Tôi theo anh Phạm vào gian nhà hình chữ nhật. Hai bên các cánh cửa mút khép kín. Anh vặn núm đẩy cánh cửa thứ ba, bên trái. Căn phòng nầy nhỏ, vuông. Có một cái bàn, sáu cái ghế dựa. Trong phòng bốn người đang ngồi. Hai người đàn ông, tôi gặp sáng nay tại quán bia Hồng. Hai cô gái trẻ tôi chưa quen. Tám nụ cười, mười hai ánh mắt trao đổi, thay lời chào. Cánh cửa lại hé, người đàn bà ló đầu vào, có lẽ là chủ quán. Chủ quán tuổi trên ba mươi có hai lưỡng quyền cao và đường lông mày kẻ chì nâu đậm. Bà ta cười đon đả, vành môi lật cong phô hàm răng to, thô, trắng ởn:

- Cho gọi hai em nha?

Anh Phạm không nhìn lui, gật đầu, giới thiệu:

- Nhà nhiếp ảnh nổi tiếng.

Hai cô gái vào trước đó, một cô nhìn khuôn mặt khắc khổ và chiếc áo lính tôi mặc với ánh mắt hờ hững, không ngạc nhiên, nhưng dò xét. Người đàn bà lại trở và hai cô gái lạ bước vào, mỗi cô xách một xâu bia lon. Người đàn bà với tay đặt hai cốc thuỷ tinh xuống bàn:

- Cần thêm hai ghế không?

Trong bàn một người lên tiếng:

- Thôi, ngồi chung cho tình cảm.

Bốn cô gái gỡ hết mười hai lon bia "bựt, bựt… xì…" châm thêm vào bốn cốc, đã đầy sủi bọt. Tám người uống chung bốn ly. Cô bé của tôi. Ngồi bên tôi. Người mập, tròn, má phơn phớt màu son tím vẫn không che hết làn da non tơ. Tôi không dám choàng tay qua vai cô vì cô bé quá, chừng hai hai, hai ba tuổi là cùng. Hơn nữa tôi ngượng. Tôi hỏi tên, cô gái thì thầm: "Thiện Trợ". Lần đầu tiên tôi đến đây, hay ít lắm cũng gần hai mươi năm tôi gặp lại không khí này. Tôi ngại sẽ gây khó chịu cho những người trong phòng. Còn ôm cô thì tôi không dám. Tôi ghé miệng vào tai cô nói nhỏ:

- Xin lỗi, tôi không quen. Cô ra nhé. Có xúc phạm gì không?

Nụ cười trên môi cô gái nhạt dần rồi gượng gạo. Đôi mắt thăm thẳm hơn. Cô nghĩ gì về lời đề nghị của tôi nhỉ? Hồi lâu cô gái trả lời tôi với giọng bình thản pha cửa chỉ ngang tàng.

- Không sao, thường thôi, có gì đâu.

Sau đó, tôi nghe anh Phạm trả cho tôi lần tôi mân mê mấy sợi lông tơ trên tay cô gái ấy là hai mươi ngàn đồng. Nghe cô không chịu nhận. Anh cứ dúi vào xách tay của cô. Tôi tiếc tiền hùi hụi.

Anh Phù Sa thấy tôi cứ vuốt tay cô gái, anh cười ha hả… chừng thông cảm cho tôi. Anh khoác tay như vừa phủ nhận vừa bảo vệ:

- Trước kia tôi học ở Huế. Sống ở đó hơn chục năm. Anh còn nguyên si Huế, cũng hay!

- Tôi chưa quen, chứ chẳng hay ho gì. Không hợp với lối sống hiện sinh.

Mặt anh Phù Sa hừng lên kiêu ngạo. Nhìn tôi thoáng diễu cợt:

- Anh hiểu gì về hiện sinh?

- Nôm na là sống thực dụng, thụ hưởng.

- Anh chẳng hiều gì về hiện sinh cả. Đời chỉ là cuộc chơi. Không có gì là ghê gớm. tụi này từng đỏ, từng đen. Chỉ là cuộc chơi trong cõi phù du này thôi anh à. Bây giờ có gì là hiện sinh mà trung tính, anh hiểu trung tính không?

