NGUYỄN THỊ BÍCH NGA




CHƯƠNG TIẾP THEO


KỲ THỨ 2



Đợt này người lạ đi biền biệt bốn năm ngày mới về khiến tôi sốt ruột hết biết. Nhưng khi chú ấy xuất hiện, vẻ chiến thắng ngời sáng trong ánh mắt chú ấy làm tôi vui lây.

Người lạ nói nhỏ với tôi:

-Cháu cứ tắm táp và cơm nước bình thường đi. Đừng để má cháu chú ý. Khi nào mọi việc xong xuôi, chú cháu mình sẽ gặp nhau ở chỗ cũ.

Tôi gật đầu vâng lời ngay.

Tối đó, người lạ và tôi ngồi trên bậc thềm trước nhà rù rì nói chuyện. Chú ấy đưa ra một cặp mắt kính lão, có một bên gọng được cột dây kẽm, mà thoạt nhìn tôi nhận ra nó là cặp mắt kính của ba tôi ngay! Tôi săm soi cặp kính hỏi chú ấy:

-Làm sao chú lấy được nó? Ai đưa cho chú?

Người lạ trả lời với vẻ bí ẩn:

-Nghiệp vụ riêng của chú, không thể tiết lộ được. Người bảo vệ của công ty đưa nó cho chú xem. Nó nằm trong ngăn kéo bàn của anh ta gần một năm nay. Anh ta nói, đêm hôm đó, ba cháu ngồi tại bàn này, đeo kính đọc báo, trong khi anh ta uống một chai ba xị đế và nhâm nhi khô mực nướng.

Tôi há miệng, hớp lấy một ngụm không khí và hỏi:

-Ba cháu có nhậu với ông ta không?

Người lạ nhìn tôi lắc đầu:

-Không. Người bảo vệ nói anh ta không mời ba cháu nhậu, vì biết rõ ba cháu bị dị ứng với cồn. Sau đó, ba cháu gấp tờ báo, quăng đôi mắt kính vào trong ngăn kéo bàn và leo lên giường ngủ.

Tôi kêu lên:

-Nhưng tại sao trong biên bản hỏi cung của công an, người bảo vệ khai rằng cái chai ba xị đế là của ba cháu?

-Chú cũng hỏi anh ta như vậy. Anh ta ngượng ngùng nói rằng vì bà phó giám đốc biểu anh ta phải khai như vậy.

Hà. Cảm ơn trời phật. Tôi thở ra một hơi, giơ ngón tay cái lên:

-Bằng chứng thứ nhất.

Người lạ cười tủm tỉm:

-Người kế toán của công ty kể với chú như thế này. Trước đó mấy tháng, ba cháu nhìn thấy bà phó giám đốc – tức bà vợ ông giám đốc công ty – tự động mở két sắt, đưa một xấp tiền mới cáo cạnh cho tay tài xế đẹp trai. Ba cháu cảm thấy điều gì đó không ổn. Vì chỉ có thủ quỹ mới được phép lấy tiền trong két sắt ra để chi trả cho khách hàng. Ba cháu báo với kế toán. Kế toán báo với thủ quỹ. Cuối cùng, thủ quỹ phát hiện trong két sắt mất hơn năm triệu đồng!

Tôi sung sướng giơ thêm ngón tay trỏ lên:

-Bằng chứng thứ hai.

Người lạ gật gù xác nhận và kể tiếp:

-Chú đã gặp gỡ một nhân vật quan trọng cuối cùng. Đó là cậu con trai của cặp vợ chồng giám đốc công ty. Cậu ấy cứ im lặng như thóc, người khác nạy răng chắc không hé môi đâu, nhưng chú có nghiệp vụ riêng mà, chú thuyết phục chừng mười lăm phút là cậu ấy phun ra hết.

Con trai của ông giám đốc! Vừa nghĩ tới đó, hình ảnh một thanh niên trẻ có nước da trăng trắng, có mái tóc bềnh bồng như nghệ sĩ, có cặp môi hồng hồng, có nụ cười trìu mến... hiện ra trước mắt tôi. Anh ấy rất quý mến cha con tôi, thường biểu ba tôi mang quà cáp về nhà cho tôi, khi thì bịch bánh bông lan, khi thì cây viết bi đầu xanh đầu đỏ, khi thì cuốn sách... Cha con tôi cũng quý mến anh ấy không kém. Thỉnh thoảng có giò lan đẹp, chậu bông hiếm... ba tôi bỏ công ra gói ghém thật cẩn thận, mang lên thị trấn tặng cho anh ấy.

