
- Có ai là người Thanh Hóa không? - Tôi hỏi chõ vào đám đông xem có ai là "đồng hương" không. Thời chiến, đi đến đâu gặp được đồng hương là vui sướng còn hơn được bữa "ăn tươi" sau nhiều ngày đói khát. Tôi lướt mắt khắp lượt xem có ai reo lên không. Nhưng gặp bộ mặt dửng dưng. Có lẽ do đi đường mệt mỏi. Bây giờ mới được ngả lưng trên võng, nằm khểnh, đếm tiếng kẽo kẹt và giọt nước rơi lộp bộp trên tăng. Tôi bắt gặp cái nguýt dài, sắc lẻm của cặp mắt và dẩu cặp môi, mà có lẽ bình thường thì rất đẹp…
Tại tôi cả đấy, đến trạm giao liên thấy toang hoang, không có cọc để buộc võng và treo tăng, đã quát lên:
- Trạm này chết đâu cả rồi… Cả một lũ ăn hại.
Câu nói chưa buông hết đã gặp một bàn tay nhỏ và rắn cầm lấy tay tôi kéo ra khỏi lán, giọng rất gắt:
- Đồng chí không nhìn thấy hố bom đỏ lòm hay sao mà trách cứ người ta…
Thói quen cáu gắt, có lẽ sau này với những người có tố chất như tôi, đeo đẳng suốt một đời. Tôi mới vừa tự nhủ: Kiềm chế… Kiềm chế vậy mà đã quên ngay. Trông mặt anh lúc đó đáng ghét là… Ai thèm nhận "đồng hương" với cái mặt càu cạu, gắt gỏng như ớt bột ấy? Cúc nói với tôi. Quê em ở Sầm Sơn vài bước chân là đến hòn Trống Mái. Đặt tên là Cúc vì có loài cúc biển đẹp lắm. Nhìn một lần là nhớ mãi đấy… Cúc cười cái miệng thật xinh. Người ta đi biển, nên ăn sóng nói gió để át đi sự dậm dọa của sóng biển, chứ lên bờ thì dịu dàng, tay mát lành như biển. Tôi nghe mà tin thôi. Bàn tay cầm tay tôi mới rắn, ráp làm sao. Do phải cầm cuốc và dao mà chai mất cả đấy. Chứ được thảnh thơi thì thon búp măng chứ không tù tù, thô như quả chuối mắn của tay anh đâu.
Nhà Cúc ở ngay lưỡi cát sát biển. Bên rặng phi lao trên sườn núi Trường Lệ. Bom đạn giặc Mỹ mà vẫn mọc cơ man nào hoa cúc biển. Tụi học trò vẫn rủ nhau đi hái, cài lên tóc đẹp lắm. Cúc bảo Cúc và bọn bạn ngây thơ lắm, nghe người già kể chuyện Thần Độc Cước đánh nhau với quỷ dữ, đánh ở ngoài biển và đất liền đã xẻ ra làm đôi. Đêm đến hai thân ông lại nhập về bên núi Trường Lệ… Đó là bóng dáng của một nàng tiên nữ, khóc than muốn đem thuốc tiên chắp lại cho chàng trai phi phàm sống lại. Sau này tôi còn nghe nhiều người kể về ông Cước đánh nhau với Bà Triều để thi tài nhất nhì ở vùng biển. Bà Triều có tài hơn nên làm chị. Tôi từng ngồi lặng đi mà chờ em, ước gì tìm kho vàng dưới đáy biển, để tôi và Cúc làm căn nhà tuyệt đẹp bên núi Trường Lệ, hay dưới chân hòn Trống Mái cũng được… Tôi bị hoang tưởng thế thôi. Câu chuyện mà Cúc kể, làm tôi nôn nao tan biến mọi bực dọc, hành quân phồng rộp cả đôi chân.
Cúc cời trong bếp than đỏ rực "ưu tiên" cho tôi củ sắn vùi. Mùi thơm làm ấm lòng trong đêm giá rét Trường Sơn. Tôi hứa hẹn cũng có thể cái dạ dày réo sôi, bảo tôi nói với Cúc: Nhất định rồi… Có dịp là anh sẽ xuống Sầm Sơn quê em… Và cần gì, hòa bình ta sống ở biển càng thỏa thích chứ sao?
