Tranh của cố họa sĩ Tạ Tỵ
































TRẦN THỊ BÔNG GIẤY








"Bút ký NCQC của Trần Thị Bông Giấy đã từng được một NXB tên tuổi ở Tp Hồ Chí Minh đề nghị mua bản quyền in ấn. Dù sự việc không thành nhưng tác giả vẫn giữ nguyên bản đã được NXB này lược duyệt khi cho phép ban biên tập đăng tải trên Newvietart."



TỰA



Từ những ngày tháng mà cuốn bút ký Nước Chảy Qua Cầu chưa có tên gọi và còn là bao mẩu tâm sự, bao suy nghĩ, cảm xúc trùng trùng của kỷ niệm được ghi nhận lại bởi từng mảng thời gian bềnh bồng trôi giạt, tôi đã đắm chìm trong một không khí huyền hoặc, mê say và cảm động qua lời kể của Trần Thị Bông Giấy về đoạn đời năm năm phiêu bạt của nàng trong tư thế một nghệ sĩ vĩ cầm của một đoàn Cải Lương lưu diễn đó đây trên khắp quê hương, từ sau tháng 11/1975.
Tất cả những điều được kể hoàn toàn là chuyện thật, tại sao lại tạo ra được cái không khí huyền hoặc mê đắm đó? Đất nước Việt Nam sau cuộc chiến tranh dài, tình trạng hỗn mang dâu biển bủa lên mọi cảnh đời. Nhưng trong mắt nhìn từ một tâm hồn mong manh mà hùng tráng của người nghệ sĩ, và xuyên qua những hỗn mang dâu biển đó, Trần Thị Bông Giấy đã nhận ra một thứ hạnh phúc thật kỳ dị: “Ly cà-phê sáng ở một thị xã buồn tênh xa lạ như là một miền cuối cùng của trái đất. Những bữa rượu nửa đêm về sáng sau giờ trình diễn với các người bạn nhạc sĩ khác trong đoàn. Bà cụ già bất hạnh bê từng hũ rượu đi bán dạo. Phiên chợ âm hồn bắt đầu họp vào lúc nửa đêm nơi một làng quê Việt Nam. Người bạn cũ gặp lại trong một thị trấn buồn tênh xa lạ. Người đàn ông ngồi uống rượu một mình trong không gian mờ ảo của chiếc quán khuya, bối cảnh thời đại như nhuộm lên thân hình ông sự cô đơn khốc liệt của một kiếm khách trên đường gió bụi...”
Mỗi mẩu chuyện là một viên ngọc đối với Trần Thị Bông Giấy. Gom tất cả những viên ngọc đó lại, Trần Thị Bông Giấy làm thành xâu chuỗi ngọc khác thường cho chính mình. Bởi đó, khởi đi từ những tâm sự được kể, những kỷ niệm nuối tiếc được nâng niu, tôi đã đề nghị Trần Thị Bông Giấy viết lại thành một quyển sách, một quyển bút ký. Biết đâu lại chẳng có người cũng muốn được chia xẻ với tác giả những hình ảnh, những mẩu chuyện tuy rằng đã có sẵn, luôn hằng hằng rải rác trên khắp cùng sông nước Việt Nam, nhưng cho dù đã sinh ra và lớn lên ngay trên quê hương mình, chắc hẳn trong chúng ta mấy ai đã được nghe, được thấy? Nhất là nghe, thấy từ vị trí một người nghệ sĩ phiêu bạt từ sau cuộc biến động lớn của quê hương?
Thời gian trôi đi. Đời người trôi theo dòng thời gian để mà lạc loài đến những không gian cũng biến động trong từng giây từng phút. Tương quan giữa con người với con người, giữa con người với thời gian và không gian thật là chặt chẽ. Đó là sự cùng trôi đi và mất tăm. Như nước chảy qua cầu. Tôi nghĩ, viết quyển bút ký này, Trần Thị Bông Giấy trước hết muốn giữ cho chính nàng, muốn làm không gian và thời gian ngưng đọng lại, để trong không gian và thời gian đó vẫn còn nguyên những người, những cảnh, những chuyện của kỷ niệm hiện tại và của cả một đời. Vì thế, văn chương không phải là mục tiêu khởi đầu của Nước Chảy Qua Cầu, của Trần Thị Bông Giấy. Văn chương chỉ tự nó thành tựu ở lúc tâm sự, kỷ niệm được tác giả viết xuống thành chữ, thành câu, sau khi đã là những chuyện kể. Những chuyện kể bềnh bồng trôi giạt...

