CHÚ SÁU














Khoảng ba giờ sáng, trời hãy còn yên ắng lắm. Lác đác đâu đây vài tiếng gà gáy vội, lũ nhái bầu mắc nước lạnh cóng kêu kéc… kéc… kéc một lúc rồi cũng im lặng. Tất cả như chờ tiếng lọc cọc… lọc cọc của những chiếc xe bò mới khai trương ngày mới. Chợt:

- Bác Năm, bác Năm ơi… xuống coi ba con sao mà kỳ lắm!

Tiếng nhỏ Thảo con chú Sáu tôi vừa đập cửa vừa gọi trong hốt hoảng. Cha tôi bật dậy, cả nhà dậy theo, vò mái đầu bờm xờm vừa mở cửa vừa hỏi:

- Ba con làm sao?

- Ổng đi nhậu về nằm dưới đất ngoài hiên, má con… kéo lên không nỗi, nãy giờ nghe ổng thở ồ ồ, miệng trào nước bọt. Má con biểu lên nói bác Năm xuống coi sao!?

- Coi cái đầu má con mày! Sao không đưa nó đi bệnh viện?

Cha tôi nói rồi xô cửa cái đùng rồ máy xe đi.

***

Chú Sáu tôi nằm đó thở ôxy, đầu dây truyền vô bình cứ xôi lọc ọc… lọc ọc dù hai mắt chú nhắm nghiền và toàn thân bất động. Bà nội ngồi bên cứ hết xoa tay rồi lại bóp chân cho chú và luôn bảo mấy đứa cháu vây quanh “Xoa cho chú phụ nội đi mấy cháu, chút chú tỉnh lại liền…”

Hai ngày trôi qua, bình ôxy vẫn âm thanh lọc ọc vang đều mà thân thể chú tôi vẫn bất động

Ngày thứ ba bệnh viện nói không cứu được. Ống ôxy rút ra, cơ thể chú tôi lạnh dần, lạnh dần… xác chú đưa lên xe rồi mà nội cứ xoa bóp mãi, cha tôi thở dài:

- Thôi má à, em nó vắn số…

- Nói bậy, chút em mày tỉnh lại liền! Nội nạt cha tôi

***

Chú Sáu tôi hiền và chăm chỉ lắm, dù chú khiếm thính bẫm sinh. Chăm chỉ và tiện tặn nên ai cũng nói vợ chồng chú giàu, nhưng tôi lại thấy khác. Một nếp nhà tranh với hai bộ ván và chiếc bàn tròn ở nhà trước, trong phòng là bồ lúc to to và một cái giường tre chứa “hầm bà lằng” vật dụng. Nhà bếp kiêm nhà kho luôn tối tù mù vì khói, nhưng tất cả chú trét vách đất rất khéo, láng o như được tô bởi bàn tay người thợ xây lành nghề. Mà chú không chừa một cửa sổ! Nhà cứ om om tối và âm ẩm, mỗi lần đến chơi, cha tôi đều chỉ tay lên vách và “ra dấu” những hình vuông, hình chữ nhật: “ Sao mày không chừa cửa sổ, bít rịt như vầy chịu gì nỗi?” “Cửa sổ, anh nói cửa sổ hả? Thôi, ăn trộm dòm vô thấy hết à!?” “Bộ mày có nhiều vàng lắm hay sao mà sợ trộm?” “Cần gì vàng, của mình làm ra là quý rồi, bị trộm tiếc lắm, không chừa cửa sổ đâu”. Những lúc chú Sáu trò chuyện với khách, thím Sáu luôn làm “thông dịch viên” là vậy.

Cha tôi lắc đầu trước lập luận của chú, dù cha biết chú đời tiện tặn chú cũng không dư mấy. Đời người nông dân bán mặt cho đất, bán lưng cho nắng, huống chi còn con cái như trứng gà trứng cút thì dư nỗi gì. Cuộc sống chú Sáu thật vô cùng giản dị, ăn có cá có cua ngoài đồng với những rau bợ, bông súng, kèo nèo, rau dừa, rau chốc… tha hồ mà đổi món. Mặc, ai cho gì mặc nấy, ngày tết nhất, giổ quảy gì chú đến nhà tôi với bột đồ kaki bạc thếch màu thời gian. Xót lòng cha tôi hỏi:

- Sao không kêu vợ sắm cho bộ đồ tốt, có đi đám tiệc với người ta?

