“Bốn chữ vàng: Khoan - Giản - An - Lạc
Đẹp lòng dân biến pháp canh tân”



    PHẦN I

CÚC BỒ TỤ NGHĨA
(Truyện Khúc Hạo)



    HỒI THỨ NHẤT



Khúc Thái công dâng lễ Nguyên Tiêu
Chu Toàn Dục hạch đòi ái nữ

Mùa xuân Ất Sửu (905) trên đất Giao Châu năm ấy sao mà thê thảm. Trong quận Nhật Nam, nước sông dâng ngập thành Vạn An, dân chúng mất nhà cửa và người chết trôi, chết vì đói rét không sao kể xiết. Ngoài quận Giao Chỉ, sâu bệnh cắn hại mùa màng, dịch tả, dịch hạch xuất hiện khắp nơi. Thành Đại La người ăn xin tứ xứ kéo về nằm vạ vật ở các chợ và các cổng làng. Chó hoang từng đàn kéo đi tha xác người, tranh ăn sủa loạn. Đêm đêm tiếng chim lợn kêu mang nhiều âm khí nghe rợn người...

Trong đám người lang thang, rách rưới từ quận Cửu Chân, quận Nhật Nam ra Bắc kiếm ăn tụ tập ở cửa Tây thành Đại La có một hảo hán cao to, mặt vuông chữ điền, miệng rộng, trán cao, lông mày lưỡi mác, lưng gài bảo kiếm. Chàng dắt theo một đàn ngựa chừng hơn chục con, rao bán mỏi mồm chẳng ai buồn ngó. Chàng chẳng bận tâm, luôn sẵn sàng chia xẻ miếng ăn, nước uống cho mọi người và hát:

Ngựa quý, ngựa quý hề
Này con vàng, con ô uy phong dũng mãnh
Quý vật tầm quý nhân hề
Linh mã đây rồi, đâu thánh nhân?
Ta đi gió hề, ta về mây
Lấy gươm làm gối, núi sông làm giường...

Nghe giọng nói, người ta đoán chàng là dân quận Cửu Chân, nhưng đàn ngựa lại thuần một nòi ngựa quý đất Quỳ, quận Nhật Nam. Chàng ở lẫn với đám người lang thang chừng vài hôm, hỏi đường đi Cúc Bồ và Phong Châu, sau đó không ai biết chàng đi đâu nữa. Tiểu thư Khúc Huyền và lão quản gia ở Khúc gia trang dưới huyện Ninh nghe tiếng tìm đến mua ngựa, thấy chàng bán ngựa có hành tung khác thường, chưa kịp gặp riêng hỏi chuyện thì chàng đã đi mất, đành thất vọng ra về.

