Tranh của cố họa sĩ Tạ Tỵ
































TRẦN THỊ BÔNG GIẤY








"Bút ký NCQC của Trần Thị Bông Giấy đã từng được một NXB tên tuổi ở Tp Hồ Chí Minh đề nghị mua bản quyền in ấn. Dù sự việc không thành nhưng tác giả vẫn giữ nguyên bản đã được NXB này lược duyệt khi cho phép ban biên tập đăng tải trên Newvietart."



TỰA



Từ những ngày tháng mà cuốn bút ký Nước Chảy Qua Cầu chưa có tên gọi và còn là bao mẩu tâm sự, bao suy nghĩ, cảm xúc trùng trùng của kỷ niệm được ghi nhận lại bởi từng mảng thời gian bềnh bồng trôi giạt, tôi đã đắm chìm trong một không khí huyền hoặc, mê say và cảm động qua lời kể của Trần Thị Bông Giấy về đoạn đời năm năm phiêu bạt của nàng trong tư thế một nghệ sĩ vĩ cầm của một đoàn Cải Lương lưu diễn đó đây trên khắp quê hương, từ sau tháng 11/1975.
Tất cả những điều được kể hoàn toàn là chuyện thật, tại sao lại tạo ra được cái không khí huyền hoặc mê đắm đó? Đất nước Việt Nam sau cuộc chiến tranh dài, tình trạng hỗn mang dâu biển bủa lên mọi cảnh đời. Nhưng trong mắt nhìn từ một tâm hồn mong manh mà hùng tráng của người nghệ sĩ, và xuyên qua những hỗn mang dâu biển đó, Trần Thị Bông Giấy đã nhận ra một thứ hạnh phúc thật kỳ dị: “Ly cà-phê sáng ở một thị xã buồn tênh xa lạ như là một miền cuối cùng của trái đất. Những bữa rượu nửa đêm về sáng sau giờ trình diễn với các người bạn nhạc sĩ khác trong đoàn. Bà cụ già bất hạnh bê từng hũ rượu đi bán dạo. Phiên chợ âm hồn bắt đầu họp vào lúc nửa đêm nơi một làng quê Việt Nam. Người bạn cũ gặp lại trong một thị trấn buồn tênh xa lạ. Người đàn ông ngồi uống rượu một mình trong không gian mờ ảo của chiếc quán khuya, bối cảnh thời đại như nhuộm lên thân hình ông sự cô đơn khốc liệt của một kiếm khách trên đường gió bụi...”
Mỗi mẩu chuyện là một viên ngọc đối với Trần Thị Bông Giấy. Gom tất cả những viên ngọc đó lại, Trần Thị Bông Giấy làm thành xâu chuỗi ngọc khác thường cho chính mình. Bởi đó, khởi đi từ những tâm sự được kể, những kỷ niệm nuối tiếc được nâng niu, tôi đã đề nghị Trần Thị Bông Giấy viết lại thành một quyển sách, một quyển bút ký. Biết đâu lại chẳng có người cũng muốn được chia xẻ với tác giả những hình ảnh, những mẩu chuyện tuy rằng đã có sẵn, luôn hằng hằng rải rác trên khắp cùng sông nước Việt Nam, nhưng cho dù đã sinh ra và lớn lên ngay trên quê hương mình, chắc hẳn trong chúng ta mấy ai đã được nghe, được thấy? Nhất là nghe, thấy từ vị trí một người nghệ sĩ phiêu bạt từ sau cuộc biến động lớn của quê hương?
Thời gian trôi đi. Đời người trôi theo dòng thời gian để mà lạc loài đến những không gian cũng biến động trong từng giây từng phút. Tương quan giữa con người với con người, giữa con người với thời gian và không gian thật là chặt chẽ. Đó là sự cùng trôi đi và mất tăm. Như nước chảy qua cầu. Tôi nghĩ, viết quyển bút ký này, Trần Thị Bông Giấy trước hết muốn giữ cho chính nàng, muốn làm không gian và thời gian ngưng đọng lại, để trong không gian và thời gian đó vẫn còn nguyên những người, những cảnh, những chuyện của kỷ niệm hiện tại và của cả một đời. Vì thế, văn chương không phải là mục tiêu khởi đầu của Nước Chảy Qua Cầu, của Trần Thị Bông Giấy. Văn chương chỉ tự nó thành tựu ở lúc tâm sự, kỷ niệm được tác giả viết xuống thành chữ, thành câu, sau khi đã là những chuyện kể. Những chuyện kể bềnh bồng trôi giạt...

