NGUYỄN THỊ BÍCH NGA
CHƯƠNG TIẾP THEO
KỲ THỨ 1
Đợt thi học kỳ II kéo dài từ ngày 2 tháng Năm đến ngày 10 tháng Năm đã chấm dứt. Sau đó học sinh chúng tôi được nghỉ năm ngày để giáo viên chấm bài, cộng điểm, xét duyệt thi đua và ghi lời phê vào sổ Học Bạ... Ngày 15 tháng Năm, lớp chúng tôi tập trung lại để nghe cô Chủ Nhiệm đọc điểm trung bình và danh sách học sinh giỏi. Ngày 16 tháng Năm, lớp chúng tôi tập trung nơi sân trường để dự lễ tổng kết. Ngày 17 tháng Năm, chúng tôi... nghỉ hè! Ôi thật sung sướng làm sao!
Mặc dù không được xếp loại học sinh giỏi, tôi chẳng buồn lòng chút nào, vì tôi biết bản thân mình đã cố gắng hết sức. Má tôi cũng an ủi vậy. Còn người lạ thì nhận xét một câu: “Hơn thua nhau là lớp Chín sang năm. Chỉ có đứa nào chăm chỉ mới thi đậu. Vì môi trường cấp ba không dành cho những học sinh làm biếng”. Nghe vậy, tôi quyết tâm sẽ học tập tốt hơn trong suốt thời gian lớp Chín.
Đó là chuyện tương lai, còn trước mắt tôi phải đi làm thêm một buổi để phụ giúp má tôi về kinh tế. Cậu Tư tôi biểu tôi gia công bện dây thừng xơ dừa cho cậu. Người dân ở đây xài nước giếng quanh năm nên dây thừng xơ dừa vẫn còn là mặt hàng chiến lược. Nhưng vì cậu cháu với nhau nên cậu trả công tôi hơi rẻ, ngồi bện dây thừng cho cậu nguyên ngày chỉ được năm ngàn! Như vậy là bóc lột sức lao động của trẻ em! Má tôi cũng không bằng lòng, bà nói tiền công rẻ quá nó uổng thời gian của tôi.
Còn đang chần chừ, một thông tin của người lạ khiến tôi phấn khởi lên. Chú ấy nói:
-Nếu cháu không ngại đi làm xa thì sang bên xóm Bánh Tráng phụ cho người quen của chú. Bà chủ lò bánh tráng Thiên Hòa đang cần một chân sai vặt cỡ tuổi cháu, vì cậu bé đang làm cho bà ấy bỏ đi Sài Gòn rồi. Tiền công mỗi ngày là tám ngàn đồng. Nhưng công việc nhẹ nhàng thôi.
Tôi nhìn người lạ bằng ánh mắt cảm ơn và nhờ chú ấy dẫn tôi đến đó để giới thiệu.
Hôm sau, ngày 20 tháng Năm, tôi bắt đầu đi làm cho bà chủ lò bánh tráng Thiên Hòa. Nói chung, nhiệm vụ của tôi là phục vụ cho đám thợ, ai sai gì làm đó, từ việc ngâm gạo, xay gạo, đến việc rửa thau, rửa thùng, thậm chí việc đi mua gói xôi, đi mua vài điếu thuốc lá... mọi người đều réo đến tên tôi.
Tôi phục vụ đám thợ một cách vui vẻ, không chút phàn nàn hoặc than phiền – như cậu bé đã bỏ đi Sài Gòn, bởi vậy chỉ sau vài ngày, tôi nhận được sự đối đãi thân mật của họ. Nếu ai cho một dĩa xôi gà, họ cũng véo một miếng to nhét vào tay tôi. Nếu ai biếu một tô chè chuối nước dừa, họ thiệt tình ăn trước và rồi chừa lại 1/3 tô cho tôi. Nếu có ai đang buồn chán, họ ngoắc tôi lại và... nặn mụn cho tôi. Đến cuối tháng thì tôi đã trở thành một đứa em nhỏ của họ!
Cuối tháng, bà chủ phát lương cho đám thợ. Mỗi người lãnh một xấp tiền năm ngàn xanh xanh và mười ngàn đỏ đỏ, nhìn thấy mê lắm. Thợ pha bột, thợ tráng bánh được trả lương rất hậu. Vì chỉ cần lò bánh khác đề nghị cao hơn chừng vài chục ngàn đồng là họ sẵn sàng bỏ lò bánh cũ, chạy qua lò bánh mới liền. Tới phiên tôi, bà chủ vừa đếm tiền vừa nói:
-Con mới vô làm được mười hai ngày, tiền công là chín mươi sáu ngàn. Nhưng vì con chăm chỉ và biết vâng lời, bà thưởng cho con thêm bốn ngàn nữa. Vậy lương tháng này của con là một trăm ngàn.