- Một năm đi xóm có vài lần, sắm chi cho tốn tiền. Mà người ta quý mình bởi cái tình chứ đâu phải vì bộ đồ mình mặc? Chú trả lời như vậy. Cha tôi phì cười mà mắt đỏ hoe rồi bảo mẹ soạn cho chú vài bộ quần áo coi còn “khá được” của cha.

Mẹ tôi bảo, theo quan niệm xưa, “dâu là con” nên khi ông nội tôi mất vừa mãn tang, ông bà cố tôi cũng gả con dâu (bà nội tôi). Bà nội dù thương mấy đứa con đến đứt gan đứt ruột cũng vâng lời cha mẹ chồng đi “lấy chồng”(?) Anh em cha tôi lớn lên phải đùm bọc nhau để sống vì ông bà cố cũng mất rồi. Cho đến khi cha cưới mẹ, chú Sáu vẫn sống chung, cùng làm thuê, làm mướn cùng vuự«t qua những tháng ngày cơ cực mà chị dâu, em chồng vẫn thân thiết mực thước như chị em ruột.

Ngoại tôi già còn mù lòa nên khi mẹ sinh thằng em trai kế, cha tôi lại nhờ chú Sáu đến trông nhà và trông… tôi, dù chú vừa cưới vợ chưa tròn một tuần lễ. Nhìn chú lấy nhiều cây sắt để chống cửa, tôi cười nắc nẻ, chú nạt: “Cười gì mà cười, chống cho kỹ không thôi “ông kẹ” vô bắt mày đấy!” Chú hù làm tôi sợ chết khiếp dù sau này cha tôi nói chú sợ “ông trộm” chứ không phải “ông kẹ”. Rồi có một dạo việc làm khan hiếm cha và chú Sáu rủ nhau chèo xuồng qua bên kia sông Vàm Cỏ cắt môn về làm dưa bán. Những cọng môn ngọt, môn nuớc mọc hoang đầy hai mé sông, anh em cắt gom đầy xuồng tới tối mịt mới về. Cha tôi nói đi trên sông gian nan và lo sợ lắm, nếu đi trên đường có “sự cố” thì còn sống được, trên sông nước mênh mông mà không bơi giỏi là “theo ông theo bà ngay”! Vậy mà chú Sáu vẫn luôn vững tay chèo, ngày hai buổi qua lại trên sông hàng tháng trời. Những cọng môn xanh mướt, giòn kháu phải chịu chà đạp dưới bàn chân con người rồi mới bị cắt khúc bỏ vô lu, đổ nước cơm vo pha chút muối và để vài ngày sau thành món dưa dân dã rẻ rề. Nhưng cái món “rẻ rề” ấy đã nuôi gia đình tôi hàng tháng trời trong tình anh em của cha và chú Sáu.

Lớn hơn một chút, chị em tôi đã biết “mê” chú Sáu bằng những món đồ chơi mà chỉ ở nông thôn mới làm được. Một lóng trúc, nắm đất sét, một tờ báo cũ… chú cũng làm được bao món đồ chơi như nồi niêu bằng đất, con diều, con voi, con trâu… mà món nào cũng rất xinh đẹp và rất có hồn. Trong nhà tôi, những vật dụng lớn như bàn, ghế, bộ ván, cánh cửa… đến những vật nhỏ như rổ, rế, nong, nia, xống chén… đều do bàn tay khéo léo của chú Sáu làm từ những cây tre cây trúc mà ra. Chú cần mẫn siêng năng như vậy nhưng khi cha tôi nói đến chuyện tiền công thì chú cười xoà:

- Anh em mà tiền bạc gì! Anh cho bao nhiêu cũng được nhưng phải cho tôi một bữa nhậu nghen!

Cả đời chú Sáu tôi việc đáng tiếc nhất có lẽ là nghiện rượu. Và cũng vì uống rượu mà chú ra đi ở tuổi bốn mươi lăm, lứa tuổi chính chắn nhất của người đàn ông với bao công việc còn dang dở.