Trần Nghi Hoàng
4 giờ sáng ngày 12 tháng 8 năm 1989


XII



Paris.

Đọc một câu trong tập nhạc cũ, hay quá:

“Tình do Tâm mà sinh. Có khi Tình mất mà Tâm còn vọng động. Đến lúc Tâm bình an thì Tình kia mới đoạn nỗi.”


Đầu tháng 9/1979. Hát Bãi Ngao, tỉnh Bến Tre.

Chuyến lưu diễn lại tiếp tục đổ về hướng Bến Tre. Đoàn dừng lại 5 ngày ở Bãi Ngao, còn được gọi là Ngao Châu, một vùng bao trùm gãnh Bà Hiển và gãnh Mù U, thuộc xã Tân Thủy, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Sở dĩ được gọi là Bãi Ngao bởi vì bờ biển nơi đây đầy những vỏ ngao, vỏ hến. Cứ mỗi cơn sóng đánh vào thì lại có thêm một lớp vỏ mới tắp theo, lâu ngày trở nên đầy trên mặt cát, làm thành một màu trắng xóa, lóng lánh dưới ánh mặt trời như có pha màu sữa bạc.

Buổi sáng thứ nhì ở Bãi Ngao, chúng tôi rủ nhau ra biển xem cá “Ông”. Trên bãi đã có rất nhiều dân làng đứng vây chung quanh cái xác của một con cá Voi dài độ 10 mét mà người ta phát giác ra trên bờ biển từ lúc sáng sớm. Khuôn mặt ai nấy đều mang vẻ thành kính. Trong các câu chuyện với nhau, chữ “ông” được nhắc tới một cách trang trọng. Chen lẫn giữa các dân làng là những viên công an , bên hông kè kè khẩu súng ngắn, miệng không ngớt la hò xua đuổi cái hàng rào người càng lúc càng dầy hơn chung quanh xác của “ông”.

Rõ ràng trong dư luận buổi sáng trên bãi biển ở Bãi Ngao đã có hai luồng ý kiến đối nghịch. Phía chính quyền thì muốn kéo xác cá về bến chợ xẻ thịt bày bán. Còn phía dân làng lại muốn đem chôn cất “ông” đúng theo thủ tục trang nghiêm. Đây là niềm tin của các người dân vùng biển miền Nam Việt Nam đối với loài cá Voi. Họ thờ cá Voi như một vị thần hộ mạng trên biển cả, tin tưởng rằng khi ra khơi, dẫu có sóng to gió lớn thế nào mà được gặp cá Voi, mọi sự cũng trở nên bình lặng. Vì vậy, mỗi khi “ông” chết, họ đều rất thành tâm làm lễ cúng kiến, chôn cất.

Buổi sáng thứ nhì ở Bãi Ngao, mặt trời lên càng cao thì cái hàng rào người càng dầy thêm ra. Gần như cả làng đổ xô về trên bãi biển, và luồng dư luận chống đối trở nên mạnh mẽ hơn khi có sự xuất hiện của các nhân viên thuộc ngành vận tải chuyên chở của quận. Người ta la ó khi các nhân viên này dùng cái cần câu của một đầu xe be móc vào mang cá, rồi buộc những sợi giây thừng dầy cộm chung quanh bụng cá. Tiếng phản đối của dân át hẳn giọng la gào nạt nộ của các viên công an. Về sau lại có thêm một chiếc xe cam nhông chở đầy bộ đội được huy động đến. Có vài phát súng chỉ thiên được bắn ra. Vậy mà cái hàng rào người vẫn không chịu giãn. Những viên đá vẫn cứ được lũ trẻ con ném vào đám nhân viên công lực. Trên khuôn mặt của các người dân Bãi Ngao, tất cả đều có cái vẻ sẵn sàng chiến đấu với bất cứ thứ bạo lực nào để bảo vệ lòng tín ngưỡng riêng.

Bãi Ngao là vùng thuộc tỉnh Bến Tre. Trước 1975, Bến Tre nổi tiếng là nơi có rất nhiều “bà mẹ chiến sĩ” và tinh thần “ủng hộ Cách Mạng” của dân quê trong các vùng làng, quận Bến Tre không phải là thấp. .[].