Một trăm ngàn! Tôi lãnh được một trăm ngàn! Tiền lương đầu đời! Ôi chuyện này có nằm mơ cũng không thấy nhưng rõ ràng nó là sự thật. Tôi sung sướng đếm đi đếm lại hai mươi tờ năm ngàn xanh xanh và nhét kỹ vào túi quần tây. Tôi thoáng nghĩ đến má tôi. Mình sẽ mua gì cho bà ấy? Tôi cũng nghĩ đến người lạ, định bụng sẽ tặng một món quà nhỏ cho chú ấy. Nhưng rồi một hình ảnh to lớn hơn hiện ra khiến tôi rưng rưng nước mắt. Ba tôi! Chắc chắn tôi sẽ để trọn số tiền này để mua bánh trái, đi thăm nuôi ba tôi.
Tối hôm đó, ngồi nơi bậc thềm trước nhà, tôi kể chuyện được lãnh lương mười hai ngày công cho người lạ nghe. Tôi nói:
-Cháu không ngờ mười hai ngày trôi qua quá mau. Cháu lãnh được một trăn ngàn đồng. Cháu định mua quà cho má cháu và cho chú.
Người lạ mỉm cười:
-Mắc gì cháu phải mua quà cho chú? Chú chỉ là... người lạ thôi mà.
Tôi nhếch mép trái lên biểu thị nụ cười và nói tiếp:
-Nhưng suy đi nghĩ lại, cháu sẽ dành trọn số tiền này để đi thăm nuôi ba cháu. Từ hồi ba cháu ngồi tù tới giờ, cháu chưa gặp mặt ông ấy lần nào.
-Tại sao?
-Cháu không biết.
-Nhưng chú cần biết tại sao cháu không muốn gặp mặt ông ấy. Lê Anh, nếu cháu giải thích được lý do tại sao, tâm hồn cháu sẽ nhẹ nhàng đi rất nhiều.
Tôi nuốt nước miếng, cố gắng tìm lời giải thích:
-Hồi mới nghe tin ông ấy ngồi tù vì tội ăn cắp tiền quỹ của công ty, cháu không tin chút nào. Nhưng rồi cháu bắt đầu thất vọng, và cháu cảm thấy xấu hổ mỗi khi bạn bè trêu chọc, hoặc mỗi khi cháu nghe ai đó nhắc đến hai chữ “ăn cắp”. Sau đó cháu không thèm xấu hổ nữa mà chuyển sang tức giận. Cháu nghĩ, với tấm gương xấu xa như vậy ông ấy không xứng đáng... là ba của cháu!
Người lạ vội vàng nắm chặt bàn tay tôi:
-Lê Anh, đừng nghĩ vậy.
Tôi chớp mắt, cố gắng trấn tĩnh bằng cách hít vào một hơi thật sâu và thở ra một hơi thật dài. Bây giờ tôi nhìn rõ lòng mình hơn và tôi tiếp tục:
-Chú nói đúng. Cháu cần phải hiểu rõ tình cảm của cháu đối với ông ấy, tâm hồn cháu sẽ nhẹ nhàng hơn. Sau những thất vọng và giận dữ, giờ đây cháu thương xót ông ấy. Cháu nghĩ hẳn phải có lý do nào đó mới khiến ông ấy hành động như vậy. Biết đâu vì muốn có tiền đưa cho má cháu? Biết đâu vì muốn mua sắm một món gì đó cho cháu?
-Cháu có nghe nói ông ấy ăn cắp tiền quỹ bao nhiêu không?
Tôi lắc đầu:
-Chính xác thì không. Nhưng hình như là vài chục triệu đồng.
Người lạ nhíu mày, nói thật nhanh:
-Vài chục triệu đồng? Không thể được. Không thể như vậy được. Một nhân viên làm tạp vụ như ba cháu không thể tiếp cận với két sắt, không thể dò ra mã khóa số, không thể phi tang mọi dấu vết một cách chuyên nghiệp được!