Ở hương Cúc Bồ, huyện Ninh, cách thành Đại La chừng vài chục dặm, trong Khúc gia trang, Thái công Thừa Dụ sai gia nhân chuẩn bị lễ vật đem về thành Đại La chúc mừng quan Tiết độ sứ Chu Toàn Dục. Tết Nguyên Tiêu sắp đến, lệ cống không thể bỏ được, nhưng Thái công họ Khúc thấy lòng xót xa, buồn bực. Ngài tần ngần lật mở từng bồ cót đựng lễ vật, nhẩm tính số the lụa, gấm thêu này sẽ cứu được bao cụ già khỏi rét và số gạo nếp, gia cầm này sẽ nuôi được bao em bé đỡ lúc đói lả. Ấy là chưa kể vàng bạc, ngà voi và các lâm sản quí trên rừng như hồi, quế, sa nhân, nhựa trám, mật ong, vẩy tê tê... Biết bao đặc sản của phương Nam mà theo lệ bất thành văn thì các hào mục, phú hộ rải rác khắp 159 hương của Giao Châu đều phải tự hiểu để rồi dâng nạp cho Tiết độ sứ họ Chu mới mong có cơ yên ổn làm ăn. Lâu nay Thừa Dụ cảm thấy bất bình nhưng vẫn dằn lòng nén nhịn làm theo thông lệ. Kể từ mùa hè năm Giáp Tý (904), thiên tai dịch bệnh xảy ra nên tiết Trùng Cửu và Song Thập vừa rồi, Thừa Dụ đã tảng lờ phá lệ, gây nhiều tiếng xì xào trong đám nha lại ở thành Đại La. Nguyên Tiêu năm nay lúc đầu Ngài cũng không có ý định dâng lễ, nhưng người bạn thân là tiên sinh Phùng Hoạch khuyên rằng muốn gây nghiệp lớn phải biết nhẫn nhịn chờ thời đợi lúc. Thôi đành nhẫn nhịn theo gương Câu Tiễn, Ngài nghĩ vậy và liền sau tết Nguyên Đán cấp tập chuẩn bị lễ vật sao cho thật hậu hĩ. Mọi thứ đã xếp xong vào mười gánh đựng trong bồ cót, Thừa Dụ lại thảng thốt bàng hoàng thương đám dân lành trong huyện Ninh quê nhà. Chính họ nhận ruộng của Ngài vất vả làm lụng, quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho giời, đêm đêm cần mẫn quay tơ dệt lụa để nay công sức đổ vào mười gánh nặng lễ vật dâng cho gã họ Chu khác giống tanh lòng mang về phương Bắc. Giữa tiết xuân ấm áp, vườn mai trong Khúc gia trang trổ đầy hoa trắng muốt và thơm ngát mà sao Thừa Dụ thấy ngột ngạt, khó thở. Ngoài song, cánh én đang chao liệng đưa thoi dưới bầu trời xanh bao la. Thái công họ Khúc lảo đảo như người say, bước ra sân. Ngài nắm chặt tay vào gốc lão mai trước hiên nhà, dõi nhìn về xa xăm. Phía Tây, chân trời lờ mờ vệt núi Tản Viên khuất trong mây. Chợt Ngài cất giọng ngâm câu thơ của Đỗ Phủ:

Thuyền xoay giữa dòng gió ngược thổi
Trời đất gầm cho căm tức vợi

Gia nhân thấy sắc mặt Ngài tái nhợt bên gốc lão mai vội chia nhau kẻ chạy lại đỡ, người đi bẩm với công tử Khúc Hạo đang ngồi đọc sách ở thư phòng. Khúc công tử nghe tin hốt hoảng chạy ra dìu Khúc Thái công vào nhà. Miệng chàng lầm rầm những lời ái ngại vì cha chàng lâu nay suốt ngày bận bịu với công việc, không chịu giữ gìn sức khoẻ. Thực ra, với người già thì mệt trong tâm còn tác động mạnh gấp nhiều lần cái sự mệt mỏi của cơ bắp. Khúc Thái công tuy đã ngót 70 nhưng chưởng lực thâm hậu, vẫn đủ sức nhấc bổng bồ cót to đầy lễ vật kia ném ra xa vài trượng. Lúc này, con tim Ngài đang nhức nhối ray rứt về nỗi thống khổ của dân chúng. Ngài hận Chu Toàn Dục tận xương tuỷ, trách lây cả người bạn tâm giao Phùng Hoạch đã can ngăn, chưa đồng tình cho Ngài khởi sự tranh nền độc lập cho đất Giao Châu. Về điểm này Khúc Hạo hiểu thấu lòng cha, nhưng lại tán đồng ý kiến của Phùng tiên sinh. Chàng với Phùng Bảo Khanh con trai Phùng Hoạch thân thiết với nhau từ tấm bé. Cả hai đều theo học chữ Hán do Phùng Hoạch rèn cặp. Tác phong cẩn trọng, phong thái ung dung và cách nhìn thời cuộc của chàng và Bảo Khanh chịu ảnh hưởng sâu sắc của thầy giáo họ Phùng. Đã nhiều lần chàng và Bảo Khanh đàm luận về kế hoạch nổi dậy tranh nền tự chủ ở Giao Châu của Khúc Thừa Dụ. Cả hai đều nhất trí với Phùng Hoạch cần phải chuẩn bị kỹ về lực lượng hơn nữa và đợi cho dân chúng hai quận Cửu Chân và Nhật Nam đều một lòng với dân quận Giao Chỉ, nhất loạt phất cờ nổi dậy thì sự nghiệp mới vẹn toàn, nhanh chóng. Năm ngoái, nghe danh Dương Diên Nghệ ở quận Cửu Chân, chàng đã sai người vào liên hệ, mời tráng sĩ ra Cúc Bồ bàn bạc nhưng đến giờ vẫn chưa được gặp. Còn ở mạn Đường Lâm, thế lực gia tộc họ Ngô cũng rất lớn. Ngô Mân là tay kiếm thuật siêu hạng, sức khoẻ phi thường, rất có hiếu với mẹ. Ngặt vì mấy năm qua lão mẫu mang trọng bệnh, nằm liệt một chỗ nên cánh quân bên ấy chưa thể yên tâm vào cuộc. Kế hoạch nổi dậy của nghĩa quân rất cần Ngô Mân tham gia tạo mũi vu hồi phía Tây, đánh thọc sườn vào viên mãnh tướng Trình Lục, thuộc hạ tâm phúc và đắc lực của Chu Toàn Dục. Ngô Mân còn đang rối trí như vậy, lỡ xảy ra sơ suất nhỏ sẽ bị Trình Lục đẩy lùi hoặc ngăn chặn không cho phối hợp kịp thời với nghĩa quân ở huyện Ninh và các nơi khác... Thừa Dụ nôn nóng muốn thực thi nhanh kế hoạch khởi nghĩa, nhờ có tiên sinh Phùng Hoạch can ngăn, lại được thêm Bảo Khanh có tài thuyết phục nên Thừa Dụ mới chịu nghe theo, miễn cưỡng đem lễ vật vào thành Đại La, ra mắt Tiết độ sứ Chu Toàn Dục.