Trần Nghi Hoàng
4 giờ sáng ngày 12 tháng 8 năm 1989


XI



Paris.

Có một buổi sáng thức giậy nhìn những hạt sương vỡ trên cửa kính, nhạt nhòa như những giòng nước mắt, tôi chợt nghe nhớ đến quặn thắt tâm tư những buổi sáng ở Dalat năm xưa. Các con dốc mù sương, cái rét ngọt ngào, bến xe đò đối diện Bờ Hồ ồn ào tấp nập, cái quán Domino có mùi café thơm ngát... Tất cả dồn dập trở về trong trí đến ngợp…

Vậy là tôi cứ để mặc cho mình đắm chìm theo những hình ảnh cũ vào một buổi sáng lạnh trời ở Paris.

Trong cuộc sống hiện tại, dĩ vãng là điều mà tôi cố gắng không cho phép mình thường xuyên nghĩ đến. Một trang đời đã được lật qua, không ích gì khi cứ lần giở lại để bỏ quên những trang đời khác đang cần đến đôi tay viết. Tôi nghĩ vậy, nên trước những trang đời của hiện tại, tôi phóng mình không do dự. Tuy nhiên, sao lại có lúc dĩ vãng cứ chờn vờn như những bóng ma làm xao động không ngừng đầu óc?

Tháng 3/1975, tôi vẫn còn đang hiện diện trên con phố núi. Một buổi sáng trong những ngày di tản, tôi đứng cùng một người bạn trên triền dốc Ngọc Lan nhìn xuống bến cả một rừng người đang chen nhau trên các chuyến xe đò, xe hàng rời thành phố. Người bạn hỏi tôi có buồn chăng khi không thể ra đi? Tôi đáp, bây giờ vẫn còn kịp để ra đi, nhưng tôi quyết định ở lại để thử xem cuộc đời mình sẽ ra sao sau một lần luân chuyển nữa của Định Mệnh. Và tôi rút chiếc vé phi cơ về Sàigòn chiều hôm ấy, đưa cho người bạn xem. Xong, tự tay xé đôi tấm vé, lại xé thành từng mảnh vụn, rồi để rơi theo triền dốc. Có thể là bất thường trên một cái nhìn bình thường nào đó. Tôi mỉm cười trước đôi mắt mở to kinh ngạc của người bạn... Và rồi tôi ở lại Dalat thời gian một tháng Cộng Sản chiếm đóng thị xã trước khi toàn thể miền Nam rơi vào tay quân đội Bắc Việt. Một tháng sống giữa vùng đất ngập tràn kỷ niệm tuổi thanh xuân mà tưởng như đang sống trong trạng thái mộng du...

.. .. ..

Buổi sáng ở Paris, đường phố vẫn còn chìm trong yên tĩnh. Hình ảnh những mảnh vụn của chiếc vé phi cơ bay lả tả trên triền dốc Ngọc Lan năm xưa trở về đậm nét trong trí nhớ. Canh bài Định Mệnh cuối tháng 3/1975, tôi đã thua một trận thất điên bát đảo, đến độ đôi tay còn “trắng” hơn thuở trước. Tuy nhiên, trong cái tháng 3 đau buồn ấy, cũng chính là tôi đã “được” rất nhiều khi làm đầy thêm chút nữa kho tàng sống của cuộc đời mình bằng những kinh nghiệm khổ đau.


Giữa tháng 8/1979, hát Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Từ Rạch Giá đổ ngược về hướng Sa Đéc, chúng tôi qua phà Vàm Cống trên giòng Hậu Giang, vượt các vùng Lấp Vò, Đức Thanh rồi dừng bến tại thị xã Sa Đéc thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Tỉnh Đồng Tháp bắc giáp nước Cam Bốt; đông giáp hai tỉnh Long An và Tiền Giang; nam giáp tỉnh Cửu Long; tây giáp hai tỉnh An Giang và Hậu Giang. Sa Đéc là một trong hai thị xã chính của tỉnh Đồng Tháp (tỉnh kia là Cao Lãnh), mang nhiều nét cũ, đất phù sa cát bồi tốt, thuận tiện cho việc trồng trọt. Vì vậy mà đời sống dân chúng dễ dãi thoải mái. Chung quanh thị xã có nhiều vườn cam, bưởi, dừa rậm rạp xanh tươi.