Tôi im lặng, rồi ngơ ngác quay sang người lạ:
-Ai nói với chú ba cháu là nhân viên tạp vụ? Ai nói với chú về mọi tình tiết của vụ án này?
Người lạ vỗ nhẹ lên vai tôi:
-Đừng lo. Chú không phải là kẻ nhiều chuyện, thích ngồi lê đôi mách đâu. Chú là một nhà văn, viết truyện ở đủ mọi thể loại. Tình cảm có. Chuyện đường rừng có. Trinh thám Việt Nam cũng có. Chú bắt chước tài quan sát của nhà văn Thế Lữ đấy. Và qua vài thông tin rời rạc của những người quanh đây, chú có thể xâu chuỗi lại thành câu chuyện ly kỳ của ba cháu.
Mắt tôi sáng lên:
-Có phải chú muốn nói rằng ba cháu vô tội? Ba cháu bị gài?
-Đứng ở góc độ của một nhà văn, chú thấy như vậy, bởi chú đã từng viết về một vụ án y hệt vụ án của ba cháu. Nhưng đứng ở góc độ công an điều tra, họ thấy ba cháu là người duy nhất ngủ trong văn phòng đó, và sáng hôm sau, số tiền vài chục triệu nằm trong két sắt đặt ở góc phòng đã biến mất. Tất nhiên mọi nghi ngờ đều chỉa vào ba cháu. Và tiếc thay, ông ấy đã cúi đầu nhận tội.
Bàn tay tôi chộp lấy bờ vai người lạ, tôi nói như van lơn:
-Chú ơi, cháu muốn cứu ba cháu, cháu muốn giải oan cho ông ấy, cháu muốn vạch mặt thủ phạm đích thực... Bây giờ cháu phải làm sao?
Người lạ vỗ nhẹ lên gò má tôi, mỉm cười:
-Chuyện đó để chú lo. Chú là nhà văn, thường đi đây đi đó mỗi ngày, chú sẽ dò la thông tin mà không bị ai nghi ngờ. Khi nào có được tin gì đáng chú ý, chú sẽ báo cho cháu biết. Đổi lại, chú muốn cháu cứ bình tĩnh và làm việc thật tốt cho bà chủ lò bánh tráng Thiên Hòa. Cháu đồng ý không?
Tôi gật đầu:
-Cháu đồng ý.
-Giỏi lắm. Sáng mai chú sẽ cho cháu mượn cuốn truyện trinh thám của chú để cháu đọc qua. Bây giờ cháu đi ngủ đi.
Hai chúng tôi cùng đứng lên, chia tay nhau. Tôi nói khe khẽ:
-Cảm ơn chú rất nhiều.
-De rien.
Trời, có ai tin được không, người lạ vừa nói tiếng Pháp với tôi đấy!
OoO
Sáng hôm sau, khi tôi ngủ dậy thì má tôi đã đi ra chợ và người lạ không có mặt trong phòng. Vẫn là cái ổ khóa to tướng bấm vào hai khoen sắt nơi cánh cửa. Tôi thất vọng đi vào nhà, nhưng rồi tìm thấy cuốn truyện trinh thám – mà người lạ đã hứa – nằm trên mặt bàn.
Cuốn truyện có vẽ cũ rích cũ rác, cứ như chú ấy lượm nó ra từ trong gánh ve chai nào đó. Nơi trang bìa vẽ hình một người đàn ông mặt mũi hốc hác ngồi u sầu sau chấn song nhà tù. Bên dưới hình vẽ là hàng chữ in to: THỦ PHẠM GIẤU MẶT. Bên dưới nữa là hàng chữ nhỏ im đậm: Tác giả Trường Giang. Nơi góc trái là lôgô của Nhà Xuất Bản Văn Chương. Chắc đây là một Nhà Xuất Bản ở Sài Gòn.
Tôi thử lật vào bên trong. Chu cha, giấy sách ố vàng không thể tưởng tượng được. Chẳng lẽ sách mới được in ra chỉ có vài năm mà ố vàng đến mức vậy sao? Nếu không quen biết với tác giả, tôi sẽ nghĩ cuốn sách được ra đời cách đây khoảng nửa thế kỷ!
