Út trai cụ Phiệt, nay 28, da trắng như trứng gà bóc, trán có vết bớt đỏ tròn như được xoay bằng com-pa, từ nhỏ đã mắc chứng quên nên được gia đình đặt tên là Nhớ, may ra, sau này có bớt quên chăng!

Nhớ cười suốt ngày, nhưng không thành tiếng; trong cơn ngủ, nụ cười héo dần rồi tắt hẳn, lúc đó thì Nhớ tỉnh dậy.

Nhớ ngỡ ngàng trước tất cả những gì hiện ra trước mắt, như thể mới biết lần đầu.

Buồn phiền, lo lắng, ham muốn, tranh đua... thảy đều không bám được vào Nhớ. Anh là người của phút giây hiện tại; quá khứ, tương lai không chen chân vào.

Cái tên Nhớ cụ Phiệt đặt cho, chẳng tác dụng gì, bởi mấy năm gần đây, chứng quên của anh đã trở nên quá quắt.

Ví như đói bụng, thì mồm anh phải bảo vào tai mình: “Đi ăn cơm... ăn cơm... ăn cơm...” có nhắc thế mãi thì chân anh mới bước, tay anh mới tìm, nhắc cho đến khi cơm được nhai trong miệng mới thôi. Bằng không thế, thì anh sẽ quên và chịu đói suốt ngày.

Thậm chí khi tra điếu thuốc vào môi, tay đã cầm máy lửa, miệng anh cũng phải bảo tai: “Đốt thuốc... đốt thuốc... đốt thuốc...”, lẩm bẩm mãi cho đến khi bật lửa, đốt cháy điếu thuốc ra khói, lúc ấy mới khỏi quên.

Có lẽ, chỉ có tai và miệng là hai vị chỉ huy thực sự của anh, hai vị ấy mà về hưu thì anh sẽ nguy to.

Cụ Phiệt héo ruột héo gan, vì lẽ chứng quên của anh cứ càng trầm trọng, thì sẽ có một ngày, anh quên thở mà chết mất thôi!

***

Sáng nay, cụ Phiệt áo dài, khăn đóng, tay dù đến chùa Thủy Tịnh, dự đám giỗ Sư Ông.

Vừa bước ra khỏi cửa, thì Nhớ chạy đến, đòi theo.

Cụ nhìn nụ cười của Nhớ một chặp, rồi lại nhìn cái bớt đỏ trên trán Nhớ một chặp, xong, cụ gật đầu, chiều ý.

Cụ quay vào nhà, bảo lớn: “Bà thay đồ gấp cho thằng Nhớ. Hôm nay cho nó theo tôi lên chùa.”

Cụ Bà mở tủ lấy sơ-mi trắng, quần xanh cứt ngựa, dép xăng-đan nâu. Tất cả, đặt luôn vào tay Nhớ và xô anh vào phòng. Bà quát: “Thay đồ lẹ lên”, rồi đóng sầm cửa lại.

Cụ Phiệt ngồi uống trà, chờ con.

Mặt cụ bỗng sa sầm khi nghe tiếng con văng vẳng trong phòng: “Mẹ bảo... thay đồ... thay đồ... mặc áo... mặc áo... mặc quần... mặc quần... mang dép... mang dép... mang dép...”

Cụ hớp ngụm trà không trôi , đặt chén, thở dài.

***

Suốt dọc đường đi, gặp hoa gì Nhớ cũng bẻ, ôm cả ôm trước ngực: nào hoa Mua, hoa Dâm Bụt, hoa Trang, hoa Sim, hoa Cứt Chuột, hoa Cơm nguội... Áo sơ-mi trắng của anh lem luốc.

Vào chùa, anh cứ ôm hoa trước ngực, đứng sát mé chiếu, mở to mắt ngỡ ngàng nhìn người ta thắp hương, cúng dường, lạy vái...