……

Những ngày Sa Đéc, trời gió thật nhiều. Tôi và hai người bạn chơi trống và trompette thường ngồi trước rạp kể cho nhau nghe những mẩu chuyện trong cơn gió rạt rào làm bụi cát bay mù trên thị xã. Những mẩu chuyện cũ càng từ thuở nào quá khứ. Những mẩu chuyện xoay quanh cuộc đổi đời tàn khốc năm xưa.

Có một câu chuyện của anh bạn chơi trompette làm tôi bâng khuâng đặc biệt. Anh gốc người Dalat, theo gia đình di tản về Sàigòn từ cuối tháng 3/1975.

“Về Sàigòn”, anh kể, “gia đình tôi ở tạm nhà bà chị cả cuối đường Võ Di Nguy gần thành Cộng Hòa cũ. Đây là một ngôi biệt thự sát mé đường, có vườn rộng bao quanh. Những ngày đầu còn đỡ, sau, vùng này càng lúc càng mất an ninh, lại có nhiều dấu hiệu cho thấy Việt Cộng sẽ đổ quân ngang đó. Vì vậy, chúng tôi dọn về đường Nguyễn Du, ở nhà một bà chị khác. Ngôi nhà Võ Di Nguy khóa kín cửa bỏ trống tạm trong một thời gian. Tuy vậy, mỗi ngày tôi đều có phận sự trở về dò xem có gì khác lạ.

Trưa ngày 27/4/1975, chạy xe trên đường Võ Di Nguy, tôi thấy nhiều người lính Nhảy Dù bố trí hai bên phố trong tư thế chiến đấu, đàng sau các bức tường thấp. Tại nhà bà chị tôi cũng có một nhóm sáu người Nhảy Dù, dẫn đầu là một Trung úy khoảng 30 tuổi, đang mai phục chung quanh. Tôi mời họ vào nhà uống nước và cùng họ chuyện trò thân mật. Khi trời sắp tối, tôi từ giã, nói thêm rằng nếu họ muốn, tôi sẽ để cửa trống cho họ tùy tiện sử dụng mọi thứ. Tôi hẹn họ sáng hôm sau sẽ trở lại. Họ từ chối lời đề nghị. Một anh lính trẻ nhất và coi bộ vui vẻ nhất trong đám, cười bảo tôi: “Chỉ sợ bọn anh không giữ nổi nhà chú cho đến ngày mai, bọn trộm nó vào cuỗm hết các thứ thì phiền chú lắm!” Rồi họ xin tôi hai chiếc chiếu, bảo rằng để trải ngoài vườn phòng khi muốn ngả lưng.

Trưa hôm sau, 28/4/1975, tôi trở về nhà bà chị như mọi bữa. Sinh hoạt trên các đường phố cơ hồ đang trong cơn sốt. Mọi người ai cũng có vẻ như đang chạy. Đạp xe từ Nguyễn Du qua Võ Di Nguy mà lòng nghe nôn nao ghê gớm. Tôi đợi chờ điều gì đây? Thôi thúc vì lẽ nào đây? Một thoáng, tôi có nghĩ đến các anh lính Nhảy Dù trong vườn nhà chị tôi bữa trước. Nhưng ý nghĩ không rõ rệt tập trung lâu hơn 5 phút trong đầu.

Thế rồi, khi bước qua cái rào gỗ của khu vườn vốn được mở sẵn tự bao giờ, tôi thốt xây xẩm mặt mày vì cái xác của vị Trung úy chỉ huy đang nằm gục ngay giữa lối đi, bộ áo trận lấm lem những máu. Cách đó không xa, rải rác mỗi nơi là một xác chết, đàng sau gốc mít, bên cạnh cái giếng khô, nơi khoảng đất trống ngăn cách với khu vườn nhà hàng xóm. Và ngay sát bức tường của ngôi nhà lớn phía bên trái từ ngoài nhìn vào là xác của một anh Trung sĩ và anh lính vui vẻ bữa trước đang đổ chồng lên nhau.

Tôi cứ đứng như chôn chân tại chỗ, vừa kinh hoàng vừa nghe vô cùng đau xót, trong óc quay cuồng mãi hình ảnh sống động của cả sáu người mới vừa một ngày trước đây còn ngồi bên góc bếp uống nước trà, ăn cơm nguội với tôi.

Tôi nhìn kỹ từng người, đúng hơn là từng mỗi xác chết mà không tin rằng sự việc xẩy ra bi thương và bất ngờ như vậy. Thế rồi hai hàng lệ chảy dài, lần đầu tiên kể từ ngày khôn lớn, tôi mới tìm lại đúng vị mặn của nước mắt thấm trên đầu môi.”

