“Khu bốn Tiên Lãng” gồm ba xã: Vinh Quang, Hùng Thắng, Chấn Hưng; ở về phía Đông, cách huyện lỵ Tiên Lãng khoảng 17km. Một vùng quê biển nghèo, hẻo lánh, nước mặn đồng chua. Giao thông khó khăn, đi lại dọc theo hai đê chắn sóng, phía Bắc theo sông Văn úc, phía Nam theo sông Thái Bình. Phương tiện là đôi chân, và có thể bằng đò dọc. Do địa lý khó khăn như vậy, “khu bốn” nổi tiếng là căn cứ du kích trong thời kháng chiến chống Pháp, vùng đất tranh chấp giữa ta và địch (ngày của địch đêm là của ta). Những cuộc chiến đấu ác liệt, sự tàn phá ghê gớm...đã làm lên mảnh đất anh hùng!
Hoà bình lập lại, do chiến tranh lâu dài, hậu quả đói nghèo, lạc hậu, và “đói cả sự học”đến xác xơ. Ai muốn học cấp II, phải lên huyện xa hơn chục cây số để trọ học, còn cấp III, phải đi tận Thị xã Kiến An, hơn ba mươi cây số.
Chủ trương phục hồi kinh tế, phát triển văn hoá xã hội nói chung, giáo dục nói riêng. Quyết định thành lập Lớp 5 phổ thông dân lập Hùng Thắng đầu tiên (gồm ba xã Vinh Quang, Hùng Thắng, Chấn Hưng), niên khoá là 59-60. Tiền thân của Trường PT cấp II Hùng Thắng, cũng là tiền thân của trường PT cấp II Vinh Quang và trường PT cấp II Chấn Hưng sau này . Cũng có thể nói, tiền thân của các trường PT cấp II: Bắc Hưng, Đông Hưng, Nam Hưng, Tây Hưng và Tân Hưng hiện nay. (vì các xã này được tách ra từ xã Chấn Hưng, Hùng Thắng, Vinh Quang). Một sự kiện đặc biệt quan trọng với nhân dân khu bốn, sự phấn khởi hồ hởi của các tầng lớp học sinh, từ nay đã có trường học ngay tại địa phương. Một bước ngoặt lịch sử về giáo dục, của một vùng quê nghèo đã được nhen nhóm. Nhất là các phụ huynh có con em, tham gia học khoá này, tích cực tham gia đóng góp công sức, vật liệu, xây dựng lớp học ban đầu cho con em mình.
Người được cử về trực tiếp phụ trách lớp học là thầy giáo Vũ Đình Yên. Ngày đầu, ở nhờ nhà bà Hồng ở Thái Hoà. Lớp học khai giảng đầu tiên cũng ở Thái Hoà, học nhờ ở nhà ông Huận, với sáu mươi lăm học sinh, (...) bàn ghế bằng cánh cửa, gỗ ván, phên tre, kê gạch viết tạm. Đồng thời các phụ huynh triển khai việc đào đất san nền, đắp tường, ủng hộ tre, xoan, cói lợp làm nên ngôi nhà 5 gian ở chợ Bến Thái Hoà. Lớp chuyển ra học ở đó, được một học kỳ, sau đó chuyển về cầu Đen Dương áo. Ngoài công sức của các phụ huynh xây dựng nhà trường, học sinh dịp này sáng đi học, chiều đi lao động xây dựng, như san nền, đập tường, vận chuyển tre bương ở bến đò Dương về làm kèo, đòn tay, rui mè...khi ấy Hùng, Hạnh đã lớn là những “tay thợ lấy mực mẫu thiện nghệ”. Và ngôi nhà khang trang, thoáng mát, cạnh đầu cầu Đen, bên bờ sông đào, soi bóng xuống dòng sông thơ mộng, tha hồ nắng, tha hồ gió... Từ mái trường này, không khí học tập phấn chấn, lớp học đã ổn định, nề nếp, chất lượng, vị thế, âm hưởng “sự học” cả một vùng (khu 4) vươn bay. Kết thúc niên học 59-60 chuyển lên lớp 6 năm học 60-61 thắng lợi mỹ mãn. Và từ đây, có quyết định thành lập Trường phổ thông cấp II Hùng Thắng, trên cơ sở lớp 6 hiện có, mở rộng lớp 5 theo chế độ công lập. Tạo ra bước ngoặt, phát triển “sự học” như một đám cháy loang khắp một vùng, thoả nỗi khát khao bao đời nay của nhân dân ba xã: Vinh Quang, Hùng Thắng, Chấn Hưng.