Tôi nắm lấy bàn tay người lạ:

-Chú à, cháu quý mến con trai ông giám đốc lắm, chú đừng làm gì hại anh ấy.

Người lạ trấn an tôi:

-Không đâu. Chú chỉ thuyết phục cậu ấy nên nói hết ra cho nhẹ nhàng cõi lòng. Sau mười lăm phút thuyết phục, cậu ấy đồng ý nói ra hết. Và một khi đã mở miệng, cậu ấy không thể nào dừng lại. Cậu ấy nói liên tục suốt một tiếng đồng hồ.

-Về chuyện gì?

-Về ba cháu. Về sự vô lý của vụ án. Về thái độ của mẹ cậu ấy – tức bà phó giám đốc. Về tính nhu nhược của ba cậu ấy – tức ông giám đốc. Cậu ấy nói, cậu biết biết bà mẹ lăng nhăng với tay tài xế rồi, nhưng không thể nào khuyên bảo được. Mùa hè năm trước, cậu ấy nhìn thấy tận mắt bà mẹ và tay tài xế chui vào trong nhà kho rồi đóng kín cửa lại. Cậu ấy túng thế, bèn gọi ba cháu giúp đỡ. Hai người tìm cách nạy cánh cửa nhà kho, bắt quả tang mẹ cậu ấy cùng tay tài xế đang hú hí ở trong đó. Bà mẹ cậu ấy thẹn thùng quá, chỉ thẳng vào mặt ba cháu và nói: “Ba Dành! Rồi có ngày mày phải trả giá cho ngày hôm nay! Tao không đe dọa suông mày đâu!”

Tôi rùng mình, giơ thêm ngón tay giữa lên:

-Bà phó giám đốc... Có thể bà ta gài bẫy ba cháu... Đó là bằng chứng thứ ba.

Người lạ khẳng định:

-Chú thì chắc chắn luôn. Bởi vì hôm trước cậu ấy vừa trở lên Sài Gòn nhập học, thì hôm sau vụ án của ba cháu xảy ra. Và cậu ấy không hề được thông báo gì về vụ án này. Mãi đến đầu tháng Hai, khi cậu ấy về quê ăn Tết thì ba cháu ngồi tù được sáu tháng rồi! Cậu ấy cảm thấy ray rứt lắm. Cậu ấy biết rõ ba cháu bị oan nhưng thể cứu được ba cháu, vì cậu ấy không muốn hại bà mẹ.

Tôi đập tay vào đầu gối, tỏ vẻ thất vọng:

-Nếu vậy thì chẳng có ai muốn ra Tòa làm chứng để chống lại bà phó giám đốc đâu.

Người lạ vỗ vỗ vào túi áo sơ mi:

-Đừng lo. Mặt mũi họ không hiện diện ở Tòa, nhưng tiếng nói của họ sẽ đến tai vị Thẩm Phán. Chúng ta có ba bằng chứng, cộng với cái này, chắc chắn vị Thẩm Phán sẽ phải xem xét lại vụ án của ba cháu.

Tôi hỏi:

-Cái gì trong túi áo của chú vậy?

Người lạ móc ra một cuộn băng cát-sét, nét mặt sáng bừng lên vẻ chiến thắng:

-Đây là bằng chứng thứ tư và nó đáng tin cậy nhất. Chú đã ghi âm lại mọi câu nói của nhân viên bảo vệ, của nhân viên kế toán, và của cậu con trai bà giám đốc. Phen này thì bà phó giám đốc hết đường chối cãi.

Tôi rên rỉ một hơi dài:

-Trời! Nhà cháu không có máy cát-sét làm sao nghe được cuộn băng này? Tiếc quá là tiếc!

-Không có gì phải tiếc cả. Chú sẽ tìm cách đưa vụ này ra Tòa xử lại. Và trong phiên xử đó, má cháu và cháu sẽ có mặt để chứng kiến giây phút ba cháu lấy lại được danh dự. Chú hứa sẽ giải quyết vụ này đến nơi đến chốn.