[]


Paris.

Cái ý định đi Mỹ vẫn còn âm ỉ sống. Nhiều đêm chợt thức giấc, nhìn chung quanh căn phòng, tôi thấy lòng thật buồn. Buồn, bởi vì tôi biết rồi sẽ phải từ bỏ tất cả những gì trong hiện tại. Buồn, cũng bởi vì tôi chợt nhận ra sự mệt mỏi trong tâm hồn khi lại một lần nữa “bắt đầu cuộc đời.”

Giống như Anatole France (*) đã viết: “Tất cả những thay đổi trong đời, kể cả những thay đổi mà ta mong ước nhất, cũng đều đem lại nỗi buồn”, thì nỗi buồn của tôi trong những ngày gần đây quả là xác đáng.

Dẫu sao, bốn năm trời với những buổi chiều đứng trên cửa sổ lầu tư nhìn ra bầu trời đầy mây buồn như khóc, những tối khuya từ quán café trở về, co ro đôi vai bước vội dưới làn tuyết bay lả tả, tôi biết mình cũng có yêu Paris. Tình yêu bây giờ không phải như khi vừa lớn nghĩ về một vùng đất xa xôi để vẽ vời mơ ước, mà chính là sự đối diện, lăn xả tận cùng vào đời sống trong vùng đất ấy.

Ít ra, cạnh bên những chán chường của mưu sinh cơm áo, tôi cũng đã có những cảm xúc chân thật mỗi khi thả bộ trên các lối mòn đầy lá trong vườn Luxembourg mà nhớ lại nhân vật Jean Valjean(**) vẫn ám ảnh đầu óc tôi những ngày niên thiếu. Ít ra, trong những lần lang thang giữa các con người xa lạ, tâm tư u hoài lạc lõng, thì ngôi nhà thờ Đức Bà nhìn xuống giòng sông Seine nổi tiếng vẫn cứ làm tim tôi rung động khi nghĩ về cái thuở thiếu thời hoa mộng, tôi đã yêu Paris dường nào!

Giờ đây, tất cả sắp phải bị bỏ lại để biến thành dĩ vãng; giống như đã qua một lần tôi đành đoạn bỏ quê hương mịt mù trong quá khứ xa xăm. Giờ đây sắp phải khởi hành, đi tìm một “quê hương” mới! Canh bài định mệnh lại được bày ra và lần này thì tôi sẽ thua hay thắng? Không thể biết được. Điều biết duy nhất chỉ là nỗi buồn trước một lần thay đổi khác trong đời mà thôi.


Cái Tàu Hạ, cuối tháng 8/1979.

Chúng tôi tiếp tục dời qua Cái Tàu Hạ, một vùng thuộc quận Đức Tôn, cách thị xã Sa Đéc 12km về hướng Vĩnh Long.

Đoàn dựng rạp không phải ngoài phố quận mà lại vào sâu trong một làng nhỏ. Con đường chính dẫn từ ngoài lộ đá vào được trải bằng đất sét, chạy dọc theo giòng sông về phía tay trái. Phía bên phải con đường là những mái nhà tranh san sát mộc mạc với những bụi tre um tùm trước ngõ.

Ngay từ buổi đầu đến đây, tôi đã nghe như có tiếng rì rào quấn quýt thoảng đưa theo hơi gió, vang lên khắp mọi nơi. Dân cư đa số sống bằng nghề đi biển. Những chiếc ghe đậu dọc dài theo bờ sông. Bà chủ nhà tôi trọ kể rằng mỗi lần ra khơi, người ta phải đưa ghe xuống tận Rạch Giá, Cà Mau hàng tháng mới trở về Cái Tàu Hạ.

Từ đêm hát đầu tiên, một trận mưa như trút nước đã đổ xuống khắp làng. Hình như có bão ở xa thổi về qua đây? Trời lạnh và có thật nhiều gió. Trên con đường đất sét trơn trợt, lầy lội, chúng tôi ai nấy mình khoác áo mưa, tay ôm nhạc cụ, hai ống quần xăng lên tới tận đầu gối mà dẫm trong sình suốt từ ngôi nhà trọ cho đến nơi đoàn dựng rạp. Khán giả ngồi co ro trên mặt đất. Tôi chợt mỉm cười nhìn ra bối cảnh chung quanh: Nghệ sĩ và khách thưởng thức đều ”chân lấm tay bùn” như nhau trong một đêm hát mà ban tổ chức cứ phải nhiều lần lên máy vi âm cáo lỗi vì đã để khán giả đợi chờ lâu quá. Người ta cố ý kéo màn trễ, hy vọng nắm níu thêm những vị khách lội mưa đến muộn. Ban Tân Nhạc phải hòa tấu suốt gần một tiếng đồng hồ để giúp cho bao nhiêu nỗi sốt ruột của khán giả tan biến đi.