Hình ảnh người thầy giáo nhiệt tình tận tuỵ, vì sự nghiệp giáo dục, hết lòng vì học sinh. Đó là thầy giáo Vũ Đình Yên! Người nội thành, tốt nghiệp đại học sư phạm, được điều về phụ trách tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Chừng 30 tuổi, mảnh khảnh, trắng trẻo, dáng thư sinh. Thường mặc quần âu xanh, áo trắng sơ vin, mũ cát trắng, vành dày 3 phân, đi đôi giày da cũ đã bục chỉ (há mồm), chiếc cặp da đen cũng cũ sờn loang lổ, với chiếc xe đạp Steclin khung nam cao nghêu. Dân mình thời bấy giờ, nhìn thấy người ăn mặc như thế cảm thấy lạ lẫm, khi gặp cứ sầm sì vừa khen vừa xỉa; khen vì thày còn trẻ mà là thầy giáo thật đáng trọng, phần xỉa vì thầy có hàm răng vổ (vổ lắm đấy), ăn mặc chỉnh tề như thầy ký phán xưa, không nhập mắt với dân quê. Nhất là trẻ chăn trâu, mỗi khi gặp là chúng trêu trọc “dưới mái tây hiên”, “thày cười” nhưng thầy không tự ái, vẫn vui vẻ tự nhiên, giữ phong cách của nhà giáo, từ tốn, nói chuyện có duyên.
Mặc dù, sinh ra lớn lên, ăn học ở phố, nay về nông thôn nghèo, hẻo lánh, ở nhờ nhà dân, tối không điện, thiếu thốn mọi thứ. Nhưng không chút buồn nản, chẳng nề hà, với trách nhiệm, nhiệt tình, và thương yêu học sinh, cảm thông khó khăn của địa phương.
Chỉ có một mình thầy xoay sở: Thường xuyên phải đi họp ở phòng Giáo dục tỉnh Kiến An, báo cáo tình hình, nhận sự chỉ đạo của trên, lại về Huyện, về Xã trao đổi chủ trương, xin được sự giúp đỡ về địa điểm xây dựng trường, về kế hoach hoạt động...lại làm việc với các phụ huynh, động viên, bàn kế hoạch xây dựng trường lớp, kết hợp giữa nhà trường và gia đình.
Về chuyên môn, một mình thầy kiêm dạy toàn diện chương trình lớp 5 phổ thông, các môn: Toán, Văn, Sử, Địa lý, Vệ sinh, Thể dục...Vốn sư phạm uyên bác, lên lớp không cần giáo án, có môn giáo án chỉ để tham khảo, nhưng truyền đạt cho học sinh môn nào cũng hấp dẫn, trơn tru sinh động, tiếp thu nhanh. Kết thúc năm học 59-60, số học sinh thi đỗ lên lớp 6 gần như hoàn toàn, chỉ có hai trường hợp lưu ban. Ngoài ra, thầy còn tổ chức cho học sinh đi tham quan ở Hải Phòng. Gần năm chục người, thầy, trò có bạn áo nâu, chân đất, lếch thếch, đi bộ lên tận bến Khuể, mới có xe ngựa, xích lô đi Hải Phòng. Lần đầu tiên các em ra phố, cái gì cũng lạ, phố sá, xe cộ, người đâu mà đông như chợ. Thầy đưa về nhà mình, ở số nhà 14 phố Lê Lợi. Nhà chật, gia đình dành hẳn cho cả lớp, trải chiếu xuống sàn nằm ngủ. Đêm đầu tiên thấy điện, ai cũng thấy lạ lạ, hay hay, không ngủ được, thỉnh thoảng lại bật điện sáng lên rồi cười khúc khích. Cái lạ nữa, sáng dậy rửa mặt, chân tay, vệ sinh tiểu tiện, khốn khổ không như nhà quê, cứ bỡ ngỡ, sợ sợ, thập thò, ra ra vào vào, rồi lại cười khúc khích... Thầy đưa cả lớp đi tham quan khu triển lãm sông Lấp, thăm Bảo tàng, và thăm Cảng, xem phim trong rạp. Ngày đi vất vả, mà vui, bổ ích và an toàn. Chính những điều đó, học sinh càng kính yêu thầy, các phụ huynh, nhân dân, chính quyền địa phương càng tin tưởng, lể phục, xoá đi những mặc cảm, nghi ngờ ban đầu (ba bảy hai mốt) và tôn trọng, tạo thuận lợi cho thầy công tác và giảng dạy.