Không có thời gian để đọc sách, tôi trả nó về chỗ cũ, bưng chén cơm nóng lên ăn đỡ ba hột rồi đi làm. Giờ làm việc của tôi thường bắt đầu từ bảy giờ sáng và chấm dứt lúc bốn giờ chiều. Giờ này mặt trời sắp tắt nắng nên đám thợ đã ngưng tay một tiếng đồng hồ trước đó. Khoảng bốn giờ, tôi phụ giúp họ bưng những tấm phên phơi bánh tráng cuối cùng vào trong nhà, cẩn thận gỡ bánh tráng ra khỏi tấm phên, cứ hai mươi cái bánh gom lại thành một ràng, cột dây lại, để hôm sau bà chủ lò mang đi các chợ bỏ mối. Khi mọi người ra về hết, tôi còn nán lại dọn dẹp và lau rửa các món vật dụng. Khoảng năm giờ chiều, tôi là người ra về cuối cùng.
Về nhà, tôi tắm táp thật nhanh chứ không rề rà như mọi khi, đặng có thời gian đọc cuốn truyện trinh thám của người lạ – tức nhà văn Trường Giang. Đọc qua những chương đầu tiên, tôi có cảm tưởng chú ấy đang viết về cuộc đời của ba tôi. Càng đọc càng hết hồn. Nhân vật chính là một người đàn ông làm gác-dan tại một hãng buôn. Ông ta là con người thật thà và lương thiện, được mọi người quý mến. Một đêm nọ, chẳng hiểu sao ông ta lại ngủ gục trên bàn, ngủ mê ngủ mệt như chết. Tới khi công an tông cửa vào phòng, chỉa súng vào mặt ông ta, ông ta mới biết két sắt bị mở toang và số vàng lá nặng tương đương mười ký-lô-gam của hãng buôn biến mất. Ông ta luôn miệng kêu oan, nhưng bà chủ hãng buôn khuyên ông ta cứ nhận tội đi, bà chủ sẽ nuôi vợ con ông ta giùm cho. Các chi tiết cá nhân như “ông ta có một người vợ buôn bán tảo tần ở quê... có một đứa con trai mười ba tuổi...” coi như không sai tí nào.
Nhưng những chương đó không quan trọng.
Những chương tiếp theo mới khiến tôi chú ý đến mức tôi vừa ăn cơm tối vừa đọc say sưa. Má tôi bới cơm nóng, chan nước cá kho cho tôi, ngạc nhiên hỏi:
-Cuốn gì mà con đọc quên nhai cơm vậy? Tiểu thuyết ba xu hả?
Tôi lắc đầu, mắt vẫn dán vào trang sách:
-Truyện trinh thám, không phải tiểu thuyết, và nó giá bốn ngàn rưởi lận.
-Con phải coi chừng xương cá chứ, đừng để bị mắc xương cá vào cổ.
Tôi lầu bầu:
-Má cứ chan nước cá thôi, khỏi gắp cá vô chén con, và để yên cho con đọc.
Má tôi vẫn không thôi:
-Hôm nay công việc ở lò bánh thế nào?
-Bình thường.
-Bữa trưa họ cho con ăn cái gì?
-Cơm.
Má tôi bật cười:
-Thằng khỉ! Thôi ăn hết chén cơm lẹ đi, rồi lên giường nằm coi cho thoải mái!
Tôi chẳng quan tâm tới chuyện mình được thoải mái hay không, chỉ biết càng đọc càng bị mọi tình tiết lôi cuốn. Người lạ của tôi – tức nhà văn Trường Giang – quả có thiên tài về viết văn. Những chương tiếp theo kể rằng đứa con trai của người gác-dan tình cờ quen biết một nhà báo trẻ hạng tép riu, và cậu bé tâm sự với nhà báo trẻ về vụ án của cha cậu. Nhà báo trẻ quyết định sẽ điều tra lại vụ án này, vì anh ta cho rằng còn nhiều uẩn khúc trong đó.
Tôi lẩm bẩm một mình cứ như nhà văn trẻ đó đang đứng trước mặt:
-Chú nói đúng. Cháu cũng thấy có nhiều uẩn khúc. Tại sao ba cháu ngủ mê ngủ mệt, ăn trộm vào mở cửa két sắt vẫn không hay biết? Nếu ba cháu không lấy số tiền đó, tại sao ông ấy lại nhận tội? Còn nếu ba cháu thật sự lấy số tiền đó, tại sao ông ấy không bỏ trốn, mà nằm ngủ ườn đến tận giờ làm việc?
Và bên tai tôi văng vẳng câu trả lời của nhà báo trẻ:
-Cháu đừng lo. Chú nhất quyết sẽ điều tra. Nếu ba cháu bị oan, chú sẽ giải oan cho ba cháu.