*
Tôi đã đọc, lâu rồi câu chuyện của một nhà văn viết về một cô gái quý tộc, con nhà giàu mỗi lần đi nghỉ hè đến Sầm Sơn đều cần có người khỏe mạnh chèo thuyền. Nàng mới chọn một tay khỏe mạnh con làng chài lưới để làm việc nặng nhọc ấy. Năm nào cũng vậy, về đến Sầm Sơn là nàng lại nhớ đến chàng ngư phủ cục mịch và khỏe mạnh. Lại nhờ chàng trai chở thuyền đi lướt trên biển cả. Áo quần mỏng tang của nàng bị nước biển liếm làm phô bày ra sự ngọt ngào của làn da trinh nữ. Chàng ngư phủ không dám nhìn. Bộ mặt đồng cua dấu đi cái nóng hực từ trái tim bốc cháy. Họ cứ sống tự nhiên như thế cho hết kỳ nghỉ hè của nàng sinh viên, con nhà giàu. Thật ra thì chàng trai chài lưới nào biết chữ nghĩa gì để chuyện trò. Hai bắp tay căng trần giữ cho con thuyền không bị lật úp dưới con sóng dữ lao tới. Nhiều con sóng man dại suýt dở trò làm lật thuyền, nàng hết hồn phẩm ôm lấy bờ ngực căng phồng như hòn núi của chàng. Chàng ngư phủ cảm được hương trời tỏa ra từ người con gái, mà những câu chuyện thần tiên ở Sầm Sơn được nghe kể từ thuở nào. Chàng không biết được đâu là thực đâu là mơ… Cái đêm ngồi bên bếp lửa đỏ hực ấy, cái lạnh buốt của rừng khuya tôi đã kể cho "đồng hương" nghe câu chuyện chắp vá ấy. Tôi nói liều, sau này thì cô nàng sinh viên kia đi lấy chồng ở đâu bên Tây bên Tàu, chàng ngư phủ chờ đợi, chờ đợi đến mỏi mòn. Vì tưởng là người con gái ấy yêu mình, không yêu sao hàng năm về Sầm Sơn lại tìm đến chàng. Chàng ngư phủ nhớ đến phát ốm, thuốc thang không sao chữa khỏi. Người ta thương đem chôn ở nơi chàng vẫn ôm eo đưa nàng lên thuyền. Một mùa lại hè lại về cô nàng từ trời Âu trở về. Lại về Sầm Sơn để hưởng tuần trăng mật. Nàng mới sực nhớ đến người trai có bắp tay cuộn sóng, tóc có mùi khét, hơi thở có vị biển… Đi tìm nhờ chở thuyền. Người dân chài lưới nói, chàng đã chết nấm mồ nằm ở đó. Nàng quỳ khóc trước nấm mồ. Lạ thay người dân Sầm Sơn sáng dậy thấy hai hòn cuội mọc lên, chồng lên nhau, đó là hòn Trống Mái…
Cúc bảo tôi bịa chuyện. Làm gì có chuyện tình yêu sâu đậm tới mức ấy. Tôi là dân sơn cước biết chi về biển cả. Mùa sau em ra Bắc đi học, nếu có dịp xuống Sầm Sơn, Cúc đưa lên xem đền thờ thần Độc Cước và xem vợ chồng Trống Mái. Và hái hoa cúc biển đẹp lắm. Tôi cam đoan là mình nghe được hơi thở của Cúc mằn mặn có mùi vị của biển cả và hoa nữa.