Tôi nhanh miệng nối lời:

-Còn cháu hứa sẽ hết lòng hết dạ với bà chủ lò bánh tráng Thiên Hòa.

Hai chúng tôi nhìn nhau, cùng chành miệng nhe răng ra cười với nhau. Bỗng dưng ánh mắt tôi nhòe đi vì màng lệ nóng bất chợt ứa ra. Tôi muốn chắp tay cảm ơn trời phật đã cho tôi tình cờ gặp gỡ chú ấy – nhà văn Trường Giang – người lạ của tôi – không, người bạn thân thiết của tôi!

***

Bằng uy tín và thế lực của một nhà văn – tôi chắc vậy, năm tuần sau, tòa án mở một phiên tòa lưu động xét xử lại ba tôi với tội danh căn cắp tiền quỹ của công ty xuất nhập khẩu. Buổi xét xử được tiến hành ngay tại sân bóng đá của xóm Ong Mật, thu hút mấy trăm người dân địa phương đến xem. Tất nhiên má tôi và tôi không thể vắng mặt. Bà chủ lò bánh tráng Thiên Hòa cho phép tôi được nghỉ một buổi làm và chúc tôi nhiều may mắn.

Sáng hôm đó, má tôi và tôi ngồi ở hàng ghế đầu tiên nên thấy rõ ba tôi đang ngồi ở hàng ghế phía bên kia. Vì còn tội danh là “kẻ ăn cắp tiền quỹ” nên ba tôi vẫn bị còng tay, và phía sau lưng ông ấy là hai công an đứng nghiêm trang canh chừng. Khuôn mặt ba tôi rất hốc hác. Hai gò má lõm xuống khiến ông ấy già hẳn đi, già hơn bình thường phải một chục tuổi. Tội nghiệp. Nỗi oan ức không nói được đã biến ba tôi thành một con người như vậy.

Tôi nhìn quanh nhìn quất, ngạc nhiên không thấy người lạ của tôi đâu cả.

Phiên tòa bắt đầu. Trước hết, Tòa gọi người bảo vệ của công ty lên bục nhân chứng. Tòa hỏi lại một câu mà tôi đã biết rồi:

-Nhân chứng Trần Ngọc Duy hãy nói rõ cho tòa biết tối hôm đó bị cáo Phan Văn Dành có uống rượu đế không? Nếu có, thì uống bao nhiêu?

Người bảo vệ run rẩy trả lời:

-Dạ có. Anh Ba Dành uống hết một chai ba xị đế.

-Nhân chứng chắc chắn điều này không?

-Dạ nhân chứng chắc chắn.

-Vậy Tòa mời nhân chứng nghe một đoạn trong cuộn băng cát-sét này.

Nói xong, vị thẩm phán chủ trì phiên toà nhấn cái nút trên máy cát-sét. Loa máy nối vào dây loa phóng thanh nên giọng nói của người bảo vệ trong loa nghe rõ mồn một: “Anh Ba Dành không hề uống một giọt rượu nào. Ảnh bị chứng dị ứng với cồn mà, chỉ uống một chung thôi là khắp người nổi mề đay sần sùi lên, nên ảnh không dám nhậu lai rai với tui đâu. Chai ba xị đế đó là của tui. Uống xong, tui vật ra ngủ hổng biết trời trăng gì ráo. Đến sáng bạch, bà phó giám đốc đánh thức tui dậy và nói với tui là anh Ba Dành ăn cắp tiền công quỹ nên bị công an bắt rồi. Bả còn biểu tui, nếu tui muốn giữ nồi cơm thì cứ khai rằng chai ba xị đế là của anh Ba Dành. Ảnh nhậu xỉn rồi ảnh làm bậy”.

Toàn thể khán giả bên dưới xì xào phản đối dữ dội. Một người dân bức xúc quá thét to:

-Đ.M. thằng cha bảo vệ! Chỉ vì sợ bể nồi cơm mà mày khai gian cho người lương thiện!

Tôi thấy ba tôi giơ tay lên chùi nước mắt. Và tôi thấy một giọt nước mắt nóng hổi của mình cũng từ từ lăn xuống gò má – nhưng tôi cứ mặc kệ nó, không dám giơ vạt áo lên chùi, sợ má tôi biết.