Buổi sáng thứ nhì ở Bãi Ngao, tinh thần ”đồng khởi” mạnh mẽ của các người dân trong vùng quê thuộc một tỉnh có cùng cái tên Đồng Khởi lại được bùng lên. Sự nhượng bộ cuối cùng của phía chính quyền không phải là vì họ tôn trọng tín ngưỡng của dân, mà chính là do từ tia mắt cương quyết của các người đàn ông, sự hung hãn của các người đàn bà cùng đám trẻ nhỏ, đã làm nên nỗi nhượng bộ ấy. Những sợi giây thừng được tháo khỏi xác “ông”. Cái cần trục được gỡ ra. Các nhân viên vận tải lại hạ “ông” xuống vào vị trí cũ trên bờ biển.


Paris.

Cũng có lúc tôi “làm thơ”, một hình thức chuyện trò với chính mình trong đêm vắng. Mùa thu đã trở lại trong thành phố Paris. Mùa thu của cuộc đời tôi cũng đã đến qua những sợi tóc bạc đang len lỏi kiếm tìm chỗ đứng ổn định trên mái đầu.

Những sợi tóc bạc đầu tiên
Đã nhuốm bao nỗi ưu phiền
Như những chiếc lá thu rơi
Ôi! Nhắc cho ta cảnh tả tơi


Những nếp nhăn nheo đầu tiên
Như giọt mưa thu ngoài hiên
Đem đến cho ta mối phiền
Trong cảnh thu tàn, đông sắp đến


Bao mối hy vọng dần tan
Như tuổi thanh xuân chóng tàn
Như những hôm trời không nắng
Mơ ước một đời còn dở dang


Năm tháng không tồn niềm vui
Cuộc đời trôi nổi tả tơi
Hạnh phúc nào không cay đắng
Hồng nhan nào chẳng vướng sầu đau


Đôi mắt vương hàng lệ cay
Trái tim không còn mê say
Giòng đời biết đâu là bến?
Tài hoa giữa chợ chẳng ai hay?


Tháng 9/1979, hát Giồng Tre, tỉnh Bến Tre.

Càng đi sâu vào các vùng quê Việt Nam, tôi càng nghe nẩy sinh trong lòng mình một nỗi êm đềm kỳ thú. Sàigòn và các thành phố lớn không tạo được điều này, không khiến tâm hồn tôi dịu xuống ở một mức độ cần thiết để có thể cùng thiên nhiên hòa điệu. Năm ngày ở Giồng Tre, tôi quên được gần hết những dày vò quấn quýt chung quanh, quên đi thực tại với một đời sống khó khăn và những trách nhiệm còn chưa làm cho trọn... để chỉ lắng lòng mình theo cảnh sắc nơi đây. Nơi đây xa thành phố quá: một xã nhỏ nằm trong quận Giồng Trôm có những con đường mòn len lỏi giữa các bụi tre ngạt ngào tiếng hát, những nóc nhà tranh với các mái lá rủ xuống chỉ ngang đầu một người cao vừa tầm, những lu nước mưa trong vắt chất đầy sau hè nhà tháng này qua tháng khác. Tất cả như hòa điệu với bầu trời mây trôi lãng đãng của mùa thu vừa bắt đầu, làm cho tâm tư kẻ giang hồ như cũng ngất ngây rung động.

Năm đêm hát Giồng Tre, khán giả kéo về đầy nghẹt sân banh. Trời đang giữa mùa trăng. Con trăng tròn lấp ló sau những rặng tre, trải cái ánh sáng màu sữa bạc trên những lối mòn chung quanh rạp. Ngay mặt tiền sân khấu, các tấm màn nhung đủ màu phất phới bay theo hình sóng lượn đã làm cho tôi liên tưởng không ngớt đến hình ảnh những cánh buồm lộng gió được nhìn thấy hồi bé trong cuốn phim Hải Tặc Vikings.

Ôi! Tuổi ấu thơ xa vời chìm trong quên lãng, sao lại có lúc sống dậy trong trí nhớ với từng kỷ niệm mồn một rõ nét dường này? Hình ảnh người cha cao gầy nắm bàn tay tôi, lách vào cửa rạp hát Đại Nam giữa làn sóng người chen lấn, một buổi chiều của năm nào xa lắc, đột nhiên như quay cuồng trước mắt trong các đêm hát ngoài trời ở Giồng Tre.