Cụ Phiệt phải thúc cùi chỏ vào hông Nhớ, kề mồm sát tai: “Vào chiếu thắp hương”.

Lúc này Nhớ đang nhìn sững một cô gái đứng đối diện mé chiếu bên kia. Cô ta da đen như đít chảo, tóc dài phết gót, có đôi mắt to đen của con bò nghé bị thương xa mẹ.

Cụ Phiệt thúc cùi chỏ vào hông Nhớ lần nữa, nói xẵng vào tai anh: “Vào chiếu thắp hương”.

Nghe thế, Nhớ vội lớn tiếng lặp lại lời bố, mắt vẫn nhìn sững cô gái: “Vào chiếu thắp hương... Vào chiếu thắp hương... Vào chiếu thắp hương...”

Cô gái nhìn anh một chặp, rồi ngoan ngoãn đi vào chiếu, anh cũng vào, rồi đến cụ Phiệt.

Trên bàn thờ Sư Ông khói hương nghi ngút, hoa quả la liệt.

Gian trong có tiếng các sư tụng kinh rì rầm, âm thanh trôi nổi theo tiếng chuông mõ.

Gian ngoài có tiếng cười nói râm ran, chao đảo theo khói đốt vàng mã.

Không có chỗ trống trên bàn thờ, Nhớ đặt cả ôm hoa xuống chiếu.

Anh sụp lạy, úp mặt lên hoa.

Liếc ngang nhìn cô gái, anh bắt chước đứng dậy đốt hương. Vái xong, anh cắm ba cây hương vào bình bát, rồi cũng bắt chước nhìn vào di ảnh cố Đại Lão Hòa Thượng.

Anh nhìn chằm chằm vào di ảnh, đột ngột hai tay anh run rẩy như trúng gió. Anh quỵ xuống, phục đầu xuống hoa, khóc rống, mếu máo: “Sư Ông nay ở Niết Bàn trong mây trên gió, có còn nhớ thằng Nhớ này không? Hai mươi mốt năm trước, bố con, người lạy bên cạnh con đây, có sắm một máy hát dĩa quay tay dây thiều, Sư Ông cũng bắt chước mọi người xóm Trạch, đã chọt thiền trượng đến nghe. Sư Ông nghe tuồng Mục Kiều Liên-Thanh Đề, Sư Ông nghe nhạc mới Trăng Rụng Xuống Cầu... Sư Ông ngồi càng lúc càng sát máy, rồi dang cả hai tay, như muốn ôm máy vào lòng coi thử. Sư Ông nhìn máy. Sư Ông ngạc nhiên. Sư Ông cười sặc sụa. Sư Ông thán phục. Sư Ông tưởng rằng có ai trốn trong đó mà hát chắc? Không có ai đâu cả, Sư Ông à! Kim chạy, nó chà vào dĩa, mà ra bài đấy. Sư Ông còn nhớ con không? Con được bố giao nhiệm vụ gãi lưng Sư Ông đến hết tuồng, suốt cái buổi chiều lộng gió ấy... Gió thì thổi nhiều ngày, nhưng lá thì rụng lúc ấy, rụng ngay lúc Thanh Đề bưng chén cơm bốc lửa, một chiếc lá xoài xắn vào lưng Ngài. Sư Ông đã rùng mình, nhưng chỉ nổi da gà ở chỗ chiếc lá chạm vào mà thôi. Ôi! Chiếc lá sao mà vô phép đến thế! Lá rụng thì phải về đất, chớ sao lại ghé lưng, nơi sạch sẽ không có một chút bợn, mát lạnh như đá suối, nơi ngự trị 38 nốt ruồi son lớn bé, có ba nốt sát nách phải, mọc sợi lông màu râu bắp thai thai, chót lông cong xuống hình lưỡi câu, con nghịch nhổ một sợi, Sư Ông nhảy nhỏm, ách-xì một cái, ho hai cái, rồi bốc lộn hộp diêm quẹt của bố...”.