Vị thẩm phán gõ búa ba cái rồi hỏi người bảo vệ:

-Nhân chứng Trần Ngọc Duy, có đúng đó là giọng nói của nhân chứng không?

Anh ta xanh mặt, không dám chối cãi nữa bèn gật đầu:

-Dạ, đúng là giọng nói của nhân chứng. Bây giờ nhân chứng xin thề là tối hôm đó anh Ba Dành hoàn toàn không uống rượu, hoàn toàn không say xỉn.

Vị thẩm phán nghiêm giọng:

-Được rồi. Nhân chứng về chỗ ngồi đi. Tòa mời nhân chứng tiếp theo, cô Lê Thị Vân.

Một phụ nữ tuổi ngoài bốn mươi có nét mặt buồn bã đi lên, và đứng vào bục nhân chứng. Tòa nhẹ nhàng yêu cầu bà ấy:

-Nhân chứng Lê Thị Vân cho biết bà có trách nhiệm gì trong công ty xuất nhập khẩu A.A.A.?

-Dạ, nhân chứng là thủ quỹ của công ty.

-Nhân chứng Lê Thị Vân nói rõ những ai trong công ty biết được mã số khóa của két sắt.

Giọng của người thủ quỹ nghe chững chạc và rành rọt:

-Dạ, chỉ có ông giám đốc, bà phó giám đốc, và nhân chứng là biết mã số khóa của két sắt.

-Bị cáo Phan Văn Dành có thể biết được mã số khóa, và có thể mở được cánh cửa không?

-Dạ không. Như nhân chứng đã nói, không ai biết được mã số khóa ngoài ông giám đốc, bà phó giám đốc và nhân chứng. Vì đây là két sắt của Đức, cho nên, nếu không biết được mã khóa thì chỉ còn một cách là phá cánh cửa.

-Nhưng sáng hôm đó, nhân chứng thấy cánh cửa két sắt thế nào?

-Dạ, hoàn toàn nguyên vẹn, không bị trầy xướt một mảnh nhỏ.

-Nhìn vào ổ khóa, nhân chứng nghĩ gì?

-Dạ, nhân chứng nghĩ tên trộm có chìa khóa riêng.

-Nhân chứng có biết điều gì đã xảy ra không?

-Dạ, nhân chứng không biết.

-Vậy Tòa mời nhân chứng nghe một đoạn trong cuộn băng cát-sét này.

Vị thẩm phán chủ trì phiên toà nhấn cái nút trên máy cát-sét. Lần này, giọng nói của người thủ quỹ nghe ong óng trong loa phóng thanh: “Anh Ba Dành cảm thấy thằng cha tài xế thay đổi như con nhộng lột xác. Chả không còn mặc bộ đồ xuềnh xoàng mà ngày nào cũng chưng diện như đi ăn đám cưới. Trong túi chả, lúc nào cũng có một xấp giấy bạc năm chục ngàn xanh lè. Anh Ba Dành thường bị chả sai đi mua rượu về nhậu. Chả không uống sâm-banh vài chục ngàn một chai đâu nha, chả chơi loại Giôn-ni Won-kơ cả triệu đồng một chai! Có lần, nhân viên ra về hết rồi, anh Ba Dành đang quét dọn ở phòng bên thì nghe phòng của tui có tiếng động. Ảnh lén nhìn vô, thấy bà giám đốc và thằng cha tài xế đứng trước két sắt. Bả mở cánh cửa, móc ra một xấp giấc bạc mới cáo cạnh rồi đưa cho thằng cha tài xế. Ảnh thấy có điều gì đó mờ ám, bèn báo với cô kế toán. Cô kế toán báo lại với tui. Tui lập tức mở két sắt ra xem, kiểm tra lại tiền, thì thấy mất hơn năm triệu.”

Tiếng xì xào bàn tán vang lên không dứt khiến vị thẩm phán phải gõ búa ba cái, khán giả mới chịu im lặng. Vị thẩm phán hỏi:

-Nhân chứng Lê Thị Vân, có đúng đó là giọng nói của nhân chứng không?

-Dạ, đúng.

-Sau khi biết trong két sắt mất hơn năm triệu, nhân chứng làm gì?

-Dạ, nhân chứng báo cáo cho bà phó giám đốc biết.