Tôi ít có kỷ niệm về cha tôi, có lẽ bởi vì Người đã chết khi tôi còn quá bé? Tuy nhiên, cứ mỗi lần hiếm hoi nhớ tới Người là tôi lại hình dung đến buổi chiều năm ấy, ngồi cạnh cha trong rạp hát, trái tim non nớt của tôi đã rung lên từng hồi khi nhìn những cánh buồm lộng gió của đoàn hải tặc Vikings lướt đi trên sóng nước bao la về những chân trời xa xôi, bí mật. Có lẽ tôi yêu biển kể từ dạo đó? Và cũng có lẽ hiện tại với tình yêu cho những bến bờ huyễn mộng xa xăm đã bắt nguồn trong tôi ngay từ thuở ấu thơ?

Năm đêm hát ngoài trời ở Giồng Tre, rõ ràng tôi quên được gần hết những khổ đau vướng vít chung quanh để chỉ đưa trí nhớ lần dò vào từng hốc tối của kỷ niệm, hình dung lại một cách mơ hồ đôi mắt thật buồn và cũng thật xa vời u uẩn của cha tôi trong những ngày tháng cuối sống trên trần thế. Ngày nay, có lúc tôi hối tiếc tự hỏi rằng, tại sao trong tuổi ấu thời xa xưa ấy, tôi yêu cha tôi “ít quá” đến chừng như xa lạ? Tôi đã không dám đến gần mỗi khi thấy Người ngồi thỏm sâu trong ghế bành; không dám bước mạnh qua phòng khi thấy Người nằm gác tay lên trán, đăm đăm nhìn trần nhà. Sự lặng yên ngày này qua ngày khác cùng đôi mắt u hoài thăm thẳm của Người làm cho tôi tự xa lánh. Và dạo đó, tôi chỉ thấy sợ cha chứ không là yêu như đã yêu mẹ tôi.

Phải hai mươi mấy năm trời trôi qua, ngày nay tôi mới hiểu được nỗi khổ đau ngần nào của cha tôi trong sự lặng yên ngày đó khi Người tự biết theo với sự phát tác của chứng ung thư phổi thì sẽ không còn sống được bao nhiêu thời gian nữa. Không phải Người chỉ xa lạ với tôi mà còn xa lạ với cả chính bản thân.

Năm ngày ở Giồng Tre, tôi tưởng như tìm lại được gần hết những kỷ niệm đã vùi sâu dưới lòng ký ức, tìm lại khuôn mặt người cha mà khi tôi hiểu và yêu được đậm đà thì đã quá muộn để có thể tỏ bày với Người tình yêu thương ấy.

[]


Paris.

Những vần thơ của nước Nga:

“Ôi! Nỗi hân hoan của cuộc gặp gỡ muộn màng

trong một ngày thu có mưa, và mưa đá

Hãy tha thứ cho em -nhưng hơn tất cả-

anh tha thứ cho em

vì em chậm đến bên anh.”


Giữa tháng 9/1979, lưu diễn Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

Những ngày Bình Đại, trời mùa thu u ám lạ thường. Bức tranh vân cẩu vẫn không ngừng thoắt hiện, thoắt biến; cũng giống như tâm tư tôi cứ mãi bị chi phối theo chuyến ghe dài 7m của nhóm bạn cũ chìm lĩm trên cửa biển tại đây.

Cái dự tính ra đi này, những người bạn tôi cưu mang đã lâu, thời gian đầu của trang sử mới. Họ dốc hết tâm lực và tiền bạc để mưu đồ cuộc vượt biển, đặt chính mình vào trong một canh bạc mà ngay từ khởi sự đã biết rằng chỉ có “thua” hoặc “thắng” chứ không thể là “gỡ”. “Thua” thì từ bước đầu cũng có thể thua dễ dàng bởi đôi mắt nghi kỵ của một anh công an nào đó. Nhưng còn “thắng” lại phải vượt qua biết bao cửa ải mới vói được tới...

Những ngày Bình Đại, một câu trong tác phẩm Climats của André Maurois không ngớt vang trong óc tôi: “Định mệnh và ý chí con người thường hay lỗi điệu.” (Nos destinées et nos volontés jouent presque toujours à contretemps.) Người hành khách đến sân ga đáp chuyến tàu cuối thì đoàn tàu cũng vừa chuyển bánh. So le, nghiêng lệch quá! Một bi kịch bơ vơ mà cái đoạn kết mơ hồ đen đúa của nó khó có người nắm được rõ ràng. Chỉ biết cảm nhận tế nhị rằng: “Con người thật nhỏ bé trước Định Mệnh, thần linh; giống như ngọn cỏ phất phơ sẵn sàng bị nghiền nát bởi một sức mạnh bất kham dưới gót chân con người một cách vô tội vạ”; và mọi việc tưởng như có bàn tay tinh tế nào đó xếp đặt đến độ “con quay búng sẵn trên trời, mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm!”

