặt ra biển để mong ngóng hóng được gió từ biển cho đỡ nóng. Nhưng vào các trưa, khi nghỉ tay ăn cơm thì trời nắng nóng, gặp phải ngày có gió Lào nóng đến không thể ở trong nhà. Bóng cây không có, vào nhà dân thì đến khi trời mát đi về mất thời gian vì xa. Thế là anh em có sáng kiến khoét xuống cát một cái rãnh, lót cái chiếu lên rồi lăn xuống đó, cuộn tròn chiếu quanh người. Xong, lấy tay phủ cát lên trên. Có mấy cháu bé trong làng đi ra biển, nhặt vỏ sò vỏ ốc về làm đồ chơi tiện chân chạy vào. Khi vào không nhìn thấy người đâu, chỉ thấy thò lên từ cát toàn đầu người. Cái thì ngọ ngoạy, cái thì im phăng phắc. Sợ quá, có mấy cháu ngất xỉu. Tỉnh lại cứ thế vừa khóc vừa chạy về làng. Nghe các cháu kể lại, người làng đổ xô ra xem. Khi ngồi nghe các anh em kể lại, người nào mắt cũng đỏ hoe, ngân ngấn nước. Nghe xong, mọi người lặng lẽ ra về. Một lúc sau, khi bà con trở lại, trên tay mỗi người là cái cây, là cái can đựng nước mưa, là cái áo tơi lá. Có một cụ râu tóc bạc phơ, chống gậy đi ra. Trong tiếng nói nghẹn ngào, cụ bảo:

- Các con ơi. Các con làm lấy chết hay sao? Nắng nóng thế này, nếu chưa có chỗ để ngủ nghỉ thì vào làng mà ở với dân. Ngày xưa, khổ thế nào mà chúng tao còn nuôi được cán bộ để làm cách mạng. Bây chừ chúng tao không nuôi, không cho bọn bay ở được hay sao. Nghe nói đi công an tưởng được ăn sung mặc sướng chứ bọn bay cũng khổ như ri.

Nghe người già nói, nhìn anh em cán bộ, chiến sĩ vất vả, lòng Nguyễn Xuân Phòng cứ cuộn lên. Những giọt nước mắt cứ chảy dài trên má, rơi xuống, ngấm vào cát.

Rút kinh nghiệm, mát làm nắng nóng nghỉ. Khi nắng nóng quá sơ tán vào trong làng trú nhờ nhà dân. Cứ thế, một ngày, hai ngày, ba ngày. Một tháng, hai tháng, ba tháng. Cứ mỗi ngày qua đi, trên cả một vùng đồi cát trắng lại thêm một công trình mọc lên. Sau đợt nóng nắng đó, da người nào người nấy đen như cột nhà cháy, tóc dựng ngược, cứng như rễ tre. Từng lớp da mặt bị cháy nắng bong ra. Có nhiều người, nhất là cánh thanh niên, ngại cả mấy tháng không về, thậm chí gọi cho về thăm nhà, thăm người yêu cũng lắc đầu quày quạy. Xin để lại đi sau.

Nếu có ai đó đã từng nói: Mồ hôi và nước mắt cộng với lòng ý chí và quyết tâm sẽ cho con người sự nghiệp thì đó chính là nơi đây. Nơi miền cát trắng Quảng Lưu mà những ngày đầu khi Nguyễn Xuân Phòng và anh em cán bộ chiến sĩ trại giam Thanh Lâm về đây mở đất. Mồ hôi đã cho cây xanh, nước mắt đã cho bóng mát và ý chí, lòng quyết tâm đã cho một vùng đất chỉ cát trắng và cát trắng thành một vùng nuôi trồng thuỷ sản công nghiệp trị giá tới hàng vài chục tỷ đồng. Và lớn hơn cả, đó là cho anh em cán bộ chiến sĩ một niềm tin, cho người dân trong vùng mở ra một hướng phát triển mới, cho những phạm nhân một bài học về con người, về sức vươn lên của chính những người đang làm nhiệm vụ quản lý họ.