-Bà phó giám đốc có ý kiến ra sao?

-Bà ấy tuôn ra một tràng chửi anh Ba Dành, nào mà nhiều chuyện, nào là mỏ nhọn. Nhân chứng bênh vực ảnh, nhân chứng nói, ảnh chỉ làm nhiệm vụ của một nhân viên thôi, và hành động của ảnh là bảo vệ tài sản chung của công ty.

-Đúng vậy. Rồi bà phó giám đốc nói sao?

-Bà ấy biểu nhân chứng giữ kín chuyện này. Nhân chứng thề là tiền mặt trong két sắt đã từng bị mất, và do chính tay bà phó giám đốc lấy.

Nhiều người Ồ lên. Nhiều người vỗ tay. Quả là một câu nói làm chứng đáng giá cho ba tôi. Vị thẩm phán gật gù:

-Mời nhân chứng Lê Thị Vân về chỗ ngồi. Tòa mời nhân chứng cuối cùng, Võ Quốc Toản.

Một thanh niên trẻ nhanh nhẹn bước lên và đứng ngay ngắn tại bục nhân chứng. Mắt anh ấy chạm vào mắt ba tôi và anh ấy khẽ gật đầu chào. Ba tôi lại chùi nước mắt. Có lẽ ba tôi mừng mừng tủi tủi khi được gặp lại những người thân yêu, những người hết lòng bênh vực cho ông ấy.

Vị thẩm phán hỏi:

-Nhân chứng Võ Công Toản cho Tòa biết nhân chứng có chức vụ gì trong công ty.

Anh ấy nhìn thẳng về phía trước, giọng rắn rỏi nhưng không giấu được chút run rẩy:

-Nhân chứng là con trai của ông giám đốc và bà phó giám đốc. Nhân chứng không làm gì trong công ty. Nhân chứng đang là sinh viên năm thứ ba, đại học Bách Khoa, thành phố Hồ chí Minh.

-Nhân chứng quen biết bị cáo Phan Văn Dành không?

-Dạ biết. Anh Dành làm việc ở công ty cách nay tám năm, lúc đó nhân chứng vẫn còn học cấp II, và anh Dành thường xuyên đưa đón nhân chứng. Anh Dành là một người tốt. Không rượu chè, không cà phê, không thuốc lá. Nhiều lần nhân chứng năn nỉ cha nhân chứng chuyển anh ấy sang công việc khác, nhưng cha nhân chứng nói anh ấy không có trình độ học vấn, biết chuyển đi đâu. Thế là anh ấy cứ làm tạp vụ suốt tám năm nay.

-Tòa thấy nhân chứng là sinh viên, là người có học vấn cao, vậy Tòa hỏi nhân chứng muốn tự khai ra hay muốn Tòa mở đoạn băng cát-sét?

Ngập ngừng một chút, anh ấy trả lời gọn:

-Dạ, nhân chứng xin khai.

Anh ấy liếc sang nhìn ba tôi một lần nữa và nói nhanh:

-Thưa thẩm phán, nhân chứng biết chắc anh Dành bị oan ức, bị gài bẫy, và nhân chứng có thể đoán được người đã gài bẫy anh Dành là ai. Nhưng nhân chứng nghĩ rằng đó sẽ là một vụ án khác cần làm rõ, nên nhân chứng xin phép không nói ra cái tên mà nhân chứng đang nghĩ trong đầu. Nhân chứng chỉ xin kể một câu chuyện có thật.

Tiếng khán giả xì xào bàn tán khiến vị thẩm phán phải gõ búa để giữ trật tự.

-Mùa hè năm ngoái, nhân chứng nghe đồn rằng bà phó giám đốc, tức mẹ kế của nhân chứng, cặp bồ với tay tài xế. Muốn giữ danh dự cho mẹ kế, nhân chứng quyết tâm rình rập, quyết tâm bắt quả tang câu chuyện bồ bịch đó, để mẹ kế của nhân chứng có thể đuổi việc tay tài xế chuyên lợi dụng phụ nữ. Khoảng một giờ trưa, nhân chứng thấy bà phó giám đốc từ văn phòng đi ra, lẻn vào nhà kho. Sau đó, tay tài xế thậm thò thậm thụt lượn qua lượn lại rồi cũng lẻn vào nhà kho, và đóng cánh cửa lại. Nhân chứng không biết làm sao, bèn gọi anh Dành, tiết lộ với anh ấy điều đó.