Đêm hát đầu tiên thất thu nặng nề. Cái giao kèo mua giàn 7 đêm của ban tổ chức quận được rút xuống còn 3.

.. .. ..

Ba ngày lưu lại đây, tôi thường đến ngồi trong một quán lá xơ xài ở ven sông với hai người bạn chơi trompette và chơi trống. Nước sông dâng lên làm ngập cả sàn. Trời lạnh quá! Những cơn gió mạnh lay động các tấm phên tưởng chừng như sắp đổ. Từng chuỗi mưa rơi trắng xóa một màu. Ly cà-phê “xây chừng” và những hơi thuốc lá đen không đủ làm tâm tư ấm lại, nhưng tình bạn ẩn tàng trong ấy mới thật là điều cảm động sâu xa.

Trong tổ Tân Nhạc, tôi thân với hai người bạn này hơn cả. Chúng tôi hiểu hoàn cảnh của nhau, chia cho nhau từng chút vui buồn, san sẻ với nhau từng hớp cà-phê, điếu thuốc lá. Tình thân vốn đã đầy trong các chuyến lưu diễn dài thì lại càng đậm đà hơn trong những hoàn cảnh tang thương “lãnh lương đờ-mi” như ba ngày ở Cái Tàu Hạ. Những mẩu tâm sự được nói lên. Những ước mơ thầm kín được bày tỏ. Ước mơ vượt biên ra đi và ước mơ vào rừng chiến đấu thật đối nghịch trong hai người bạn. Người này chủ trương rủ bỏ. Người kia chủ trương vẫy vùng. Còn tôi, một chứng nhân trước hai tâm hồn, hai ý hướng.

Những câu chuyện thế này, tôi đã được nghe nhiều lần; nhưng rồi ước mơ vẫn chỉ là mơ ước! Cái vòng gia đình, cơm áo thường không dễ đem cho con người sự “tự do đích thật”. Và mọi ý định trong đời cứ vẫn phải bị cản ngăn bởi những điều “tưởng là tầm thường nhưng vô cùng quan thiết kia”.

Thì với hai người bạn tôi, một người vẫn phải bán tiếng kèn mỗi đêm để nuôi mẹ già, và một người vẫn cứ bị cái nợ thê nhi làm chùn chân bước. Còn tôi –vai trò một chứng nhân— trong ba ngày ở Cái Tàu Hạ, vẫn lặng im mỉm cười, ngồi nghe những mẩu tâm sự thầm kín, nhìn mưa rơi mênh mông và xót xa thầm cho cái hoài bão –có lẽ không bao giờ thực hiện được—của cả hai người bạn thân!

[]


Paris.

Daniel và Claudia mời tôi đi dự buổi chiếu ra mắt cuốn phim Félicien Rops--Les Muses sataniques của Thierry Zéno, một nhà làm phim trẻ tuổi người Bỉ, bạn thân của cả nhóm. Câu chuyện nói về cuộc đời và tác phẩm của một danh họa người Bỉ –Félicien Rops-- từ hơn một trăm năm qua (1833-1898). Nét mặt của nhà nghệ sĩ thật là độc đáo. Sự đau khổ pha lẫn điên loạn và cương nghị hằn rõ trong đôi mắt, vầng trán, luôn cả trên những nét cọ mạnh mẽ của ông. “Một phiến tài tình thiên cổ lụy” mà ngay lúc đương thời, những tác phẩm ông tạo ra đã bị tẩy chay, sợ hãi bởi quần chúng thời ấy.

Tinh anh phát tiết ra ngoài
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa!

“Phát tiết”! Tôi yêu từ ngữ này trong hai câu thơ Nguyễn Du, một nỗi phát tiết đau khổ, phát tiết bất hạnh và cũng phát tiết cả bản năng, tài nghệ. Một sự bất thường độc đáo của những kẻ tài hoa, những nhà nghệ sĩ lớn; không phải do từ cố ý tạo nên, mà chính là “phát tiết.”


Hát Vĩnh Long, cuối tháng 8/1979.