***

Hôm ấy như mọi ngày, chú đi lưới cá dưới Bến Đổi. Gặp bạn, mồi ngon nên bốn người “cưa” hết ba lít đế, chú được đưa về trong tình trạng “trời đất cũng như nhau”. Thím Sáu đi làm chưa về, chú nằm ngoài hiên ngủ cho đến lúc con gái chú phát hiện tiếng thở lạ. Mười lăm năm sống chung với “đệ tử lưu linh” thím Sáu đã buồn nhiều rồi. Những năm đầu còn dọn dẹp mớ xà bần chồng thải ra sau những trận chè chén ngất trời, rồi hì hụi kéo lên giường, pha nước chanh giải rượu, lau nước ấm… Thím Sáu oải lắm rồi, buồn vì không khuyên được chồng, tủi phận mình hẩm hiu nên những năm sau thím cứ để mặc chú.

Bệnh án chú Sáu tôi được ghi “Ngộ độc rượu”, có người nói “Dư độ cồn trong máu” người lại nói “Nhập thổ”… nhưng dù có bị gì đi nữa thì chú Sáu tôi cũng chết rồi. Nội nhìn quan tài chú bằng ánh mắt vô hồn, thân thể nội bất động cả ngày nay, bà cứ trân trân nhìn vào khoảng không như tìm về từng thước phim dĩ vãng… Chừng người ta liệm chú xong thì vắt lên quan tài hai vành khăn tang trắng: một của mẹ ruột và một của mẹ vợ thì nội tôi vùng dậy:

- Không, không… bỏ khăn phần tôi xuống cho con tôi đi được nhẹ nhàng… hu… hu… con ơi… ! Và nội quỵ xuống cho đến lúc di quan chú bà cũng không hay biết gì.

Nội tôi sống trong cảnh tre già khóc măng non cả năm dài, những lúc nằm mê mê thì thôi, giật mình nội cứ hỏi:

- Thằng Hạnh (tên chú Sáu tôi) có đi lưới cá dưới này không, sao hổng ghé thăm má?

- Má ơi… anh Sáu… chú Út tôi nghẹn lời.

- Chắc mai nó ghé à má, má nghỉ đi. Cha tôi nói dù biết mình đang nói dối một người mẹ rất đáng thương.

- Ừ, chừng nào nó ghé kêu má dậy nghe, má nhớ nó quá. Các cô chú tôi nghẹn ngào theo hai giọt nước mắt rưng rưng trên khoé mi nhăn nheo của nội.

Năm nay là lần giỗ thứ 4 của chú Sáu tôi, nhưng không hiểu sao trong tâm tư tôi chú vẫn sống. Để mỗi khi tiệc tùng với thịt cá ê hề là tôi nhớ lời chú ngày xưa, mỗi khi tới nhà thấy cha mẹ cho chị em tôi ăn uống dư dả thì chú bảo:

- Ăn như vầy không nghèo sao được?

Rồi khi việc làm không có cha tôi thất nghiệp, mấy chị em chỉ có cơm trộn khoai mì thì chú nói:

- Ăn như vầy không bệnh sao được?

- Chứ chú mà biểu ăn làm sao? Cha tôi nổi doá

- Vô rẩy bắt rầy xanh về ăn như tui vậy nè! Rầy xanh béo, bổ lại không tốn tiền.

Chị em tôi lắc đầu le lưỡi còn cha tôi thì phì cười vì “phục sát đất” tính tiết kiệm của chú.

Hoàng hôn đang về, chiều đồng quê thanh khiết quá. Thấp thoáng trong sương những vườn nhãn nặng trĩu trái. Gió mang hương đồng, hương lúa xộc vào mũi tôi mùi thơm nghẹn thở, chú Sáu tôi nằm đây, bình yên và tĩnh lặng. Lâu lắm rồi tôi mới có dịp viếng mộ chú, khói hương bay chậm rãi chờn vờn phả vào mũi tôi mùi thơm nghẹn thở, bất giác tôi nghe mắt mình nhoè nhoẹt… Chú Sáu ơi, một đời người gian nan vất vã rồi cũng chỉ thế này thôi sao?

T.N những ngày nằm viện mơ thấy chú Sáu 9.05
Trại sáng tác Đà Lạt 10.05






© tác giả giữ bản quyền.

.tải đăng theo nguyên bản của tác giả ngày 22.04.2008.