Nhất quỷ nhì ma thứ đến là học trò. Lớp có 5 cô gái: Thuân, Thoàn, Hiền, Lan, Chúc đều xinh đẹp, dịu dàng chăm chỉ, còn lại, là nam trò. Mỗi người một vẻ: Lớn nhất là Giới, Tục, Ngựng, Hùng, Hạnh. Trẻ nhất như Thảnh, như Rén, hiền như Cân, như Hâng, khoẻ như Ca, nghịch như Nhiễu, bộc trực thẳng thắn như “bao công” Lưỡng, thông thái như Thoại Khanh, nhanh nhảu láu táu như Phịêt, Thậm, Đoan, đẹp trai như Giới , Oanh, Ngựng. Chữ đẹp phải là Giới, Oanh, Những. Và Minh - ở môn học Vệ sinh, bài bộ máy hô hấp. Thầy giáo hỏi người có mấy lá phổi ? Minh trả lời: Ba lá phổi!...Từ đó có biệt danh “Minh ba phổi”. Tất cả học sinh của lớp, đều trưởng thành, mỗi ngưòi mỗi phương, mỗi nghiệp: Số học sư phạm chiếm quá nửa, nhiều người là giáo viên dạy giỏi, có người là hiệu phó, hiệu trưởng, phó phòng, trưởng phòng giáo dục của huyện, có người đã là phó phòng giáo dục tỉnh (như Oanh) tương đương phó giám đốc sở bây giờ. Nghiệp nhà binh cũng khá: Tên lửa có Khanh, phi công có Ngạnh, hải quân có Hùng, Những, pháo binh có Đao, vũ trang có Trình, bộ binh cũng lắm... Số còn lại tham gia các ngành kinh tế kỹ thuật khác nhau. Kinh doanh phát đạt như Thảnh, nghiên cứu ứng dụng vào sản xuất như Dâng. Có người quản lý doanh nghiệp, là giám đốc công ty. Có người lặng lẽ những công việc “không tên” khác...Dù ở điều kiện, hoàn cảnh nào, những thế hệ học sinh từ mái trường ấy, đã gần nửa thế kỷ rồi, đã là những công dân tuyệt vời, hoàn thành nghĩa vụ, trả xong nợ với non sông. Giờ đây, về với đời thường, với chính mình, nhưng vẫn còn canh cánh trong lòng, khoản nợ mình, khó trả.
Mỗi lần gặp lại, ngờ ngợ nhớ quên, ngờ ngợ trong ký ức, kỷ niệm, bởi năm tháng dãi dầu, tóc đã bạc, răng đã rụng... hình hài biến dạng quá nhiều. Tay nắm rồi mà mãi nhớ không ra. Nhưng tâm hồn vẫn sáng, tình cảm vẫn tràn trào. Chẳng biết nói gì, chỉ biết cảm thông, chia sẻ, và vui. Điều đáng tự hào, trong số họ, nhiều người đã trở thành giáo viên dạy giỏi, chuyên môn vững, và là Hiệu trưởng, hiệu phó của các trường ở các xã trên, trực tiếp giảng dạy cho các em, các con, cháu của họ. Đặc biệt, có người dạy các em từ khi vào lớp một. (như Lan, Ngựng). Ba xã vẫn phát huy phong trào dạy giỏi, học giỏi. Hùng Thắng vẫn giữ “nòng cốt” nhiều năm liên tục đạt danh hiệu: Toàn diện, tiên tiến xuất sắc...Chuyện ở Hùng Thắng, một lớp có 40 học sinh, thi vào Đại hoc, Cao đẳng, “đi hết”...Hàng năm, học sinh thi đỗ vào các trường ĐH, CĐ tính đến hàng trăm, số gia đình có hai, ba con học Đại học là chuyện bình thường. Nhiều người đỗ đạt học tập, làm việc trong nước, không ít con em họ đang học tập nghiên cứu, làm việc ở nước ngoài như: Nga, Pháp, Anh, Canađa, Mỹ...Nhớ lại có thời còn hạn chế đi học, thậm chí không được đi làm, hoặc nếu được đi học, khi xong phải về công tác tại địa phương. Lần dự “hội thảo” với quê, một “thông điệp” như được khẳng định: “Sâu sa sự học căn nguyên đói nghèo”. Hãy đầu tư cho sự học, coi việc học đặt ngang với những công việc quan trọng khác của Làng. Hãy để cho những cánh chim bay khắp bốn phương trời, những cánh chim ấy không bao giờ quên nơi nó đã sinh ra và lớn lên. Vì nó đã lớn, đã khôn!.. Thế cũng đủ, cũng lãi rồi các bạn ơi. Còn bao nhiêu bạn của lớp ta vắng mặt hôm nay. Thầy giáo Vũ Đình Yên, người có công chèo lái đưa đò chúng ta qua sông, cập bến, cũng không được chứng kiến sự hoan ca này. Sự học của lớp mình, với Thầy như thần như tượng. Lẽ ra...Nhưng thôi, ta hãy dựng tượng Thầy trong trái tim của mình. Và, chúng ta mãi mãi vui. Bởi chúng mình cũng là “những thủ phạm” làm lên “đám cháy” ấy...
Tiên Lãng, Ngày 30-4-2008