Khúc Hạo đỡ cha nằm trên sập gỗ, lòng bồi hồi thương cảm. Các gia nhân trung thành đem thuốc ngâm rượu lại, tất bật xoa bóp rồi đắp chăn cho chủ nhân. Chàng ngồi bên mép sập đăm chiêu suy nghĩ. Chợt Thừa Dụ xoay người, cầm tay con trai hỏi nhỏ:

- Phùng tiên sinh và công tử Bảo Khanh hẹn đến đây tiễn ta đi Đại La, sao giờ này chưa thấy?

- Bẩm, có lẽ họ cũng sắp tới. Tiên sinh là người cẩn trọng, chưa sai hẹn bao giờ.

- Lúc này đương giờ Mão, đầu giờ Tỵ ta sẽ lên đường.

- Thưa vâng. Mọi việc con đã sai người chuẩn bị chu đáo, duy có người bảo vệ là chưa chọn được ai, khiến con lo ngại.

- Không cần. Ta một mình với chiếc quạt lụa vào dinh Tiết độ sứ cho chúng nể sợ và không nghi kỵ. Khúc Huyền đâu rồi?

- Bẩm, con đã sai hiền muội Khúc Huyền đi đón Phùng tiên sinh và Bảo Khanh từ sáng sớm.

- Nó có mang kiếm theo để hù doạ Bảo Khanh không?

- Có mặt tiên sinh Phùng Hoạch, chắc hiền muội không dám thất lễ.

- Bảo Khanh tuy kiếm thuật kém Khúc Huyền nhưng là người trí tuệ uyên bác, tinh thông cả tam giáo, am hiểu binh pháp, đáng gọi là nhân tài của phương Nam. Trời sinh ra nó để ngồi trong trướng bày mưu hiến kế cho chủ soái, đâu cần phải múa gươm mới là hảo hán. Con nên lựa lời khuyên bảo Khúc Huyền thuần nết bớt đi, chớ để cho Bảo Khanh mếch lòng.

- Thưa vâng. Phụ thân đi lần này lành ít dữ nhiều, xin nhớ bảo trọng. Việc lớn ở Khúc gia trang, con và Bảo Khanh sẽ bàn bạc thấu nhẽ mới làm, quyết không để xảy ra sai sót.