[]


XIII



Paris.

Tôi vẫn ưa thích ngồi uống trà một mình mỗi đêm trở về từ quán café. Trời Paris đã vào thu. Ngọn đèn đường chiếu qua cửa sổ một màu ánh sáng nhòa phai cô tịch. Gió lạnh ngất ngây làm cho tách trà dường như thêm ý nghĩa. Và cái hào khí của một thời tuổi nhỏ cũng theo gió mơ hồ dậy lên.

Ngày bỏ quê hương ra đi, tôi có mang theo trong mớ hành trang hai món cổ vật của gia đình mà hơn ba mươi năm từ khi mở mắt chào đời, tôi đã thấy: cây đàn vĩ cầm và bộ bình trà đã được khai sinh từ hàng trăm năm qua.

Ôi tiếng cầm xanh sầu quý phái

Đàn ai ngan ngát trời Tây Phương(*)

Cây đàn của cha tôi truyền lại đã theo tôi góc bể chân trời, chia xẻ cùng tôi không biết bao nhiêu tâm sự trên bước đường lữ thứ. Thêm chiếc bình trà vẽ một cành mai. Chiếc bình nho nhỏ xinh xinh nằm trong khay với những chén tống, chén quân trông thật xấc, biểu hiện một cái gì trọn vẹn, toàn bích mà nhìn mãi suốt đời vẫn không thấy chán. Khí tiết của người quân tử được phô bày nơi ấy, qua cánh hoa mai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

(Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước vẫn còn một cành mai)(**)

Những khi thao thức thâm canh, ngồi nhìn hai món cổ vật đã kinh qua biết bao thăng trầm dâu bể, sao dời vật đổi, giờ đây nằm yên trong tay tôi với tất cả những nét đan thanh dịu dàng nhất, tôi đã không khỏi chạnh lòng cảm xúc bâng khuâng.

Nhãn để phù vân khan thế sự

Yêu giang trường kiếm quải thu phong(***)

(Trong đáy mắt, chuyện đời như mây nổi

Bên thắt lưng, gươm dài quảy gió thu.)

Đêm hôm khuya khoắt, vỗ bình trà đọc thơ để nghe cái mộng công hầu lắng sâu trong tâm thức và để thấy rằng phú quí trên đời cũng ví như bèo bọt mà thôi.


Cuối tháng 9/1979. Hát Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Mỹ Tho là trạm cuối cùng trong chuyến lưu diễn Miền Tây của chúng tôi. Thành phố đến đã nhiều lần mà mãi chẳng gợi lên trong tôi một ý nghĩ nào đặc biệt. Có lẽ vì cái vẻ nửa quê nửa tỉnh của nó đã không khiến tôi có thiện cảm cho bằng một nơi chốn đặc sệt mùi sình lầy, ngát thơm mùi lúa mới; hay những vòm trời đượm màu muối mặn từ biển rộng thoảng lên.

Duy chỉ ngôi chùa Vĩnh Tràng rất cổ, được dựng từ hàng trăm năm qua, nằm trong Chợ Cũ, hướng Đông Bắc của thị xã, là nơi tôi ưa thích nhiều hơn hết. Bên trên cổng tam quan có đúc tượng một vị hòa thượng cao lớn. Chung quanh các cột của cổng chùa được cẩn bằng loại sành sặc sỡ đủ màu. Trong sân có những ngôi cổ mộ xây bằng đá ong đã lâu đời và những cây kiểng được nắn rất đẹp theo hình dáng các con thú.

Trước 1975, nơi đây là vùng ít an ninh, khách thập phương đến viếng chùa thường phải ra về trước 3 giờ chiều để tránh đạn du kích từ những con kênh sau chùa bắn sẻ ra. Bây giờ hòa bình rồi mà ngôi cổ tự này cũng chẳng có gì thay đổi; vẫn cái vẻ hoang sơ ngày cũ và vẫn chỉ là một nơi u tịch lặng lờ với tiếng chuông tiếng mõ ngân dài điệp khúc buồn trong gió, tiếc nuối thời gian trôi đi không trở lại bao giờ!