Rồi tôi tỉnh mộng, mới hay đó là câu nói mà tối hôm trước người lạ đã cam đoan với tôi.
Nhìn ra bên ngoài, người lạ đi vắng vẫn chưa về, nhưng lòng tôi cảm thấy rất yên tâm. Chú ấy đã hứa và tôi tin rằng chú ấy sẽ làm đúng với lời hứa.
OoO
Chiều hôm sau, tôi đi làm về đã thấy người lạ ngồi nơi bậc thềm trước nhà đợi tôi. Khuôn mặt chú ấy không hề nhuốm chút mệt mỏi sau hai ngày đêm không ngủ; và bộ đồ tây cũ kỹ của chú ấy cũng chẳng có gì khác lạ với những tháng trước đây. Theo tôi nhớ thì hình như chú ấy không hề thay bộ đồ này ra giặt giũ phơi phóng lần nào, nhưng nó vẫn tươm tất lắm.
Người lạ kéo tôi ngồi xuống bên cạnh, chú ấy nói:
-Lê Anh, chú đã xem xét tờ biên bản hỏi cung lần đầu tiên, có một chi tiết nhỏ được ghi lại nhưng bị công an bỏ qua. Vị sĩ quan thẩm vấn hỏi: “Là một tạp vụ, tại sao anh không ngủ đêm ở phòng thường trực mà lại chui vào phòng kế toán ngủ?” Ba cháu trả lời: “Buổi tối tôi ngủ trong phòng thường trực, sáng ra thấy mình nằm trong phòng kế toán”. Ông ta hỏi tiếp: “Anh uống hết mấy chai đế nên xỉn quá, không nhớ gì phải không?” Ba cháu trả lời: “Thưa sĩ quan, tối hôm đó tôi không uống gì cả”. Ông ta nói: “Nhân viên bảo vệ khai rằng cái chai ba xị đế là của anh”. Ba cháu kêu lên: “Thưa sĩ quan, tôi không uống rượu được nhiều như vậy đâu!”
Tôi suy nghĩ vài giây và nói:
-Ba cháu hay bị dị ứng với rượu. Mỗi lần uống vào chỉ cần dăm ba hớp, là ông ấy nổi mề đay sần đỏ khắp người. Bởi vậy ba cháu ít khi uống rượu lắm.
Người lạ búng tay cái tróc:
-Très bien. Chú đánh giá rất cao chi tiết này. Nhưng để chú nói tiếp. Ở tờ biên bản hỏi cung lần thứ hai, ba cháu lại khai khác. Ba cháu thú nhận chỉ vì không kềm chế được lòng tham nên đã ra tay ăn trộm toàn bộ số tiền trong két sắt. Ba cháu chỉ mong tòa án khoan hồng.
Tôi phẫn nộ kêu lên:
-Sai rồi! Biên bản ghi láo toét! Ba cháu không bao giờ là một kẻ tham lam ngu ngốc đến mức như vậy! Ba cháu đã bị gài bẫy!
Người lạ gật đầu:
-Sau khi xem xét các biên bản hỏi cung, chú hoàn toàn tin chắc như vậy. Nhưng chúng ta chưa biết kẻ nào gài bẫy ba cháu, và mục đích gài bẫy là để làm gì.
Tôi chụp lấy tay người lạ, run giọng van lơn:
-Chú ơi, xin chú cứu giúp ba cháu. Cháu sẽ không bao giờ quên ơn chú đâu.
Người lạ mỉm cười nhìn tôi, ánh mắt thật ấm áp:
-Chú sẽ cứu ba cháu chứ, chú hứa rồi mà. Nhưng cháu cũng phải hứa sẽ làm việc thật tốt với bà chủ lò bánh tráng Thiên Hòa nhé? Chú và bà ấy có quen biết đấy. Cháu hứa không?
Tôi gật đầu cái rụp:
-Cháu hứa.
-Giỏi lắm. Cháu vào nhà tắm rửa và ăn cơm đi. Đừng lo gì hết. Mọi chuyện cứ để cho chú.
-Dạ.