Tôi cười trừ. Thành thật mà nói tôi mập mờ "thuyết tương đối" , chưa có khái niệm trung tính. Anh Phù Sa cười ha hả, còn anh Thượng lặng im một cách lõi đời. anh đang bận uống bia và hôn say sưa cô gái của anh. Anh Phạm nháy mắt cho tôi đừng bốc lên mà tranh cãi với hai bạn của anh. Anh giới thiệu thêm về tôi, khi cô gái của anh đang ngả ngớn trong vòng tay của anh.

- Bạn mình ở Sài Gòn một năm thôi, nó sẽ mất dạy hơn những thằng đang mất dạy. Nó man man, bốn mươi mà ngơ ngơ như hai mươi tuổi, kể ra nó còn giữ được chút gì trong sáng trong cái bản mặt ngơ ngáo ấy. Tui mày đừng chấp. Uống đi! Không thơ văn, triết học. Đồ dỏm! Mình uống hết ba căn nhà trên cái đất Sài Gòn này. Mình rất thương nó nhưng cũng có lúc khó chịu vì nó. Anh bỗng trầm ngâm rồi hát một đoạn thơ:

"Ở Sài Gòn thèm đọc một bài thơ
Thèm nắng mới sau mưa dầm lầy lội
Ở Sài Gòn anh nửa đời chờ đợi…"

Anh Phạm nhấp ngụm bia, định nói tiếp, nhưng thôi. Đi đâu anh cũng giới thiệu tôi là "bạn của mình". Tôi ngượng lắm. Anh bốn mươi tám tuổi, từng trải, dáng vẻ đẹp. Mái tóc anh đã muối tiêu, vẫn để dài phóng đãng và vầng trán đỉnh đạt kia, ngún trong lòng tôi một tình cảm nồng nàn. Anh hát thơ giọng trầm sâu. Tự dưng tôi rơm rớm nước mắt. Cô gái ngồi bên tôi khẽ khàng rút tay cô ra khỏi tay tôi:

- Em ra nha.

Tôi ngồi một mình với ly bia sánh bọt vàng. Biết các anh không thèm trọng, thèm khinh việc tôi không chịu ôm cô gái. Tiếng hát vang lên trong tay anh Phù Sa: "Một làn khói trắng, ru hồn vào quên lãng…" Cô nhìn như muốn hớp hồn tôi, nhưng trong lòng tôi trỗi nỗi buồn xưa. Tôi xin phép ra về:

- Em về trước, chiều gặp anh Phạm ở báo.

Có ai đó bảo:

- Hôn vợ mình một cái rồi đi.

Tôi chọn cô gái ngồi với anh Phạm, nâng má cô dịu dàng trân trọng, hôn giữa vầng trán sang cao cao của cô. Ra đường, hương tóc cô gái ngồi bên tôi còn vương…

Tôi đến Sài Gòn có hai việc. Lãnh giải thưởng ảnh nghệ thuật và tìm người vợ cũ đã bỏ tôi đi cách đây chín năm. Tôi tìm vợ tôi cho con tôi. Triển lãm ảnh lùi lại. Tìm vợ cũ không ra, công cốc! Tôi lang thang với cái túi rỗng không. Sài Gòn nhộn nhịp, nguy nga, tân kỳ. Sau những căn phòng bọc nhung ấy, tôi không hợp với lối sống xa hoa. Tôi như thằng khờ mang đủ chất quê mùa đi miên man trong hoài niệm. Ngày về cô Nga bạn gái của tôi và anh Phạm đã giúp tôi một ít tiền tàu xe.

***

Trên chuyến tàu ra Trung tôi gặp lại Thiện Trợ. Thật là mừng như bạn cũ gặp lại bạn cũ. Nhanh chóng thân thiết và tự nhiên. Tôi hỏi:

- Cô về đâu, Thiện Trợ?