Vị thẩm phán chợt cắt lời:

-Thái độ của bị cáo Phan Văn Dành ra sao?

-Anh Dành khuyên nhân chứng hãy bình tĩnh, chuyện đâu còn có đó, đừng làm ầm ĩ lên kẻo mất mặt bà phó giám đốc.

-Nhân chứng có làm theo lời khuyên không?

Anh ấy quắc mắt lên:

-Xin lỗi thẩm phán, nếu thẩm phán ở trong hoàn cảnh của nhân chứng, thẩm phán có làm theo lời khuyên của một nhân viên tạp vụ không?

-Được rồi. Nhân chứng kể tiếp đi.

-Nhân chứng nổi giận đùng đùng, bắt anh Dành phải phá cánh cửa nhà kho cho nhân chứng. Không thể trái lời con trai ông giám đốc, anh Dành đành làm theo. Khi cánh cửa bật mở, nhân chứng bắt quả tang bà giám đốc đang nằm trong vòng tay tình tứ của tên tài xế. Tất nhiên cả hai không thể chối tội, nhưng bà phó giám đốc nhảy dựng lên như đạp nhằm tổ kiến lửa. Bà ấy xỉa xói, chửi bới anh Dành, và hăm he rằng: “Ba Dành! Rồi có ngày mày phải trả giá cho ngày hôm nay! Tao không đe dọa suông mày đâu!”

Tiếng búa của vị thẩm phán gõ cộp cộp như điên mới có thể bắt khán giả giữ trật tự. Sau đó, vị thẩm phán mời anh Võ Công Toản trở về chỗ ngồi, rồi yêu cầu mọi người giữ im lặng trong khi các đại diện của Viện Kiểm Sát hội ý với nhau. Không đầy mười phút, Tòa chính thức tuyên bố bị cáo Phan Văn Dành vô tội, và được phục hồi quyền công dân ngay lập tức!

Má tôi, tôi, và tất cả mọi người cùng đứng bật lên, vỗ tay hoan hô không dứt trong nụ cười và trong nước mắt. Má tôi ôm chầm lấy tôi, khóc nức nở. Nước mắt bà ướt đẫm vai áo của tôi. Qua màn lệ, tôi thấy ba tôi giơ hai tay ra trước cho người công an mở còng. Rồi không nén được xúc động, anh ta bắt tay ba tôi, lắc lia lắc lịa để chúc mừng ông ấy. Ba tôi cúi đầu cảm ơn anh ta và ông ấy xoay người lại...

Ba tôi, má tôi và tôi bước nhanh về phía nhau... Không, chúng tôi chạy... Không, chúng tôi bay... Rồi ba tôi ôm chặt lấy tôi, rồi má tôi ôm chặt lấy ba tôi, rồi mọi người bu quanh chúng tôi. Mắt ai cũng đỏ hoe. Mắt ai cũng nhòa lệ. Hình như mọi người đều òa khóc trước sự sum họp của gia đình tôi, trước hoàn cảnh ba tôi phải chịu hơn chín tháng ngồi tù oan uổng!

Hôm đó, tôi cảm thấy sung sướng quá, hạnh phúc quá, lòng lâng lâng quá... nhưng tiếc một điều là người lạ của tôi không có mặt để chứng kiến giây phút đáng nhớ nhất. Chú ấy không đến, có lẽ vì chú ấy không muốn nhận công lao về mình. Đúng thế. Nếu không có chú ấy nỗ lực điều tra, giờ đây chẳng những ba tôi phải ngồi trong tù mục xương mà còn bị ô danh suốt đời!

***

Vừa về tới nhà, hình dáng người lạ ngồi chờ đợi nơi bậc thềm khiến tôi nhảy cẫng lên mừng rỡ. Tôi chạy ào tới trước mặt chú ấy, hét to:

-Chú ơi! Ba cháu được minh oan rồi! Ba cháu vô tội!