- Có Bảo Khanh bên con thì cha yên tâm rồi.

Hai cha con cùng lặng đi hồi lâu. Khúc Thái công khẽ mỉm cười, nghĩ về cuộc nhân duyên của đôi trẻ Khúc Huyền và Phùng Bảo Khanh. Ngài rất hài lòng với chàng rể tương lai, dự định sau khi ở Đại La về sẽ bàn thêm với tiên sinh Phùng Hoạch, định ngày cử hành hôn lễ. Luật cai trị nhà Đường cấm dân tụ họp đông người nếu chưa được phép của quan lệnh uý huyện Ninh. Đám cưới của đôi trẻ sẽ là cơ hội tốt để Ngài mời hào kiệt các nơi về Khúc gia trang họp bàn việc đại nghĩa. Thừa Dụ đặt tay lên vầng trán ưu tư, thầm ôn lại diễn biến một trăm năm đã qua. Năm Nhâm Ngọ (802), vua Phùng An nối nghiệp Phùng Hưng vừa được hai mùa xuân thì bị tướng Triệu Xương nhà Đường đem binh sang đánh bại, Giao Châu lại một phen chìm trong biển máu. Nhưng kể từ ấy, lòng người đã không còn cam chịu khuất phục nữa rồi. Quan cai trị Lý Trác suốt 10 năm hoang mang chống đỡ với hào kiệt khắp nơi nổi dậy. Đến thời Khâu Hòa rồi Cao Biền sang thay Lý Trác đã cho đắp thành Đại La, biên chế lại 24 huyện của ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và cử người xuống giám sát 159 hương mà vẫn chập chờn lo sợ. Thừa Dụ nhớ lần cùng Phùng Hoạch đàm đạo về cách cai trị Giao Châu của Cao Biền thời ấy. Hai người đều ghi nhận thủ đoạn làm sổ dân đinh, sổ lính thú và đặt mức thuế má, cống nạp về tận 159 hương của Cao Biền là rất khôn ngoan. Nhưng sự hà khắc của họ Cao đã nuôi sẵn mầm cho sự phản kháng. Dân chúng tạm yên là để chờ thời và trên thực tế chưa bao giờ sự cai trị của họ Cao với tới các hương, còn cấp quận, huyện cứ rệu rạo dần. Khi Cao Biền vừa chết, Tiết độ sứ Tăng Cổn tham lam, bất tài nên lập tức dân Nam đồng loạt nổi dậy. Năm Canh Tý (880) Tăng Cổn hoảng sợ đã phải bỏ chạy về Bắc. Tiếc rằng thời ấy phương Nam ta chưa có ai đủ uy tín, tài đức để tập hợp các hào kiệt đang ầm ầm nổi loạn. Giao Châu bỗng thành vô chủ, mỗi hào kiệt cát cứ một nơi, nên năm Nhâm Tý (892), hoàng đế nhà Đường lại cử Chu Toàn Dục sang cai trị Giao Châu. Thừa Dụ còn nhớ rất rõ cái năm Nhâm Tý đó, Ngài đã toan tập hợp dân binh ở Cúc Bồ tiến vào Đại La đuổi Toàn Dục về nước, nhưng Phùng Hoạch hết sức can ngăn. Giờ nghĩ lại cái lần nhất thời bồng bột, Ngài càng thêm yêu mến, cảm phục người bạn tâm giao, càng muốn kết tình thông gia giữa hai họ...

Đã sang giờ Thìn, Thừa Dụ cảm thấy sốt ruột, vừa lúc ái nữ Khúc Huyền hớn hở chạy vào báo tin cha con Phùng Hoạch đang ngồi chờ ngoài phòng khách. Ngài vội đứng dậy sửa lại khăn áo theo Khúc Huyền ra ngoài. Đôi bên thi lễ xong, Phùng Hoạch cầm tay Thừa Dụ ân cần hỏi:

- Tiểu đệ nghe nói huynh trong mình không được khoẻ?

- Ta có sao đâu! Tiên sinh đến chậm thế?