Sông Mékong từ Trung Hoa chảy vào nước Việt Nam với hai chi: sông Tiền và sông Hậu, rồi chảy ra biển bằng chín cửa (cửa Tiểu, cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu, Định An, Bassac và Tranh Đề). Vì thế mà gọi là sông Cửu Long (Chín Rồng).

Tỉnh Cửu Long ở giữa đồng bằng sông Cửu Long, bắc giáp tỉnh Tiền Giang; tây và tây-nam giáp tỉnh Hậu Giang; tây-bắc giáp tỉnh Đồng Tháp; đông giáp tỉnh Bến Tre; đông-nam giáp biển Nam Hải.

Thời Pháp thuộc, Vĩnh Long là một trong bốn khu vực hành chánh do Pháp phân chia. Khu vực Vĩnh Long gồm 4 tiểu khu: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Đéc. Năm 1899, tiểu khu được đổi thành tỉnh. Do đó, hai tiểu khu Vĩnh Long và Trà Vinh trở thành hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh. Sau 1975, hai tỉnh này sát nhập làm một, gọi là tỉnh Cửu Long.

.. .. ..

Đoàn hát 5 ngày ở Vĩnh Long, tỉnh lỵ chính của tỉnh Cửu Long dựng lên bên bờ hữu sông Tiền. Trong phố có vài đền thờ cũ: đền Thiên Hậu và đền thờ Tống Phúc Hợp, một vị danh thần dưới thời Nguyễn sơ.

.. .. ..

Ngôi nhà tôi và Hạnh lưu lại là của một thiếu phụ còn rất trẻ, có chồng đi nghĩa vụ quân sự chết trong một trận đánh ở Kampuchia đã hơn một năm qua.

Mỗi buổi trưa trời nóng, ngồi nơi cái quán lá bên kia đường uống ly trà đá, tôi thường nhìn sang cô chủ nhà nằm võng ru con trước chái hiên:

“Lênh đênh chiếc bách giữa giòng
Thương thân góa phụ phòng không lỡ thì
Gió đưa cây trúc ngã quỳ
Ba năm trực tiết còn gì là xuân!”

Tiếng ru vang lên giữa trưa nắng gắt. Những câu ca dao buồn bã cơ hồ vẫn chưa đủ diễn tả cho hết nỗi lòng của người góa phụ cô đơn. Dáng dấp người thiếu phụ trông hiền lành chịu đựng. Một mẫu đàn bà cằn đi trước tuổi do bởi những lo toan một mình trong cuộc sống. Từ buổi đầu, chúng tôi được biết cô chỉ mới 22; vậy mà trông cô chẳng khác nào một người đàn bà đã quá ba mươi!

Một lần tôi nghe cô kể: “Bọn em lấy nhau chưa được bao lâu thì anh ấy bị gọi đi nghĩa vụ quân sự. Tưởng hai năm trở về, ai ngờ anh ấy đi luôn qua bên kia thế giới. Trẻ chưa qua già chưa tới mà đã mang thân góa bụa. Đứa con đẻ ra thiếu tháng chưa thấy mặt cha đã phải mồ côi.”

Mỗi buổi trưa trong năm ngày ở Vĩnh Long, tôi vẫn ngồi bên quán trà đá nhìn sang cô chủ nhà nằm ru con trên võng. Trời nắng gay gắt. Con đường làng vắng tanh không bóng người qua lại. Chung quanh đều lặng lẽ. Chỉ có tiếng ru con văng vẳng giữa trưa.

Tôi nghe lòng mình tím bầm buồn bã. Hình ảnh cô đơn của người góa phụ trẻ đã là nguyên nhân cho tất cả mọi xúc cảm của tôi.

Mỗi con người Việt Nam trong suốt cuộc đời đã phải trải qua vài lần chinh chiến. Bà mẹ quê hương kiếp nào vụng tu nên đàn con cháu cứ phải gánh nạn khổ đau. Chẳng trách ai được. Chỉ biết ngậm ngùi cho bao lớp người đã ngã xuống. Và còn bao lớp người sẽ tiếp tục ngã theo đây?

[]



(*) Anatole France, nhà văn Pháp (1844-1924).
(**) Jean Valjean, nhân vật chính trong tác phẩm Les Misérables (viết xong năm 1862) của Victor Hugo, nhà văn Pháp (1802-1885).




...CÒN TIẾP...







© tác giả giữ bản quyền.

.tải đăng theo nguyên bản của tác giả ngày 16.04.2008.