Lại có chuyện kể rằng: Một hôm, anh Nguyễn Xuân Phòng có việc lên Hà Nội công tác. Không hiểu từ đâu và thế nào mà mấy người nguyên là phạm nhân của trại mấy năm trước, nhà ở gần cầu Thăng Long biết được số điện thoại gọi đến xin được gặp. Vì bận công việc nên anh Nguyễn Xuân Phòng hẹn để dịp khác. Anh chỉ đủ thời gian để nói chuyện qua điện thoại. Qua thăm hỏi, điện thoại truyền tay nhau. Ai cũng khoe, từ ngày về với xã hội bây giờ họ đều đã là triệu phú, tỷ phú, đều là giám đốc của các cơ sở xản xuất. Người thì làm hàng dân dụng, người thì sản xuất hàng xây dựng, người thì sản xuất đồ gỗ xuất khẩu cao cấp. Hỏi. Các anh học ở đâu mà làm được các nghề như thế? Tất cả đều trả lời. Từ những tháng năm ở trại giam Thanh Lâm. Có người còn nói:

- Bố ơi. Bây giờ bố cần gì chúng con làm cho. Chúng con được như bây giờ là nhờ bố cả. Từ những ngày ở dải cát trắng xây dựng cơ sở nuôi trồng thuỷ sản.

Nghe mọi người khoe việc làm được, lòng anh Nguyễn Xuân Phòng vui biết mấy. Vui đấy, mừng đấy, những mong muốn của anh về những người một thời lầm lỗi đã thành hiện thực. Chuyện vui mà nước mắt cứ lưng tròng.

Chiều nay, khi cái nắng nóng bắt đầu vào mùa, bãi biển Sầm Sơn đã có đôi ba người tranh thủ hai ngày nghỉ cuối tuần đưa nhau về đây. Nhân dịp Nhà xuất bản công an nhân dân có tổ chức trại sáng tác tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống 2007-2010" có tổ chức cho nhà văn Phan Quế, nhà văn Phạm Ngọc Chiểu và tôi đi xuống thăm cơ sở sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản của trại giam Thanh Lâm ở Quảng Lưu, nơi cách đây 6 năm anh Phòng và một số cán bộ chiến sĩ của trại giam đã về đây mở đất lập nghiệp trên vùng đồi cát trắng. Vì anh Nguyễn Xuân Phòng còn bận công tác ở trong Hà Tĩnh, Thượng tá Nguyễn Hữu Bình, Phó giám thị đưa chúng tôi đi thăm cơ sở sản suất. Chỉ nhìn dãy ao, nơi thả tôm, nơi nuôi cá, vùng chăn nuôi lợn bề thế với cả một hệ thống khép kín, rất chuyện nghiệp. Dẫu anh Bình không hề nói gì đến những năm tháng đã qua, nhưng chúng tôi biết. Có được ngày hôm nay là cả một quá trình mà có lẽ, mồ hôi và nước mắt của các anh đổ vào đây đã đủ để chan hoà vào biển mặn.

Vừa đưa chúng tôi đi xem cơ ngơi các đầm và hệ thống nuôi thả, anh Bình cho biết: Khi đào được cái ao xong, tất cả các ao đều phải được lấy một lớp vải chống thấm lót dưới đáy. Sau đó mới được lát bê tông và kè bốn xung quanh. Ngay cát cũng phải được làm sạch các tạp chất. Giống tôm rất nhạy cảm với môi trường. Chỉ cần ao bẩn là chúng sinh bệnh và tốc độ lây lan rất nhanh. Trời đang nắng, có trận mưa rào là đã phải sử lý nguồn nước ngay. Nếu không làm nhanh, chỉ sau một đêm là tất cả hàng vạn con tôm sẽ bị đỏ đầu hoặc đỏ thân và chết. Ngay nguồn nước cũng phải được lọc lắng và pha cho vừa độ mặn. Khi bơm nước từ dưới biển lên, trước khi đưa vào các đầm nuôi thả phải qua một chiếc đầm khác để sử lý và hoà với nước sông cho vừa độ mặn và cũng là để lọc cho sạch các tạp chất. Nếu không sử lý đúng kỹ thuật thì chỉ cần chưa đầy một đêm, cả mặt đầm sẽ trắng xác tôm. Hiện tại, cơ sở đang nuôi thả tôm thẻ trắng, có nơi còn gọi là tôm thẻ chân trắng hay tôm he chân trắng. Với mặt nước hiện tại, cơ sở thả khoảng bẩy triệu con giống. Một triệu con giống mua giá 45 triệu đồng. Giá trên là giá mua thả cho giống xi pi hay còn là loại giống pốt. Vì thế, nếu không chú ý đến môi trường, thức ăn, nguồn nước thì có thể một đêm là hàng vài trăm triệu đồng sẽ ném xuống sông xuống biển. Ấy là chưa tính đến công chăm sóc và tu sửa bảo dưỡng ao đầm. Anh Bình nói vui:

- Nuôi tôm còn khó hơn chiều người yêu, thậm chí hơn cả bà vợ già. Đỏng đảnh lắm. Khi khoẻ thì bật tanh tách, tanh tách, vui đáo để. Động tý gì không ưa là nổi đỏ lên rồi làm mình làm mẩy. Ngay cái việc kiểm tra cũng phải thường xuyên, cho ăn cũng phải đúng giờ. Sơ sẩy là thôi rồi. Một là vỡ nợ, phá sản và hai là sạt nghiệp.

Chuyện anh Bình nói vui nhưng mà đã là thật. Ngay bên cạnh, giáp hàng rào với cơ sở của trại là một khu đất bỏ trống và hiện tại các anh đang phải trông nom hộ. Đó là có hai doanh nghiệp ở Bắc Ninh, Hải Phòng vào đây thuê đất để mở trang trại nuôi trồng thuỷ sản. Lần đó, có mưa a xít, do sơ xuất một chút, không kịp phát hiện để sử lý nguồn nước, thế là hàng vạn con tôm to bằng đầu tăm chết đỏ cả đáy đầm. Tiền đầu tư vay của ngân hàng, lãi mẹ đẻ lãi con, chưa thu được một xu một hào đã mất trắng. Đành phải đóng cửa trang trại để làm việc kinh doanh khác trả nợ cho ngân hàng.

Ngay cơ sở của các anh cũng đã có lần bị như thế. Lần ấy, cơ sở vừa thả tôm giống xong thì trời đổ mưa. Do anh em chưa có kinh nghiệm và lại có ít người. Không kịp xả nước mặt, thế là nồng độ nước giảm xuống. Khi kiểm tra. Ôi thôi. Tất cả mấy trăm triệu đã lẫn vào bùn đất. Vừa tiếc của, vừa tiếc tiền, mấy anh em cứ thế ôm nhau khóc rưng rức. Có một vài anh em nản quá, cứ một mực khăng khăng đòi chuyển công tác, làm gì cũng được, vất vả đến đâu cũng được chứ nhất quyết không ở đây nuôi thả tôm nữa. Hỏi chuyện. Mấy anh em tâm sự: Nhìn thấy chỉ do sơ xuất mà mất cả đống tiền. Xót của quá. Chỗ tiền mất sau một đêm bằng cả nhà làm ăn tích cóp hàng đời người. Cứ thế này, dù ai cũng không muốn nhưng chẳng sớm thì muộn cũng là "nguồn tiềm tàng" nhập trại giam vì nợ nần đầm đìa chồng chất đến mức bỏ của chạy làng mà thành phạm pháp luật quản lý kinh tế của nhà nước. Và sau lần đó, để làm các khâu kỹ thuật, các anh phải thuê một kỹ sư thuỷ sản trả lương tháng 5 triệu. Sau một thời gian cộng tác với các anh, thấy tấm lòng của các anh đối với con tôm, với cái nghiệp con tôm, cái nghiệp nuôi trồng thuỷ sản, người kỹ sư đó đã xin vào hẳn ngành công an để được cùng các anh thực hiện ước mơ. Người kỹ sư đó bây giờ là Trung uý Nguyễn Văn Chính, một sĩ quan chỉ huy tại cơ sở sản xuất.