*
Chiến tranh, nhiều điều dù có muốn cũng chẳng được. Nhưng tôi cho là mình gặp may khi được ra Bắc để học tập. Điều ấy có nghĩa là, trong vô số người lính tôi đã được đặt vào một vị trí, được cất nhắc. Mà vào chiến tranh ai chả có mơ ước, dù là bé nhỏ. Nhưng còn một điều nữa, là tâm trạng lưu luyến. Bóng dáng của người thôn nữ, một đêm nào anh hành quân qua, một đêm thôi, ngày mai lên đường. Ai mách bảo mà O thôn nữ, thẹn thò bên rặng duối bên đường. Tâm trạng vui, nên tôi mới qua trạm của Cúc, may ra gặp được "cô gái Sầm Sơn" của tôi. Nhưng tôi hoàn toàn thất vọng. Trưởng trạm là một người khác, có nước da vàng, có lẽ do sốt rét nhiều. Cô không buồn cả bắt tay tôi, hỏi xem là thế nào với Cúc. Cô mà hỏi tôi cứ nói quá là người yêu của Cúc thì đã sao? Thất vọng tôi bỏ đi, đi để vượt trạm, cho chóng ra Bắc, tranh thủ qua nhà mấy ngày, ít ra tôi còn được học tập ngoài Bắc non năm nữa cơ mà. Tôi nghe tiếng có ai gọi với:
- Anh gì ơi! Đứng lại!- Tiếng nói có vẻ gắt. Quay lại thì vẫn cô gái mặt ủng vàng lúc nãy, có lẽ ruồi đậu cũng không muốn xua.
- Gì thế? - Vì không thiện cảm nên tôi xẵng giọng.
- Chị Cúc để lại lá thư… Nếu không phải của anh thì trả lại cho người chủ để người ta nhận!
Tôi cầm lấy lá thư. Tôi muốn ôm chầm lấy khuôn mặt vàng vọt kia mà cảm ơn, mà thơm vì tấm lòng chan chứa tình người. Có thể là như thế thật, tôi không hiểu được lòng tốt của con người. Tôi thật là đoảng quá. Mãi khi cô gái đỏ bừng đôi má dứt tay ra nói:
- Đi mạnh khỏe nhé! Cho em gửi lời thăm chị Cúc… Nói là cái Thơ nhớ!
Tôi ủ ấm lá thư của em trong ngực. Đi suốt ngày đêm để về quê, may ra gặp được Cúc. Thật ra tôi chỉ tưởng tượng, chứ lá thư của Cúc viết để lại đây từ một năm rồi.
*
Đi nhờ xe chở thương binh theo đường chiến lược số 15, ròng rã gần nửa tháng cũng về tới quê nhà. Nói là về đến quê nhưng còn cuốc bộ gần hai chục cây số mới về đến nhà. Mẹ tôi mừng lắm. Thấy tôi về còn chân ướt chân ráo, mẹ bảo: Dịp này nếu được về lâu, ưng đám nào mẹ đi hỏi cho, cưới luôn là tiện nhất. Tôi nói với mẹ, con còn phải đi, chuyện vợ con không thể lo kịp. Với lại, con có đám rồi. Cô gái ở tận Sầm Sơn kia. Nghe nói thế mẹ thở dài. Ở đó tàu bay, tàu bò đánh suốt ngày đêm. Nguy hiểm lắm. Sao con liều thế. Tôi nói, cô ấy cũng vào mặt trận, chúng con quen nhau ở trong Nam kia. Làm sao để mẹ xuống đó mà nói với nhà người ta, kiếm cơi trầu ra mắt chứ? Tôi nói, có lẽ mai con xuống đó xem. Cô ấy về cũng nên. Tôi nói liều. Lá thư này viết từ năm ngoái kia. Biết là Cúc ở chân trời góc biển nào mà tìm. Nhưng mà tôi hy vọng. Một năm, chắc là em đã học xong rồi. Chắc là em cũng về qua nhà để vào tuyến lửa. Không thế thì làm sao trái tim tôi lại đập rộn ràng thế này?