Cô gái mặc quần gin, áo pun màu tím hoa cà. Mặt cô không son phấn, trông tươi trẻ lại giản dị. cô trả lời tôi với ánh mắt lay láy và nụ cười quyến rũ:

- Mẹ em đau nặng, nhận điện em ra ngay. May đi tàu gặp anh đỡ buồn. Anh làm báo hả? Các anh ấy sau khi báo ra thường đến quán em. A quên, em đi Huế.

- Tôi chỉ cộng tác ảnh với các báo thôi. Cô cũng là người Trung sao?

- Dạ, mẹ em quê ở Lộc Phú. Em sinh ra ở Nha Trang. Ba em, em không biết.

Thiện Trợ cố nói giọng Huế, nghe lơ lớ hai miền cũng vui vui. Tôi quý cô hơn, khi cô bộc bạch chuyện gia đình cho tôi biết. Nhưng tôi vẫn:

- Xin lỗi, tôi hơi tò mò.

- Có chi đâu anh, đôi khi lịch sự quá khó gần anh nhỉ. Bữa đó, trong quán anh Phạm bảo anh ngớ ngẩn, hì…hì…

- Bữa đó biết đồng hương, tôi xin một lần xúc phạm.

- Đây là tàu xe, không phải quán bia, xin anh nhớ lấy. Ở Sài Gòn em nói tiếng Huế, người ta hỏi lại mãi. Tiếng Nam em nói dễ hơn.

- Thiện Trợ à, đến Huế, chừng một, hai giờ sáng. Đằng nào cũng phải ở lại ga một đêm, chi bằng lên nhà tôi nghỉ tạm. Nhà tôi sau lưng ga một đoạn. Mai tôi đưa cô về thăm mẹ cô, tiện chụp một ít ảnh về nông thôn được không?

- Chị ở nhà ra sao? Anh không sợ đem một cô gái về nhà với lý lịch bất hảo à?

- Tôi tin cô đàng hoàng. Chỉ sợ cô không tin tôi thôi. Tôi không có vợ nhưng có nhiều con. Đến nhà tôi cô biết ngay thôi mà.

- Anh Phạm có kể về anh. Dù không kể em cũng thấy anh chất phác. Anh Phạm quý anh lắm. Ôi đàn ông thời nay, có vợ hẵn hoi, vẫn thích thêm nhiều tình nhân, càng nhí càng yêu. Mấy nhỏ bạn em cũng thích cánh đàn ông trên bốn mươi tuổi. Họ vừa chững chạc, thành danh và ghê gớm. Em cũng vậy, nhưng không dám yêu đâu hi… hi…

- Tôi tò mò một chút nhé. Thiện Trợ có chồng chưa?

Cô gái chua chát trả lời:

- Có rồi không! Nghề này sao lấy được chồng hả anh? Ai chịu nổi vợ mình trong tay người khác. Những ai chịu được lại là kẻ nhu nhược, chẳng đáng đàn ông chút nào, sống ký sinh trên nỗi nhục nhã của vợ. May em chưa có con, một mình thong dong hơn, không ai ràng buộc.

Tôi nhoi nhói trong lòng. Khuôn mặt cô quen quen sao ấy mà sao cô già dặn quá!?

- Anh có vẻ chân thật, nhìn khuôn mặt nhăn nhăn của anh, em nghĩ chắc đời anh đã lăm truân chuyên?

- Cám ơn cô. Tôi không thể dối trá với ai được. Đôi khi thật thà quá háo ra lố bịch. Nhiều khi cũng muốn tập đóng kịch và tập nó dối mà chẳng thành công, tôi ngượng thế nào ấy. Sống quá chân thành, có người cho tôi "Lộng giả thành chân, không thực". Hay họ không chịu nổi một tấm lòng quá chân thành, bộc bạch. Hay họ luôn trang bị bên ngoài họ một lớp trí thức, đạo đức giả. Còn tôi nghèo quá, không có gì để giấu. Tay trắng không thể trắng thêm cô ạ. Tôi chẳng cần đánh đổi cái nghèo của tôi đang gánh chịu. Tôi chỉ muốn tập làm người.