Theo anh Bình cho biết, nồng độ mặn hiện tại của nước biển Quảng Lưu là khoảng 19 đến 28 phần nghìn. Sau khi bơm lên, hoà vào nước ngọt bơm từ sông Rào về, làm sao cho độ mặn xuống còn 2 phần nghìn. Chỉ nghe anh Bình giới thiệu các công đoạn làm nước. Từ khi bơm dưới biển, dưới sông lên, rồi để lắng, rồi nào là lọc, sử lý nước nọ, nước kia để hoà vào nhau đúng tiêu chuẩn tôi đã ù cả tai, nhớ lộn tùng phèo, không còn nhớ nổi bước nào làm trước, bước nào làm sau. Nhưng còn anh, cứ kể vanh vách từng ly từng tý kỹ thuật làm đất, làm đầm, đến chọn con giống, chế độ ăn, thời vụ thả, thời gian nuôi của từng loại từ tôm thẻ chân trắng đến tôm sú, con cua, con ghẹ, con cá vược, cá sủ. Ừ. Làm nghề, gắn đời mình với cái nghiệp như thế này, "đánh bạc" với giời, nếu không nắm kỹ và sâu, chắc như thế này thì có lẽ chỉ còn nước cầm tiền đầu tư mà ném qua cửa sổ, thả xuống sông xuống biển mà thôi. Nghĩ thế, tôi lại chợt chạnh lòng về những chuyện một số cán bộ ở các cơ quan trong bộ máy nhà nước, ngày ngày bình chân như vại, sáng vác ô đi, tối cắp ô về, hết tháng nhận lương. Khi có cơ hội lên làm cán bộ quản lý thì nhăm nhăm làm sao thu được lợi về cho mình. Các tệ nạn, các thách thức mà Đảng đưa ra trong quá trình xây dựng đất nước hiện nay cũng có một phần từ cái sự lười suy nghĩ, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm mà ra. Nếu ở đâu, đội ngũ cán bộ cũng như anh Nguyễn Xuân Phòng, anh Nguyễn Hữu Bình và anh em cán bộ chiến sĩ trại giam Thanh Lâm thì chắc cái sự tụt hậu cũng không có đất mà tồn tại.

Khổ cũng khổ rồi. Vất vả cũng vất vả rồi. Những năm tháng qua các anh cũng đã nếm trải đủ vui buồn, đắng cay, ngọt bùi cùng con tôm, con cá, con cua, con ghẹ. Nhìn cái dáng cao to của anh Bình, người đen cháy, da đỏ mầu đồng hun, tay chân săn lại như thừng như chão, nói ào ào như sóng như gió của một lão ngư từng trải. Bên trong nụ cười kia, niềm vui kia là biết bao lo toan cho cái nghiệp tôm cá của anh. Trò chuyện bên bờ đầm, anh Bình thủ thỉ tâm sự. Nghe giọng nói vui đấy mà cũng lo đấy.

- Nếu năm nay mà trời thương, đất thương, nước thương thì cơ sở có thể xuất được khoảng 45 đến 50 tấn tôm thương phẩm sang Nhật. Hiện nay, một số khách hàng Nhật đến làm việc với Trung tâm xuất nhập khẩu thuỷ sản của Thanh Hoá. Sau khi xuống cơ sở kiểm tra thức ăn, dư lượng khoáng, chất lượng nước nuôi, độ vệ sinh đáy ao đã đồng ý lấy các tiêu chuẩn của cơ sở sản xuất nuôi trồng thuỷ sản của trại giam Thanh Lâm làm chuẩn chung cho mọi cơ sở khác. Theo hợp đồng ký kết, nếu mọi việc suôn sẻ, năm nay cơ sở sản xuất sẽ thu được khoảng 1,6 đến 1,8 tỷ đồng từ con tôm.

Một thông tin vui nữa là, năm nay, Trung tâm khuyến ngư Thanh Hoá đã nhất trí với cơ sở sản xuất, sẽ cung cấp, hỗ trợ miễn phí để cơ sở nuôi trình diễn con ghẹ. Nếu cơ sở nuôi thành công sẽ nhân rộng và phát triển ra dân để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế biển ở địa phương. Hỏi anh Bình về khả năng thành công của chương trình này. Anh Bình cho biết:

- Thực ra, trước đây, sau khi hết vụ nuôi thả tôm cơ sở cũng đã nuôi ghẹ. Với diện tích mặt nước có được của cơ sở, các anh đã nuôi 2500 con và thu hoạch được 2000 con với chất lượng đạt 6 con/kg thương phẩm. Cơ sở cũng đã nuôi thử nghiệm các loại cá cao cấp như vược, sủ. Tất cả các thử nghiệm đều thành công và đạt kết quả tốt.

Nhìn sang mấy anh em nhà văn, anh Bình nói quả quyết.