Mẹ rất thương tôi, nhưng cũng kịp thổi một nồi cơm nếp, gói cho một gói vào chiếc mo treo ở gác bếp, có lẽ mẹ đã phơi và treo lên đó từ lâu, chờ có dịp con về là đem ra dùng. Mâm cỗ bày cho tôi gặp họ hàng để lại, ai đến thì mẹ tiếp hộ. Tôi cuốc bộ từ nhà xuống Sầm Sơn. Thời chiến, đường xá lầy lội và đầy ổ gà. Máy bay ngày đêm chà xát trên đầu. Gặp mục tiêu, xe cộ, trâu bò là chúng xà xuống bắn phá. Tôi phải men theo con sông Đào mà xuống thị xã Thanh Hóa. Xuống tới thị xã cũng tàn một ngày. Lại từ thị xã đi ngót hai chục cây số mới xuống tới Sầm Sơn. Những năm tháng này, không chỉ máy bay mà tàu chiến thi nhau nã đại bác vào bờ biển. Ngăn chặn con đường tiếp tế trên biển của ta vào Nam. Đôi giày cao cổ, do không đi quen đường bằng làm trầy sớt cả da. Cởi giày ra đeo tùng teng trên lưng cùng với cái bòng có mo cơm nếp, tôi cuốc bộ. Bụng bảo dạ, để cơm nếp lúc gặp đền cho Cúc phải nhường phần sắn vùi đêm nao. Gần đến nơi thấy lòng dạ bồn chồn. Tôi liều quá đấy, lỡ mà không gặp em thì sao nhỉ? Trời tối, tiếng xe xích kéo pháo phủ bạt đang nối đuôi nhau tranh thủ lúc nhập nhoạng, tranh tối tranh sáng kéo ra trận địa ven biển.
Sầm Sơn lúc này như một đống đổ nát. Đường sá lầy lội, nhà cửa, hàng hiệu vỡ vụn ra, khói bom lẩn quất ở những ngọn dừa phả ra mùi khét lẹt. Tôi hỏi một nữ tự vệ có đeo băng đỏ:
- Đồng chí ơi! Hòn Trống Mái ở đâu?
- Sao? - Cô ta nhìn tôi với ánh mắt soi mói. Không nói gì. Tôi kịp xỏ vào đôi giày ống, đôi giày chiến lợi phẩm mà thằng bạn cho để ra ngoài Bắc mà diện. Và cả chiếc mũ tai bèo này nữa, mới lôi ra từ kho quân nhu…
- Hòn Trống Mái?…Tại sao lại hỏi trong lúc này? - Cô ta hỏi lại tôi giọng nghi hoặc.
- Tôi có cuộc hẹn ở đó!- Tôi nói, rồi lại lo. Không hiểu cô tự vệ này có nghi ngờ tôi là kẻ gian không. Biệt kích, hay gián điệp chẳng hạn.
- Đi đến ngã tư có cửa hàng mậu dịch rồi tẻ phải… Gặp một ngã tư thì tẻ trái… May quá, tôi không bị cô ta nghi ngờ. Tôi vội vàng cám ơn và lập cập cố gắng lấy dáng hùng dũng đi theo lối cô ấy chỉ. Đi mà lòng không khỏi hồi hộp, không biết em có về không. Em mà không về tôi làm sao chịu nổi qua đêm nay. Mà phía biển đông lại nhập nhòe pháo sáng. Ánh chớp của pháo nổi lên nhì nhằng. Liệu tôi có về lại quê và ra trường nhập học không, một nỗi lo bề bề, thật khó nói.
*
Tôi leo lên hồn Trống Mái, thật vất vả, vì chiến tranh không ai ngó ngàng tới, cỏ dại và lau lách um tùm. Tôi chưa hề đến Sầm Sơn một lần, nhưng cũng không khó khăn gì mới nhận ra, hai hòn cuội khổng lồ ấp ủ nhau thật trìu mến. Tôi đã được nhìn ở đâu rồi nhỉ. Phải rồi tấm ảnh em cho tôi xem, bé tí, một cô bé quàng khăn đỏ như hạt đỗ dát vào hai hòn đá này…
Tôi đang phân vân, biết hỏi ai trong lúc này. Một bóng đèn cũng không bói ra, hầu như dân ở đây đã đi sơ tán cả rồi… Bom đạn bất cứ lúc nào cũng nã vào xóm chài này. Biệt kích nữa, có thể từ khu trục hạm mà bò vào, bắt dân đi lắm chứ.