Nghe đến đây, các sư trong chùa lật đật bỏ dùi mõ, chạy đến lôi anh ra khỏi chiếu.

Cả chùa náo loạn.

Cụ Phiệt há hốc mồm nhìn theo anh. Cụ kinh hoàng. Hóa ra con cụ đã phục hồi trí nhớ.

Cụ lật đật chạy ra khỏi chiếu, đuổi theo hất gạt các sư ra và ôm Nhớ vào lòng.

Cụ khóc. Nước mắt như mưa. Cụ ngộp thở trong một niềm vui vĩ đại, cao đụng Trời, bao la như Biển, mà trong đời cụ mới gặp lần đầu.

Cụ khóc to hơn, tăng âm tiếng khóc của mình lên, vang cả khu chùa. Khóc như chưa bao giờ được khóc. Càng khóc, người cụ càng nhẹ dần, buồn lo nhiều năm đã trôi theo nước mắt, lênh láng nền chùa.

***

Hình như có ai đó đang bóp miệng cụ và đánh cụ.

Cụ ú ớ... rồi mở mắt.

Trước mắt cụ là Cụ Bà. Cụ Bà nhăn mặt gắt gỏng: “Ngủ nghê gì mà khóc dữ thế! Khóc rống như cha chết không bằng! Ông mơ thấy gì? Hả?”

Cụ như vừa rơi xuống vực, chân tay thì chìm xuống, đầu cổ thì trồi lên. Người cụ như đứt lìa.

Cụ Bà “Hứ” một tiếng, bỏ đi ra ngoài.

Còn một mình, cụ Phiệt cựa mình, lẩm bẩm: “Ta không có út nào tên là Nhớ cả. Út nhà ta tên là Đức kia mà. Nó đã vợ con đề huề tận Đà Lạt. Nó đâu có bị chứng quên. Kỳ thật!”

Cụ chùi nước mắt, ngồi dậy, ra bàn nước, pha trà mới. Cụ bỏ nhiều trà, lúc này cụ muốn uống đặc, cho tỉnh trí.

Cụ nhìn cái hộp đựng chiếc máy hát dĩa quay tay, nằm đóng bụi nơi hóc nhà, mà đầu óc loãng ra. Cụ lường lự.

Bỗng cụ gọi to: “Bà ơi! Vào đây tôi bảo”.

Cụ Bà từ bếp đi lên, tay cầm cái rổ: “Ông kêu cái gì?”

Cụ hỏi: “Ban nãy bà có lấy quần áo thay cho thằng Nhớ không? Trước khi tôi và nó đi chùa đấy?”

Cụ Bà há hốc mồm, kẹp chặt cái rổ vào nách: “Quần áo gì? Thằng Nhớ nào? Chùa nào? Hôm nay ông đứt dây rồi sao?”

Cụ Phiệt véo vào bắp vế mình nghe đau. Cụ bảo: “Thôi! Bà đi làm việc đi. Tôi đúng là chiêm bao.”

Tuy miệng nói thế, nhưng bụng cụ vẫn thờ thẫn, đầu cụ vẫn lưỡng lự.

Cuộc sống hiện thực của cụ đang ngồi đây, cuộc sống ấy không đậm nét bằng cuộc sống trong mơ vừa rồi. Nó chưa bao giờ buộc cụ phải lo buồn đau khổ vì tương lai tối tăm của một đứa con. Nó chưa bao giờ buộc cụ phải khóc òa lên vì vui sướng, bỗng thấy tương lai đứa con lại sáng.

Cụ buộc miệng phân vân: “Cuộc sống nào là thực nhỉ?”

Trong tầng sâu của tâm hồn, cụ rơi vào lưỡng lự nặng hơn.

Cụ nhìn xung quanh quan sát. Cụ căng tai, căng mắt, dồn tâm trí. Cụ gọi lớn: “Thằng Nhớ vào đây tao bảo.” Cụ lặp lại: “Thằng Nhớ vào đây tao bảo”.