Nằm trên giường, tôi nhìn trừng trừng vào bóng tôi, suy nghĩ miên man đến điều người lạ hứa với tôi, và điều người lạ bắt tôi hứa. Tại sao chú ấy cứ bắt tôi phải làm việc thật tốt cho bà chủ lò bánh tráng Thiên Hòa? Giữa hai người này có mối quan hệ gì? Họ là bồ bịch của nhau? Không thể được. Chú ấy khoảng ba mươi tuổi, còn bà chủ lò bánh tráng thì đã trạc năm mươi! Tôi không tin họ có thể cặp bồ cặp bịch với nhau. Họ là má con của nhau? Và chú ấy là con riêng? Càng không êm xuôi. Nếu là má con, cần gì chú ấy phải thuê phòng trọ vì bà chủ lò bánh góa chồng đã năm năm nay rồi!
Tôi trở mình sang một bên, hai tay ôm chặt cái gối, nhắm chặt mí mắt và thì thào một mình:
-Kệ họ. Mối quan hệ của họ là gì cũng được. Mình đã hứa thì mình phải giữ lời...
Rồi tôi nghĩ đến đoạn kết cuốn truyện trinh thám của nhà văn Trường Giang. Sau bốn tháng điều tra, hết gõ cửa nhà nhân vật này, đến thăm nhà nhân vật khác, nhà báo trẻ phát hiện bà chủ hãng buôn cặp bồ với một anh chàng rất ham mê bài bạc. Tiền riêng cung phụng cho anh chàng không đủ, bà chủ lén lút thâm lạm vào công quỹ, tức là bán dần bán mòn từng thỏi vàng, cho đến khi trong két sắt hoàn toàn trống rỗng. Sợ bị phát hiện, bà chủ gài cho người gác-dan uống thuốc mê, rồi kéo ông ta quăng vào căn phòng có chứa két sắt, sau đó tri hô lên... Nhớ có chứng cớ đầy đủ, nhà báo trẻ đã lật mặt nạ của bà chủ hãng buôn nhẹ dạ, minh oan cho người gác-dan, trả lại danh dự cho ông ta...
Cốt truyện hay quá. Cách dẫn dắt câu chuyện thật hấp dẫn. Người lạ của tôi đúng là một nhà văn kỳ tài của loại truyện trinh thám. Tôi hé miệng thở dài nhè nhẹ và rồi ngủ thiếp đi...
Kể từ buổi tối hôm đó, mỗi khi nghĩ đến chuyện ba tôi đang ngồi tù, tôi không còn đau khổ mà cảm thấy lòng mình vô cùng thanh thản. Ba tôi bị oan, ba tôi bị kẻ nào đó gài bẫy, ba tôi không có tội... Tôi muốn thông báo cho má tôi biết tin vui này, nhưng ráng kiềm chế lại. Khoan đã. Khoan tiết lộ mọi bí mật đã. Cứ để người lạ của tôi âm thầm điều tra, tìm thêm chứng cứ; khi nào chú ấy có kết luận chính thức, tôi sẽ báo tin vui cho má tôi cũng không muộn.
Còn ở lò bánh tráng, tôi làm việc chăm chỉ hơn bao giờ hết. Thậm chí không có ai sai biểu, tôi cũng kiếm chuyện ra làm, thí dụ đan lại cái võng dây dù bị đứt để má ruột của bà chủ nằm cho êm lưng, hoặc chiều chiều gánh dăm ba thùng nước giếng đổ đầy lu để đám con bà chủ có nước tắm... Bà chủ thích lắm, thỉnh thoảng bà ấy vuốt đầu tôi mà khen ngợi:
-Cháu giỏi quá. Cháu giỏi quá.
Tôi chỉ nhe răng cười.
Thật ra tôi cũng muốn làm biếng lắm chớ. Làm biếng “khỏe thân” hơn làm siêng. Nhưng đã hứa với người lạ thì không thể làm khác được. Vả lại, tôi thấy bà chủ cũng là một phụ nữ tốt bụng. Mỗi ngày bà chủ cho đám thợ ăn một bữa cơm nóng và hai cử cà phê đá, còn bánh trái lặt vặt thì khỏi tính. Hàng xóm “kính biếu” bất cứ món gì, bà chủ đều bưng mang đến cho đám thợ ngay. Bà chủ rất có hiếu với má ruột – một bà già bảy mươi tuổi thường thích nằm lỳ trên võng để nghe cải lương. Bà chủ canh hết tuồng cải lương thì kéo ghế nhựa lại gần võng, nói chuyện linh tinh với bà già. Bà chủ lò bánh đúng là một người con gái có hiếu nghĩa.
...CÒN TIẾP...
© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản của tác giả ngày 13.04.2008.