Người lạ mỉm cười, còn ba tôi hơi nhướng mày nhìn chú ấy với vẻ thắc mắc. Tôi giải thích một tràng thật nhanh với ba tôi:

-Ba, đây là nhà văn Trường Giang. Chú ấy ở trọ nhà mình mấy tháng nay để viết một cuốn sách. Chú ấy nghe nói về vụ án của ba nên quyết định ra tay điều tra để giúp ba. Cuộn băng cát-sét mà vị thẩm phán có được là do chú ấy cung cấp. Chú ấy ghi âm giọng nói của các nhân chứng vào cuộn băng rồi gửi cho vị thẩm phán. Ba ơi, gia đình mình mang ơn chú ấy nhiều lắm!

Ba tôi đan tay vào nhau rồi cúi đầu chào:

-Tui cảm ơn nhà văn thật nhiều. Nhà văn đã cứu sống mạng của tui, không để tui ở tù, coi như nhà văn đã sinh ra tui lần thứ hai.

Người lạ vội vàng đứng lên, đặt tay lên tay ba tôi và nói:

-Không có chi. Anh đừng bận tâm. Điều tra một vụ án chỉ là sự đam mê của tôi thôi. Nhân đây, tôi xin từ biệt cả nhà. Cuốn truyện của tôi đã xong rồi, tôi nhờ người đem giao cho Nhà Xuất Bản rồi. Bây giờ tôi sẽ đi sang tỉnh khác để tìm ý tưởng cho cuốn truyện khác.

Rồi quay sang tôi, người lạ nói tiếp:

-Chú rất tiếc phải lấy lại cuốn truyện trinh thám, không thể tặng cháu luôn được. Thôi để dịp khác, chú sẽ tặng cháu một cuốn truyện hay hơn. Cháu nhớ ráng đối xử tốt với bà chủ lò bánh tráng Thiên Hòa cho đến khi hết hè nhé? Tạm biệt cháu.

Người lạ trịnh trọng cảm ơn má tôi thêm một lần nữa rồi mới quay đi.

Người lạ sãi chân bước nhanh ra khỏi cổng và khuất dạng rồi mà tôi vẫn còn đứng nhìn theo, miệng ngậm hột thị, không thể thốt lên một lời nào. Trái tim tôi chùng xuống nặng nề vì đau khổ. Tại sao vậy? Tại sao nỗi buồn cứ phải đi theo sau niềm vui? Tại sao tôi không thể hưởng trọn hai niềm vui đến cùng một lúc? Niềm vui có ba tôi trở về, và niềm vui có cả người lạ ở chung trong nhà? Tại sao chú ấy phải ra đi? Tại sao chú ấy thích cuộc sống lang bạt giang hồ, mà không chịu chọn nơi này làm quê hương?



CHƯƠNG CUỐI CÙNG


Chuyện về người lạ của tôi chấm dứt tại đó. Chỉ một thời gian sau, tôi quên bẵng luôn chú ấy, không còn nhớ đến người bạn lớn đã giúp tôi hiểu thấu ba điều quan trọng trong cuộc sống. Điều thứ nhất: Sống chân thật và lương thiện sẽ luôn gặp nhiều may mắn. Điều thứ hai: Giá trị của một con người nằm trong sự suy nghĩ của họ. Điều thứ ba: Khi thấy sự bất công, phải đấu tranh cho đến cùng.

Người lạ thì tôi quên, nhưng ba bài học đáng nhớ trên thì tôi luôn khắc ghi vào trong tâm khảm, mang nó theo bên mình, và làm hành trang để bước vào đời.

Noi theo gương học tập của anh Võ Công Toản – con trai ông giám đốc, sau khi tốt nghiệp cấp III, tôi thi vào trường đại học Bách Khoa, thành phố Hồ Chí Minh, và đậu vào khoa xây dựng. Năm năm sau, tôi trở thành một kỹ sư xây dựng trẻ tuổi năng động, được tham gia thực hiện rất nhiều công trình lớn để chào mừng thiên niên kỷ mới của đất nước.

Mười năm sau, ở tuổi ba mươi tư, tôi được một công ty tư nhân ở Áo mời sang học tập và hợp tác làm việc với họ trong thời hạn năm năm. Tôi nhận lời mời của họ không chút đắn đo, nghĩ rằng đây là một cơ hội hiếm có để mình nâng cao kiến thức lẫn tay nghề – mặc dù phải để vợ con ở lại Việt Nam.