- Các anh cứ yên tâm. Con tôm ngày nào khó thế mà còn nuôi nổi thì bây giờ, các anh cứ tin. Cơ sở sẽ làm được và làm thành công.

Mừng cho các anh nhưng ai cũng lo thay cho các anh. Hôm đoàn nhà văn lên làm việc ở phân trại số 1, trại giam Thanh Lâm, gặp anh Nguyễn Xuân Phòng. Năm nay anh Phòng mới có hơn 50 tuổi mà mái tóc đã bạc trắng, những nếp nhăn trên trán, dấu vết của những năm tháng lo toan, mở lối tìm việc, phát triển kinh tế vẫn còn hằn sâu trên trán. Xin được chia sẻ với các anh những lo toan vất vả đã qua. Cũng xin được chung vui cùng các anh với những cố gắng và thành quả mà các anh đã tạo dựng được qua bao nhiêu năm qua.

Hôm chúng tôi xuống Quảng Lưu, khi ngồi nói chuyện với các cụ bô lão trong làng. Khi kể về cơ sở sản xuất nuôi trồng thuỷ sản của trại giam Thanh Lâm. Trong lời kể đầy cảm phục và trân trọng của mình, một cụ kể.

- Mấy năm trước đây, nhìn cả một dải cát trắng mà ngao ngán và buồn lòng. Biển cho cá nhưng đất không cho đất để trồng cấy làm ăn. Thế rồi "ông" Phòng đưa quân về đây. Vất vả, khổ sở đến tận cùng. Có những lúc chúng tôi nghĩ sớm muộn rồi cũng thất bại. Người dân nơi đây bao đời sinh ra ở đây, lớn lên ở đây, ăn ở đây, ngủ ở đây, uống nước ở đây mà còn phải buộc lòng bỏ trắng đất cho giời phơi nắng, cho sóng vỗ. Ấy thế mà. Ông ấy làm được. Ông ấy làm được thì dân cũng sẽ làm được. Và cái đói, cái khổ đã dần ra khỏi cửa, cái lo lắng chán chường khi nhìn dải cát trắng xoá chỉ biết thở dài đã thay đổi. Người dân đã biết quý đất, đã biết từ đất mà đi lên, đã biết bắt đất sinh ra của cải. Công "ông" Phòng và cán bộ chiến sĩ trại giam Thanh Lâm cho vùng đất này lớn lắm.

Nói đến đây, cụ ngừng ngắn rồi tiếp.

- Ngày ông Phòng đưa người về làm cơ sở nuôi trồng thuỷ sản. Cả làng ra xem, cứ nghĩ các ông này chắc bị bệnh thần kinh. Nghĩ lại mà thương, mà hổ thẹn với lòng mình.

Tiếp chuyện với cụ, nghe cụ già trong làng kể chuyện về cơ sở sản xuất nuôi trồng thuỷ sản của trại giam Thanh Lâm. Tôi chợt nghĩ. Đời cụ và câu chuyện của cụ hôm nay bắt đầu từ "mấy năm trước", nhưng đến đời con cụ có lẽ câu chuyện kể lại sẽ được mở đầu là "ngày xưa". Đến đời cháu cụ sẽ lại phải bắt đầu là "ngày xửa ngày xưa". Đến đời chắt của cụ sẽ là: Đã lâu lắm rồi, từ ngày xửa ngày xưa ở vùng đất Quảng Lưu, huyện Quảng Xương, Thanh Hoá có một người tên là…đã đưa một số cán bộ chiến sĩ công an về đây mở đất, khoanh vùng làm cơ sở sản xuất nuôi trồng thuỷ sản. Và…Cứ thế, cứ thế, câu chuyện sẽ đi mãi cùng lịch sử của vùng đất cát trắng Quảng Lưu một thời. Thành câu chuyện cho muôn đời sau mà người dân vùng đất này còn nhớ mãi và kể mãi cho các thế hệ kế tiếp. Một câu chuyện cổ tích từ một miền cát trắng.

Còn hôm nay, xin được mở đầu bài viết này. Cách đây 6 năm, ở vùng cát trắng Quảng Lưu, nơi đồi cát trắng, có một người...














© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải trên net duy nhất với Newvietart.com theo bản tác giả gởi ngày 27.05.2008.