- Tiểu đệ đi giữa đường gặp người bán thanh đoản đao quý, chém sắt như bùn nên nán lại mua tặng huynh mang đi Đại La, có thể giấu kín trong người phòng khi có biến.

- Tiên sinh đã có lòng thì ta xin nhận, nhưng ta định sẽ tay không vào dinh Tiết độ sứ cho tỏ mặt anh hùng, cần gì mang đao kiếm bên mình, một chiếc quạt lụa cũng đủ.

- Tiểu đệ muốn thử xem huynh đi chuyến này có ung dung thanh thản trong lòng hay không đó thôi - Phùng Hoạch cười lớn - Huynh gặp Chu Toàn Dục cần hết sức mềm mỏng, phớt lờ mọi sự chướng tai gai mắt, hắn nói gì huynh cũng chỉ nên ậm ờ bỏ ngoài tai, chớ để lộ ý gì chống đối.

- Vì sao phải như vậy?

- Thời cơ khởi sự đã đến. Em trai Toàn Dục là Toàn Trung chuẩn bị cướp ngôi nhà Đường nay mai. Phương Bắc chắc chắn sẽ loạn, còn ở phương Nam Toàn Dục càng dương dương tự đắc. Sự ngu đần, tham lam và mê tửu sắc của hắn cả xứ Giao Châu này ai cũng biết. Huynh cần cho đứa ngu ấy cảm thấy phương Nam sẵn sàng thần phục nhà Lương lên thay nhà Đường. Chu Toàn Trung đã có thời làm Tiết độ sứ cai quản vùng đất Ngô - Việt, bao gồm cả xứ Giao Châu nên ta có cớ để nói rằng hào kiệt phương Nam chỉ biết có Toàn Trung, không cần biết hoàng đế nhà Đường. Kẻ võ biền, ngu độn như Toàn Dục sẽ lầm tưởng Giao Châu trong tay hắn vững như bàn thạch. Việc binh cốt ở sự bất ngờ, ta mài gươm mà địch ngỡ ta so dây gảy đàn mới là thượng sách.

- Nếu vậy thì tốt rồi - Quay sang phía Khúc Hạo và Bảo Khanh, Ngài hỏi tiếp - Đã cho mời Ngô Mân bên mạn Đường Lâm sang đây chưa?

- Bẩm bá phụ, cháu vừa ở bên đó về đêm qua - Bảo Khanh sốt sắng thưa - Được biết cháu thay mặt bá phụ và Khúc công tử sang chịu tang Ngô mẫu nên Ngô Mân rất cảm động. Họ Ngô hứa sẽ sang đây đáp lễ và dự bàn việc đại nghĩa.

- Lực lượng và khí thế ở Đường Lâm ra sao?

- Khoảng ba ngàn nghĩa sĩ, thảy đều lực lưỡng, giỏi võ, náo nức chờ ngày theo Khúc Thái công và nghĩa binh ở Cúc Bồ khởi sự. Cháu với công tử Khúc Hạo đều đã vài lần giáp mặt Ngô Mân. Người này tuy nóng nảy nhưng nổi tiếng trung hiếu, giàu lòng nghĩa hiệp, sẵn sàng vét bát gạo cuối cùng đem cho kẻ khốn khó. Nay việc tiểu hiếu đã lo liệu chu toàn, cho phép Ngô Mân thoả sức tung hoành làm việc đại hiếu với non nước Giao Châu. Dân Đường Lâm có câu: sông Tích còn nước thì họ Ngô còn anh hùng tranh nền độc lập theo gương Bố Cái Đại Vương. Đường Lâm quả không hổ danh là chốn địa linh nhân kiệt.

- Thế còn việc liên hệ với Dương Diên Nghệ trong quận Cửu Chân? - Thừa Dụ quay sang hỏi Khúc Hạo.

- Bẩm, đã có tin họ Dương một mình ra Giao Chỉ, nhưng người này võ công cao cường, hành tung bí ẩn theo lối hiệp khách giang hồ, nên con chưa dám chắc khi nào Diên Nghệ có mặt ở Khúc gia trang.