- Em thấy anh cũng dễ gần. Có lẽ ngưòi như anh hơi hiếm và không bình thường thật. Ngày ngày em mãi nghe những lời đãi bôi, riết mất cả niềm tin, hoài nghi cả mình đó anh. Ở anh toát lên sự chân thật, dễ xúc động người khác. Nhưng những người đàn ông biết kềm chế, giữ kín ít nhiều bí mật của đời mình, để người khác tò mò, bận rộn tìm kiếm, nhất là trong tình yêu, thì hấp dẫn hơn. Đời là cuộc chạy đua tìm kiếm, gặp rồi thụ hưởng, rồi tự đánh mất đi. Nghề của em hằng ngày rao bán nhân phẩm. Một thứ play-boy chính hiệu, biết đi dứng, nghĩ suy… biết bao giờ tìm được người yêu mình, trong khi mình đã yêu quá nhiều.

- Cô nên tìm việc khác mà làm. Gia đình khó khăn lắm không?

- Anh tìm giúp em. Ai cũng chỉ hỏi nhưng có thật lòng đâu. Cuộc đời chỉ mua và bán, bán và mua. Vì sự sinh tồn người ta bán cả niềm tin. Huống chi em chỉ bán có nhân phẩm hì… hì…

Đêm trong tàu, cô gái ngủ bềnh bồng trong lòng tôi. Trong giấc ngủ khuôn mặt cô ánh lên thơ dại. Khi cô ngủ, tôi không dám tin cô đã có cuộc sống thiêu thân ở Sài Gòn. Đến ga đã hơn một giờ rưỡi, tôi đưa cô về thẳng nhà tôi nghỉ tạm. Vào nhà, các con tôi đã ngủ say. Chúng nằm ngổn ngang trong chiếc giường rộng. Tôi không bật điện, thắp đèn dầu và xách nước bảo Thiện Trợ ra đằng sau tắm. Tắm xong, cô mặc chiếc áo ngủ ngắn, không vướng bận những ràng buộc thường xuyên, cô càng nhỏ nhoi, hoang dã. Căn phòng tôi ngập mùi hương lạ. Cánh áo ngủ nắgn, kín hở vùng ngực phập phồng. Tôi ngồi ở bàn đối diện, loay hoay mãi với những ý nghĩ tản mạn, dáng dáp của cô làm tôi xao động!

Giọng cô nũng nịu:

- Ngồi làm chi, ngủ với em, mai về thăm mẹ với em không?

Tôi đến ngồi bên cô. Cánh áo ngủ của cô vô tình trễ xuống khi Thiện Trợ ngồi dậy. Nút vải buộc trên vai sút ra, lộ vùng ngực non tơ, như có hào quang xanh ngà dìu dịu. Chợt một bớt son trên bầu vú trái dập vào mắt tôi, khiến tôi dừng lại nỗi nôn nao trong lòng. Tôi buộc dây vải trên vai cho cô gái, trở về bàn với đầu óc quay cuồng, nhớ về một người đàn bà…

Hai mươi năm trước, tôi lưu lạc vào Nam sinh sống. Tuổi hai mươi tôi mang nhiều hoài bão, ước vọng. Thèm tự do và chân lý. Nhưng tôi bị dòng đời cuốn qua bao bến, ngõ đau thương. Tôi gặp toàn những khuôn mặt dối trá, đầy mưu mô, toan tính. Nhưng khuôn mặt ấy núp sau lớp mặt nạ klhác nhau. Chân lý đâu? Hay chỉ có trong kinh sách. Hằng tấn kinh sach in ra chẳng cứu rỗi được nỗi khốn khổ của loài người. Xã hội tôi đang sống không công bằng, thác loạn và phi lý. Khi tôi gần kiệt quệ niềm tin, bởi đã gặp quá nhiều những con người hoang dã lòng nhân hậu. Kẻ nghèo khó thường không có nanh vuốt như tôi càng khốn nạn. Còn kẻ khôn ngoan thường giàu có mà thiếu đức độ. Chân lý đâu? Hay chỉ hạt sương mong manh rồi lịm tắt ở cõi thiên thu. Tôi gặp Phụng đang đốt đời mình trong dời kỷ nữ. Khi tôi vỡ vụn niềm tin, sá gì dư luận! Phụng hơn tôi sáu tuổi, sành sỏi và lão luyện giang hồ. thân thể Phụng đang độ chín tới, sung mãn thời phụ nữ. Phụng cần tôi làm ngưòi chồng hờ khi đã chán ngán ánh đèn màu, ly bia cốc rượu trong những Snach Bar với quân đội viễn chinh Mỹ. Phụng sống buông thả, bất cần đời. Có lúc Phụng đùa rất thô bạo, chặt khúc thân thể của mình:

- Cái mông này năm mươi ngàn đồng, bắp vế hai mươi ngàn đồng (tiền Sài Gòn).

Tôi nhìn bắp vế trắng nhễ nhại của Phụng lòng ngao ngán nhưng cười đồng loã:

- Sâu hơn bắp vế là bao nhiêu?

Phụng xoa tay trên vùng nây trắng mờ nhạt vết nhăn sau lần sinh nở:

- Có khi cho không, biếu không?

Rồi lăn vào tôi cười rúc rích. Chúng tôi đưa nhau vào đam mê, xem đó là một nhu cầu.
Phụng bước chân vào đời kỷ nữ vì lở dại, vì không chịu được nghèo khổ. Hồi con gái Phụng bỏ nhà theo cô bạn gái về Cần Thơ phụ việc cho một tiệm nhậu.Bà chủ quán to nhỏ, kể cả doạ dẫm. Phụng đành bán thân cho ông Ba Tàu với giá hai chỉ vàng và hai bộ xoa Pháp. Ông Ba Tàu đến ba lần mới xong việc. Lần thứ ba ông đem một tấm khăn trắng trải cho Phụng nằm, rồi ông lấy tấm khăn đó cất đi lúc nào Phụng không hay biết. Phụng run lẩy bẩy trong tay ông, mắt nhắm nghiền còn đâu để ý. Phụng có bớt son nơi ngực như Thiện Trợ, có điều vị trí không chính xác như nhau. Dạo ấy tôi ra quê hai tháng. Trở vào nhà trọ Phụng ở trọ. Tôi nâng cánh cửa sau để hù Phụng. Ai ngờ sau bức màn buông lửng, đôi chân trần của Phụng bên một người đàn ông. Tôi không buồn nhưng chán! Nhẹ nhàng đi ra, lang thang ra bãi biển Nha Trang nằm với cát với trời. Suy ngẫm đường về của đời mình. Tôi vĩnh biệt Phụng không một lời từ biệt, không hối tiếc. May, trên đường về tôi tìm được một lối sống có nhân cách hơn.

Thiện Trợ thấy tôi ngồi sững nên cũng ngồi yên châm nối thuốc hút. Cô che miệng ngáp:

- Gần sáng rồi, em chuẩn bị về thôi. Anh quả là kẻ điên.

Tôi nghiêm trang hỏi:

- Mẹ cô có phải tên Phụng, ở nhà tên Thơm phải không? Nơi ngực cũng có cái bớt son như….như…?

Thiện Trợ ngồi thẳng người dậy:

- Sao anh biết?

- Tôi có quen ….quen với Phụng.

Thiện Trợ vội vàng lục trong túi xách lấy ra một cuốn an-bum. Trong cuốn sách có hình tôi và Phụng chụp cách đây hai mươi năm.
Thiện Trợ im lặng ngồi nhìn vùng tời phương Đông sáng dần. Ánh mắt cô thăm thẳm dõi vào khoảng hư không. Bất chợt cô khóc và nói:

- Chú ơi, cháu không vào Sài Gòn nữa.


Đêm nguyệt thực, 4 tháng 6 năm 1993








© tác giả giữ bản quyền.

.tải đăng theo nguyên bản tác giả gởi ngày 25.04.2008.