Căn phòng vẫn yên lặng, tất cả đồ vật đều giữ nguyên vị trí. Không một xao động, cho dù một làn hơi.

Cụ Bà có lẽ vừa đi đâu đó, không có ở đây.

Bỗng cụ Phiệt cười lớn: “Nó đi chơi rồi. Có gọi cũng mỏi mồm thôi!”

***

Cụ Phiệt trợn mắt, hỏi Nhớ: “Con nào nó chịu ưng mày?”

Nhớ cười, vòng tay thưa: “Cô Quên tóc phết gót, da đen đít chảo, hôm đám giỗ Sư Ông ấy. Bố không trông thấy à?”

Cụ ngớ người: “Thế nhà nó ở đâu?”

Nhớ nói: “Con đẫn bố đi”

Cụ cười: “Thế mấy bữa rày vắng nhà là mày theo con Quên chắc?”

Nhớ gãi tai: “Dạ!”

Cụ lo lắng: “Mày nhịn đói mà sống à?”

Nhớ gãi cằm: “Cô quên có thức ăn”

Cụ cười to, lòng nhẹ nhõm. Nhớ có bạn gái, có vợ là một sự kiện trọng đại thứ nhì, sau sự kiện trọng đại phục hồi trí nhớ, đã nâng niềm vui to tát của cụ cao hơn: “Đại kiết. Đại kiết”

Cụ thay đồ tươm tất, xách dù đi theo Nhớ.

Khi ngang qua cánh rừng hoa Mua nở bạt ngàn, một màu đỏ thênh thang như chìm xuống. Đầu óc cụ tan ra, cũng chìm xuống theo màu đỏ của hoa.

Bỗng Nhớ bấm tay cụ: “Bố có ghé thăm Sư Ông Hòa Thượng một chút không? Chỗ Ngài ở gần đây”.

Cụ kinh ngạc: “Sao? Ngài ở gần đây à?”

Nhớ cười đáp: “Con mới được biết, do cô Quên dẫn đi”.

Cụ theo Nhớ rẽ vào tay trái. Đi suốt một hàng trúc màu vàng mát rượi, thì thấy một cái đồi. Dướùi tàn cây Mùa Cua vĩ đại, có một ngôi nhà nhỏ.

Cụ để ý suốt trên đường đi, không có lá rụng, hoa rụng. Cụ phân vân. Chả lẽ ở đây, lá hoa không héo, không tàn ư?

Như biết có khách, Sư Ông ra đón.

Cụ ngỡ ngàng khi thấy Sư Ông vẫn như xưa.

Vẫn đôi lông mày bạc trắng, da thịt hồng hào mát mẻ, vẫn tiếng nói cười rổn rảng.

Đạo đức nơi Sư Ông Đại Hòa Thượng hiện cả ra ngoài da thịt, đạo đức ấy nằm cả trong dáng đi, nơi vạt áo, trong tiếng nói tiếng cười, nơi ngón tay ngón chân... Đạo đức nơi Sư Ông, cụ có thể sờ nắn được hoặc xin đem về nhà.

Ngôi nhà Sư Ông thật đơn sơ, mái lợp tranh, vách bằng phên trúc. Sư Ông không có chùa nữa. Sư Ông sống như người thường.

Khi ngồi vào bàn (cái bàn là một gốc cây cổ thụ còn sống, nó ngã xuống, bằng phẳng một đoạn, rồi thân nó lại vươn lên, tỏa cành, tỏa lá), cụ Phiệt chắp tay nói: “Lâu quá tôi mới được hân hạnh gặp Ngài. Xin hỏi vô phép, đây phải chốn Niết Bàn không?”