- Tài của Diên Nghệ so với Ngô Mân cao thấp thế nào?

- Về sức lực Ngô Mân có phần trội hơn, còn võ nghệ thì họ kẻ kiếm người côn khó so cao thấp. Nếu xét về bản lĩnh, Ngô Mân có uy nên dễ tập hợp lực lượng quanh mạn Đường Lâm và các hương, huyện phía Tây thành Đại La; Diên Nghệ có đời sống giang hồ, thoắt ẩn thoắt hiện, giao du với hào kiệt khắp nơi nên có tầm nhìn xa, trông rộng.

Phùng Hoạch ngước nhìn bóng nắng đoán sắp sang giờ Tỵ liền đưa mắt cho Thừa Dụ, rồi cùng lui vào trong thư phòng bàn bạc. Hai người thì thầm phác qua những việc cần chuẩn bị tiếp trong lúc Khúc Thái công vắng nhà. Sau đó, Thừa Dụ gọi Khúc Hạo, Khúc Huyền, Bảo Khanh vào thư phòng giao việc cho từng người. Ngài còn trao cho Khúc Huyền cất giữ thanh đoản đao Phùng Hoạch vừa mua tặng, mỉm cười một cách bí ẩn. Đám gia nhân gồm hai chục người cao to, đen bóng như đồng hun được lệnh lên đường thay nhau quẩy mười gánh lễ vật. Khúc Hạo đỡ cha trèo lên lưng con ngựa bạch. Mọi người tần ngần im lặng tiễn đưa Khúc Thái công một đoạn đường qua chợ Cúc Bồ. Riêng nàng Khúc Huyền thẫn thờ tựa vào hiên nhà, đỏ mắt dõi nhìn theo đoàn người khuất dần sau luỹ tre. Nàng không dám đưa tiễn, sợ mình sẽ bật khóc làm Thái công rối ruột...

***

Đêm Nguyên Tiêu ở thành Đại La năm nay chẳng mấy nhộn nhịp mà có phần buồn tẻ. Người phương Nam vốn thờ ơ với tục lệ ăn mừng lễ Nguyên Tiêu về đêm của người phương Bắc. Họ lấy ngày rằm tháng riêng là dịp đi lễ chùa cầu Phật ban phúc lành, vận may vào lúc thanh thiên bạch nhật chứ không tiệc tùng, trảy hội vào đêm như các binh lính hay dân di cư người Hán, người Choang. Từ thời Cao Biền sang cai trị Giao Châu đem theo nhiều phong tục phương Bắc khuyến khích dân Nam làm theo, nhưng chỉ có các nhà giàu miễn cưỡng hưởng ứng, còn bách tính đa số vẫn dửng dưng. Nguyên Tiêu này người ăn xin quá đông, trộm cướp cũng nhân cơ hội trà trộn vào đó, cho nên các cao lâu, tửu quán và các nhà buôn giàu có đều lo sợ, đóng cửa rất sớm. Phố phường vì thế im lặng, tối mù như bãi tha ma. Đèn lồng chỉ thấy lác đác treo ở trại lính , duy nhất một nơi đèn lồng rực rỡ treo cao, khách khứa ra vào tấp nập là dinh quan Tiết độ sứ Chu Toàn Dục.

Khúc Thừa Dụ đến nơi thì trời vừa nhá nhem tối. Mười gánh lễ vật của Ngài phải qua mấy chặng lính canh săm soi lục soát. Đã thế, Ngài còn phải chen lấn chầu chực ở cổng, chờ viên nha lại người Hán ra xướng danh, điểm mặt mới được vào dâng lễ, dự tiệc. Ở huyện Ninh, quan lệnh uý biết uy danh của Ngài, chưa dám một lần xúc phạm. Thế nhưng ở đây, một viên nha lại quèn trong dinh Tiết độ sứ ỷ thế Chu Toàn Dục, chưa có vài nén bạc lót tay nó vẫn tảng lờ, xem Ngài bằng nửa con mắt. Nếu không vì nghiệp lớn nay mai, không có lời khẩn cầu tha thiết của Phùng Hoạch trước lúc lên đường, có lẽ Ngài đã quay về Cúc Bồ. Dân gian có câu “không sợ quan chỉ ngại quản” làm hỏng việc, thôi đành thí cho viên nha lại muỗi tép này ba đĩnh bạc, Ngài nghĩ vậy và đưa mắt ra hiệu cho người tuỳ tòng...