Lại còn cái cồn Phụng, nơi tu hành của ông Đạo Dừa, nằm về hướng bắc Tân Thạch, ngày xưa tấp nập rộn ràng bao nhiêu thì ngày nay tiêu điều xơ xác bấy nhiêu. Những vị tu hành bỏ đời sống tâm linh trở về thế tục. Khách thập phương đã vắng rất nhiều. Mùi trầm hương không còn thoảng đưa theo gió, nhưng chung quanh cồn, các cây bần xanh ngắt vẫn hiện hữu như chừng đợi chờ sự cập bến của một chuyến đò đưa khách hiếm hoi.

.. .. ..

Những ngày Mỹ Tho, có rất nhiều nỗi buồn chiếm cứ ý nghĩ tôi. Tôi đang đọc lại tác phẩm Docteur Zhivago(1) và có lẽ đó chính là nguyên nhân cho mọi nỗi buồn hiện tại. Tâm trạng chàng nhân vật chính, yêu miệt mài cái Đẹp, chán ghét nhờm gớm lý thuyết rỗng tuếch dai dẳng của chế độ[] ; sự cấp bách hốt hoảng trước tình yêu và nghệ thuật trong tâm hồn Zhivago quãng thời gian cuối cùng ở Varikyno; sự ra đi của Lara khỏi căn nhà tuyết; và câu chuyện đối thoại giữa Pacha Antipov với Zhivago một đêm giá rét ở Varikyno... sao cứ làm đầu óc tôi nghĩ ngợi triền miên.

Tiểu thuyết và thực tại có khác gì nhau, dù là ở hai phương trời Đông-Tây cách biệt? Tâm trạng các nhân vật chính được diễn tả vào những năm đầu cuộc Cách Mạng 1917 ở Nga có khác nào với tâm trạng người Việt Nam nói chung từ sau biến cố 1975? Một khoảng cách mấy chục năm trời được thu ngắn lại trong vài trăm trang giấy đã thể hiện rõ rệt biết bao cảm nghĩ chân thật của đại đa số tầng lớp trí thức miền Nam Việt Nam. Mỗi người đều tự chọn (hay tự đặt mình vào hoàn cảnh phải chọn) lấy một đường hướng và thái độ sống từ sau cuộc đổi đời tàn khốc. Có người bỏ đi (như Lara) , có người ở lại (như Zhivago) và cũng có người chọn lấy cái chết (như Pacha) để làm điểm đến sau chót...; thì rốt lại, trong mỗi con người, sự thất vọng vẫn là đầu mối cho mọi suy nghĩ.

“Thất vọng” , không phải vì đã “hy vọng”. “Thất vọng” , chính vì tự thấy mình không thể thích ứng đươc theo một cơ cấu tư tưởng mới vô cùng khác biệt với luồng tư tưởng đã ăn sâu trong tiềm thức từ biết bao chục năm dài trôi qua.

.. .. ..

Những ngày Mỹ Tho, trời gió thật nhiều. Mùi kỷ niệm ngạt ngào bùng theo lên theo gió. Dalat đau buồn –khoảng thời gian cuối tháng 3/1975 bắt đầu bỏ ngõ—thấp thoáng hiện về. Một thứ cảm xúc bất bình thường mà đã thật lâu rồi tôi mới bắt gặp lại. Một nỗi hạnh phúc pha lẫn đau khổ, dịu dàng nồng ấm nhưng cũng dẫy đầy bất trắc. Như thời gian cuối cùng của Lara và Zhivago ở Varikyno. Như thời gian tôi cô đơn trên núi, nhìn Dalat oằn mình dưới cơn lốc tản cư.

“Ta buồn từ độ mây về núi.”

Tôi cũng buồn từ độ bỏ ngọn núi yêu dấu ấy mà đi, đầu tháng 5/1975.. .

[]


(1) Tác phẩm Docteur Zhivago của Boris Pasternak, nhà văn Nga (1890 -1960), được viết vào năm 1957.




...CÒN TIẾP...







© tác giả giữ bản quyền.

. đăng tải theo nguyên bản của tác giả ngày 18.05.2008.
. Tác phẩm của Trần Thị Bông Giấy chỉ đăng tải trên tranthibonggiay.net và newvietart.com