Đại Lão Hòa Thượng cười to, vén áo gãi rốn: “Niết Bàn?” Ngài nhướng đôi lông mày bạc trắng, nói tiếp: “Ta từng nghe, từng cầu, nhưng chưa từng thấy, từng gặp. Còn chỗ này đây, chỉ là chỗ không tranh, không quyết, nên không hy vọng, cũng không thất vọng. Không có đạo đức hoặc vô đạo đức ở đây. Không có đau khổ cũng như sung sướng ở đây. Đây, chỉ là nơi thanh thản”.

Nói xong, Hòa Thượng nghiêng ống tay áo xuống bàn, rớt ra một hộp diêm quẹt đã cũ.

Hòa Thượng nhìn cụ, Ngài cười rổn rảng: “Lúc trước tôi cầm lộn cái diêm của cụ mà quên bẵng. Thằng Nhớ nhắc tôi mới hay. Nay xin gửi lại”. Ngài nhặt bao diêm đặt vào tay cụ, rồi vỗ vai, nói tiếp: “Ở đây, tôi không xài. Tôi không tụng kinh nữa, nên không cần ánh sáng. Ở đây tôi chỉ sống”.

Đại Lão Hòa Thượng ho mấy tiếng, rồi tiếp: “Thôi! Cụ đi thăm dâu tương lai của cụ đi. Tôi đi nghỉ”.

Cụ Phiệt rùng mình. Xương sống cụ như có luồng nước đá chạy qua.

Cầm hộp diêm quẹt nơi tay, cụ chắp tay cúi đầu chào Hòa Thượng, rồi bần thần quay gót.

Cha con cụ đi xuống đồi.

Cụ bảo Nhớ: “Sao ta muốn ở nơi này quá. Có con người mà như vắng con người. Tuyệt làm sao! Còn gió thì cứ đằng sau nương nhẹ ta tới. Đi hướng nào cũng thế”.

Bỗng Nhớ nắm tay cụ, kéo về phía phải: “Nhà Quên đây rồi”

Nhớ vừa nói xong, là cụ đã thấy mình ở trong nhà.

Ngôi nhà vắng lặng quá chừng, hoang sơ quá chừng! Hoa lan mọc lòng thòng trên tường, tỏa hương thoang thoảng.

Cụ hỏi: “Nhà cô Quên đây ư?”

Nhớ đáp: “Dạ vâng”.

Vừa lúc ấy cô Quên từ ngoài đi vào, mặc áo lam rộng, vai vác bó củi. Cô quăng bó củi xuống sân kêu “ầm”.

Cụ Phiệt giật mình nhìn ra cửa.

Cụ ngẩn người khi thấy con Ki sủa vang trong sân. lại có tiếng Cụ Bà từ bếp vọng lên: “Chó sủa ai thế? Ông ra xem nào?”

Cụ dụi mắt, thẫ

n thờ bưng tách trà uống dở, trà đã nguội lạnh.

Cụ buồn phiền: “Ta chưa gặp mặt con dâu, mà ra về rồi ư? Ta vội vã chuyện gì? Ta chưa xứng là Bố!”

Cụ lê gót vào giường nằm, nhìn lên trần, thấy có trách nhiệm mình lơ lửng ở đây, một trách nhiệm vô hình vô tướng mà cụ không tự hành động được, cách duy nhất để hoàn thành là chờ đợi và vâng lời. Trách nhiệm cưới vợ cho con.

Rồi cụ cười thầm, lẩm bẩm: “Gì gì đi nữa, thì thằng Nhớ đã coi mình là Bố và mình coi nó là con”.

Cụ bỗng thấy lòng thanh thản, khi biết tương lai con mình ổn định. Cụ lại cười: “Nó là con ta ở một chốn khác. Thằng Nhớ ấy, nó sắp có vợ là Quên”.

Rồi cụ tiếp: “Phải mời cả Sư Ông nữa”. Rồi cụ lại tiếp: “Như thế mới được”. Rồi cụ ngủ...










© tác giả giữ bản quyền.

.tải đăng theo nguyên bản tác giả gởi ngày 06.04.2008.