Quan khách dự lễ rất đông, nhưng tướng Trình Lục – thuộc hạ thân tín của Chu Toàn Dục - vẫn nhận ra Khúc Thừa Dụ giữa hơn trăm người ngồi kín hai dãy bàn tiệc. “Người này học vấn cao minh, danh tiếng vang khắp quận Giao Chỉ, sao lũ sai nha lại sơ suất, để ông ấy ngồi tận cuối dãy!” – hắn nghĩ thầm. Quan lệnh uý huyện Ninh đã mấy lần bẩm trình lên rằng cần để mắt đến họ Khúc ở hương Cúc Bồ. Trong Khúc gia trang có hẳn một khu đất rộng để gia nhân và trai tráng trong hương luyện tập võ nghệ, lại thu nạp được nhiều môn khách đều có võ công hay văn tài từ các nơi tìm đến. Trình Lục đã từng có lần sai thuộc hạ cải trang thành toán cướp, nửa đêm đột nhập vào Khúc gia trang thăm dò hư thực, đều bị cha con Thừa Dụ và môn khách đánh cho tơi tả. Xem ra thế lực họ Khúc không dễ gì trấn áp, chỉ nên lôi kéo theo về phò tá họ Chu. Hiềm nỗi đại nhân Toàn Dục chỉ mải mê yến tiệc, hoan lạc cùng gái đẹp, phó mặc công việc cai trị cho lũ tay chân ngu muội, tham lam nên mới xảy ra sự thất thố này với Thừa Dụ trong buổi lễ Nguyên Tiêu mừng xuân Ất Sửu. Trình Lục ghé tai thì thầm với Toàn Dục rồi đứng dậy lại gần Thừa Dụ, gọi người mang rượu đến rót đầy hai chén lớn.

- Lâu nay nghe danh Thái công họ Khúc, giờ mới có duyên hạnh ngộ, Trình Lục xin mời ông cạn chén.

- Không dám, không dám... Kẻ thảo dân quê mùa nơi Cúc Bồ tôi xin chúc tướng quân Trình Lục an khang thăng tiến để tỏ lòng ngưỡng mộ.

- Trình Lục tôi được lệnh đưa Thái công vào nhà trong chuyện trò cùng quan Tiết độ sứ.

- Nếu được vậy thì thật vinh hạnh cho kẻ thảo dân này lắm lắm. Mời tướng quân đi trước.

Thừa Dụ theo gót Trình Lục bước vào phòng, thận trọng quan sát xung quanh rồi cung kính vái chào Chu Toàn Dục. Ngài ngước nhìn khuôn mặt trì độn, nhão nhoét vì tửu sắc của quan Tiết độ sứ, thấy yên tâm và mừng thầm.

- Họ Khúc lập nghiệp ở Cúc Bồ đã lâu đời, giàu có nhất huyện Ninh, sao cống vật mỗi năm một thưa thớt, đạm bạc làm vậy? - Toàn Dục hỏi.

- Bẩm sứ quân, năm ngoái huyện Ninh mất mùa, dân tình khốn khổ, Thừa Dụ tôi không nỡ thu tô nên mới đắc tội mảng quên cống vật, xin sứ quân niệm tình cho thảo dân năm nay sẽ bù đắp, không dám đơn sai.

- Thái công nên bẩm “đại vương” thay cho hai chữ “sứ quân” được rồi - Trình Lục đỡ lời - Mọi người đều bẩm như vậy từ tiết Trùng Cửu năm ngoái, Thái công chưa biết sao?

- Vậy Thừa Dụ xin chúc mừng đại vương vừa được thiên tử hạ chiếu phong tước. Đường triều Hoàng đế vạn tuế! Chu đại vương thiên tuế, thiên thiên tuế!