Hai tháng trước ngày hết hạn hợp đồng, một hung tin đến với tôi như sét đánh qua ống nghe điện thoại: Ba tôi qua đời sau một cơn bệnh xoàng. Hiểu rõ hoàn cảnh tang gia bối rối của tôi, công ty Áo linh động chấm dứt hợp đồng sớm thời hạn, và thưởng thêm cho tôi một số tiền khá lớn để chia tay.

Vì mắc kẹt nhiều thủ tục hành chính rắc rối và linh tinh, khi tôi về đến sân bay Tân Sơn Nhất thì ba tôi đã được mang đi chôn ở nghĩa trang rồi. Vợ con tôi mừng mừng tủi tủi đón tôi cùng với chiếc xe Mercedes mười lăm chỗ ngồi. Người tài xế tấp xe vào trước cổng nhà, đủ thời gian để tôi quăng đại mớ hành lý trong phòng khách rồi sau đó chúng tôi đi thẳng về quê thăm mộ ba tôi.

Hôm đó, bên trong nghĩa trang tương đối vắng vẻ, chỉ có má tôi, gia đình tôi và thêm vài người khách vãng lai. Vợ tôi đi trước cầm bó nhang to, còn tôi đi sau cầm bó hoa lay-dơn màu trắng muốt. Thốt nhiên tôi bước đi thật chậm, đảo mắt quan sát bốn chung quanh, vì có thể nói, đây là lần đầu tiên tôi có mặt tại đây. Mọi kỷ niệm của tuổi thơ ấu chợt ùa về. Thằng Sơn, tổ trưởng của tôi. Con nhỏ Hạnh, lớp trưởng. Mối tình đơn phương thuở học trò. Và bịch nhãn phơi khô của một buổi sáng Ba năm đó.

Đi ngang từng ngôi mộ, tôi đều liếc mắt nhìn. Trên mỗi tấm mộ bia đều có dán một tấm hình của người quá cố. Có tấm ố vàng theo thời gian. Có tấm còn mới tinh, nước rửa ảnh hãy còn bóng loáng. Ánh mắt của người nào cũng nhìn thẳng vào tôi như muốn nhắn nhủ tôi một điều gì đó mà họ không thể nói ra thành lời. Bất chợt một bức chân dung quen quen đập thẳng vào ký ức tôi khiến tôi giật mình. Và tôi vội vàng quay bước trở lại ngôi mộ đó để nhìn cho rõ.

Trước mặt tôi là một hình ảnh thật quen thuộc của một người đàn ông trẻ đang ở độ tuổi ba mươi. Trong tấm hình, người ấy mặc chiếc áo sơ mi ngắn tay đã ngả sang màu cháo lòng, và một phần của chiếc quần kaki đen bạc màu. Nụ cười nở nhẹ của người ấy thật trìu mến. Còn ánh mắt ấm áp chân tình kia? Làm sao tôi có thể quên ánh mắt nhìn thẳng vào tôi cùng với lời dặn dò: “Lê Anh, cháu hãy cho mọi người biết rằng giá trị của cháu nằm trong sự suy nghĩ của cháu ”.

Trời ơi, đây chính là người lạ của tôi! Đây chính là ngôi mộ của chú ấy! Chú ấy đã mất rồi sao? Chú ấy mất hồi nào? Chú ấy bị bệnh gì vậy?

Hai bàn tay run rẩy, tôi khom người xuống và đọc kỹ những dòng chữ màu đỏ khắc trên tấm bia đá.

ĐỜI ĐỜI TIẾC THƯƠNG:
Ông NGUYỄN VĂN TRƯỜNG
tức nhà văn TRƯỜNG GIANG
sinh năm 1946, mất năm 1996
hưởng dương 50 tuổi
Vợ hiền và con gái nhỏ Thiên Hòa lập mộ bia

Mắt tôi trợn tròn. Miệng tôi há hốc. Trời ơi. Chú ấy sinh năm 1946, mất năm 1996. Và rồi bó hoa lay-dơn trắng muốt trên tay tôi rớt bịch xuống đất từ lúc nào không biết...







(Kính tặng anh Từ Vũ)






© tác giả giữ bản quyền.

.tải đăng theo nguyên bản của tác giả ngày 06.05.2008.