Tôi phát hoảng lên vì từng luồng đạn chiếu sáng phát ra ở đầu nòng những khẩu pháo cao xạ. Rồi tiếp đó là tiếng pháo mặt đất bật lên sáng lóe. Ở mí nước ngoài khơi sáng rực lên giật giật liên hồi. Những trận đối pháo ở chiến trường thì tôi đã chứng kiến. Hai tai cứ giật liên hồi, nhưng không hề nhìn thấy ánh sáng. Còn ở mặt biển trống hơ này, cả biển trời như một tấm gương, lồng lộng . Những đường kẻ của đạn vạch đường của pháo cao xạ, chiếu ra biển xa để pháo mặt đất chọn tiêu cự nã vào tàu giặc. Trên trời, bật mở pháo sáng. Tiếng động của AD6 và bom… Tôi giật mình, vì tiếng quát, một giọng rắn và gắt, hỏi:
- Ai mà đứng đây trong lúc này?
- Tôi! - Tôi nghe giọng nói run run của mình.
- Có phải biệt kích không?- Giơ tay lên!
Bom nổ ập xuống rất gần. Tại sao lại có người ập vào tôi kéo lăn từ trên hòn Trống Mái xuống. Lòng ngực áp rất chặt làm tôi nghẹt thở. Tôi kịp nhận ra, tôi được cứu thoát, nếu không viên đạn pháo kích đã ập vào đúng chỗ tôi đứng ngơ ngác, tìm Cúc…
*
Cô tự vệ báo có gián điệp ra lối hòn Trống Mái. Cô nói, rõ ràng là đôi giày ống của Mỹ, cô thấy chỉ bọn giặc lái mới có loại giày này… Giọng nói không tự nhiên, không phải giọng nói của người vùng này… Nhờ sự nghi ngờ, tinh thần cảnh giác của cô mà tôi được cứu thoát. Cúc nghe được lời báo cáo ấy, khi đang vơ vẩn dạo bước lên hòn Trống Mái, muốn nhìn một lần hòn Trống Mái để ngày mai lên đường. Cúc không tin là có thể gặp được tôi. Viết thư để lại trạm cũng chỉ là hú họa, một năm trời rồi chứ ít gì.
Cúc đã nhìn thấy bóng người trèo lên hòn Trống Mái. Không thể tin vào mắt mình nữa, người ấy là tôi - "Đồng hương" đáng ghét của em. Cúc kịp đẩy tôi lăn xuống khi ánh chớp lòe từ phía biển. Tôi được mọi người kéo vào một gian nhà lá lụp sụp. Vẫn cô tự vệ đeo băng đỏ, nói với người chỉ huy:
- Đấy ! Anh ta hỏi thăm ra hòn Trống Mái…
Tai bị ù đặc. Tôi chỉ nghe môi Cúc và mấy người kia mấp máy. Có lẽ họ trao đổi về tôi. Nhưng khi Cúc nói thì tôi lại nghe được. Tôi đưa giấy tờ cho Cúc. Tôi bắt gặp mắt em rân rấn…
Đêm ấy chúng tôi ngồi bên nhau. Hòn Trống Mái. Cũng là đêm cuối cùng tôi và Cúc gặp nhau. Em vào chiến trường và đi mãi, biền biệt không trở về.
Sau một năm bổ túc, tôi thành một sĩ quan trẻ tìm lại trạm giao liên, chỉ là những hố bom, không biết giờ trạm đó ở đâu.
Hòa bình, tôi trở lại Sầm Sơn. Tôi hỏi thăm về Cúc và gia đình em. Tin Cúc hy sinh ở chiến trường từ trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Hòn Trống Mai vẫn đứng đó. Như của riêng tôi, Cúc bảo mùa hè nào, em cũng lên trên đó, đón gió biển và nhìn cha đi khơi trở về… Đó là mùa hoa cúc nở vàng cả sườn núi Trường Lệ…
Vi xuân, 3/2007
© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản tác giả gởi ngày 04.05.2008.
|