- Khí số nhà Đường đã sắp hết. Nhị đệ của ta là Chu Toàn Trung sớm muộn cũng theo mệnh trời lên thay nhà Đường làm chủ Trung Nguyên, nên dân Nam suy tôn ta làm đại vương đó thôi - Toàn Dục chữa lại.

Khúc Thừa Dụ khẽ mỉm cười thích thú vì trò chơi chữ vừa rồi của mình đã khôn khéo lật tẩy được ý đồ tiếm vị của Toàn Dục mà vẫn tâng bốc họ Chu. Ngài đưa mắt thăm dò sắc mặt của Trình Lục, thấy viên tướng mưu lược này vẫn thản nhiên cười nói. Ngài chưa rõ kết cục buổi trò chuyện sẽ xoay về hướng nào, chỉ thấy Trình Lục thao thao ca ngợi công lao và thế lực của anh em nhà họ Chu. Xem ra tham vọng của Toàn Dục là muốn xưng vương thâu tóm cả vùng Ngô - Việt, lúc ấy chức Tiết độ sứ cỏn con ở Giao Châu đương nhiên về tay Trình Lục. Viên tướng này quả đã khôn ngoan tính sẵn nước cờ “ngư ông đắc lợi”. Có lẽ vì vậy nên Trình Lục muốn lôi kéo Ngài và hào kiệt phương Nam theo mình chăng? Thày trò họ tối mắt vì say khát quyền lực, đã đánh giá sai nội tình dân chúng ở Giao Châu, càng có lợi cho nghiệp lớn của nghĩa binh Cúc Bồ đang mài gươm chờ ngày rửa hận. Chuyện trò đưa đẩy hồi lâu, Trình Lục gợi ý:

- Đại vương đang có ý nhờ Khúc Thái công tìm giúp người nâng khăn sửa túi để nay mai ngồi vào ngôi vương hậu.

- Việc này quá sức của thảo dân. Vả chăng đại vương đã có hàng trăm thê thiếp trong nội phủ, khó gì không chọn được lấy một người xứng ngôi vương hậu.

- Ta nghe nói Khúc gia trang có ái nữ đẹp người đẹp nết, không rõ ý Thừa Dụ thế nào? - Toàn Dục hỏi sẵng.

- Bẩm đại vương, tiểu nữ còn non nớt, lại vụng dại quê mùa, đến làm dâu trong đám dân quê ở Cúc Bồ e còn chưa xong, vào thành Đại La sao được.

- Lệnh nữ tên gì? Bao nhiêu tuổi? - Toàn Dục cau mày.

- Bẩm đại vương, tiểu nữ vừa tròn đôi tám, tên Khúc Huyền.

- Ta sẽ cho ngươi làm thái thú quận Giao Chỉ hay Nhật Nam, tuỳ ngươi chọn lựa. Hẹn một tuần trăng đưa nàng Khúc Huyền lên xe hoa về Đại La. Cứ thế nhé! Ta đang bận tiếp khách.

Chu Toàn Dục nói dứt lời bèn rũ áo đứng dậy ra phòng ngoài tiếp khách. Trình Lục nán lại tìm cách thuyết phục Khúc Thừa Dụ. Việc này thành công, họ Trình chẳng những có công với họ Chu mà còn kết thân được với họ Khúc, mở rộng thanh thế của Trình Lục ở Giao Châu. Nếu việc không thành sẽ là cớ trừ diệt họ Khúc để ngừa hậu hoạ. Thừa Dụ đoán được dã tâm ấy của viên tướng họ Trình, ngài tìm cớ thoái lui rồi quay về quán trọ nghỉ ngơi, suy tính. Đêm đó Ngài trằn trọc mong trời mau sáng. Chưa lúc nào Ngài khao khát có Phùng Hoạch bên mình như đêm Nguyên Tiêu năm Ất Sửu...



... CÒN TIẾP...








© tác giả giữ bản quyền.

.tải đăng theo nguyên bản tác giả gởi ngày 27.03.2008.